TIN TỨC

Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-04-24 15:00:15
mail facebook google pos stwis
68 lượt xem

Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời. Từ nhạc sĩ Trương Quang Lục, Nghệ sĩ Nhân dân Trà Giang đến những vị tướng từng đi qua chiến tranh, “Nhị vị tiền bối” là lời tri ân lặng lẽ mà sâu sắc của một người trong cuộc – khi nhìn lại những giá trị tinh thần vẫn còn tiếp tục lan tỏa đến hôm nay.

TRẦN THẾ TUYỂN

NHỊ VỊ TIỀN BỐI (I)

Từ thuở học sinh, tôi đã yêu thích ca khúc Vàm Cỏ Đông của nhạc sĩ Trương Quang Lục. Năm 1969, trước ngày nhập ngũ, trong vai trò quản ca lớp 10A, tôi được bạn bè tín nhiệm trình bày ca khúc này. Nhiều năm sau, từ 1972 đến 1989, tôi cùng đồng đội chiến đấu dọc tuyến biên giới Tây Nam – nơi hai dòng sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây hiện diện như những chứng tích sống động của một thời lửa đạn.

Năm 2008, tôi về công tác tại Báo Sài Gòn Giải Phóng, nơi nhạc sĩ Trương Quang Lục từng là Trưởng ban Khoa giáo. Mới đây, tại Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh, gặp lại ông ở tuổi chín mươi ba, vẫn minh mẫn và tâm huyết, tôi càng cảm nhận rõ hơn mối liên hệ bền chặt giữa văn học và âm nhạc. Ông chia sẻ: “Nhờ các nhà văn, nhà báo có lời, chúng tôi mới có thể sáng tạo nên những ca khúc đi vào cuộc sống”.

Tác giả với NS Trương Quang Lục.

Từ câu chuyện ấy, nhớ đến nhà thơ Hoài Vũ – tác giả bài thơ Vàm Cỏ Đông – có thể thấy sự gặp gỡ giữa thi ca và âm nhạc đã tạo nên một tác phẩm sống cùng năm tháng. Đáng chú ý, khi phổ nhạc bài thơ này, nhạc sĩ Trương Quang Lục chưa từng gặp tác giả. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, hai ông cùng công tác tại Báo Sài Gòn Giải Phóng – môi trường báo chí đã góp phần kết nối, lan tỏa những giá trị văn học nghệ thuật đến công chúng.

Cũng trong mạch nguồn ấy, cuộc gặp lại Nghệ sĩ nhân dân Trà Giang – một trong những gương mặt tiêu biểu của điện ảnh cách mạng Việt Nam – gợi nhiều suy ngẫm. Là người con Quảng Ngãi, vùng đất Núi Ấn sông Trà, bà không chỉ ghi dấu ấn qua các vai diễn mà còn để lại hình ảnh một nghệ sĩ giàu nội lực sáng tạo. Những năm sau 1990, khi tham gia Ban giám khảo cuộc thi “Người đẹp xứ Dừa” tại Bến Tre, bà cùng các nghệ sĩ tên tuổi như Nghệ sĩ nhân dân Trần Minh Ngọc đã góp phần tôn vinh vẻ đẹp văn hóa, con người Nam bộ.

Tác giả với NSND Trà Giang.

Điều đọng lại sâu sắc là tình cảm và nguồn cảm hứng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại trong tâm hồn người nghệ sĩ. Nghệ sĩ nhân dân Trà Giang nhiều lần vinh dự được gặp Bác, và chính từ đó, bà không chỉ thêm vững vàng trên con đường nghệ thuật mà còn tìm thấy nguồn cảm hứng bền bỉ trong hội họa.

Kỷ niệm năm mươi mốt năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, nhìn lại những cơ duyên gặp gỡ và cống hiến của hai gương mặt tiêu biểu trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, càng thêm trân trọng những giá trị tinh thần đã góp phần làm nên chiều sâu văn hóa của dân tộc trong và sau chiến tranh.
 

NHỊ VỊ TIỀN BỐI (II)

Trong kháng chiến chống Mỹ, tôi không trực tiếp là cán bộ dưới quyền ông. Năm 1974, tôi công tác tại ban tuyên huấn trung đoàn, khi ấy ông là Sư đoàn trưởng, thay ông Út Liêm được điều động lên làm Phó Tư lệnh Binh đoàn 232.

Mối gắn bó thực sự giữa tôi và ông chỉ bắt đầu khi tôi về công tác tại Báo Quân đội Nhân dân, lúc đó ông là Tư lệnh Quân đoàn 4. Thầy trò gặp nhau, câu chuyện dường như không bao giờ dứt. Không chỉ bởi tôi từng là người lính dưới quyền ông trong Chiến dịch Hồ Chí Minh – chiến dịch kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ kéo dài hàng chục năm – mà còn bởi giữa chúng tôi có một sự đồng cảm sâu sắc về nhân tình thế thái.

Tác giả với Thiếu tướng Vũ Văn Thược và Trung tướng Lê Nam Phong.

Tôi chỉ là lớp con cháu, nhưng ông luôn gọi tôi một cách thân tình là “ông nhà báo”. Ông là Thiếu tướng Vũ Văn Thược, nguyên Sư đoàn trưởng Sư đoàn 5, nguyên Tư lệnh Quân đoàn 4.

Vị tiền bối thứ hai tôi muốn nhắc đến là Trung tướng Lê Nam Phong, nguyên Tư lệnh Quân đoàn 1, nguyên Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân 2.

Khi ông Vũ Văn Thược làm Sư đoàn trưởng Sư đoàn 5 thì ông Lê Nam Phong là Sư đoàn trưởng Sư đoàn 7. Đó là hai vị sư đoàn trưởng lừng danh, không chỉ được cán bộ, chiến sĩ kính trọng mà còn khiến đối phương khiếp sợ. Khi ấy từng lan truyền tin đồn, phía địch treo thưởng hàng chục nghìn đô la Mỹ cho ai lấy được “thủ cấp” của hai vị sư đoàn trưởng này.

Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh cách đây năm mươi mốt năm, trong đội hình Binh đoàn 232 do ông Năm Ngà làm Tư lệnh, ông Út Liêm làm Phó Tư lệnh, ông Năm Thược chỉ huy Sư đoàn vượt qua “cánh đồng chó ngáp” từ biên giới tiến về giải phóng thị xã Tân An. Sau khi giải phóng Đà Lạt, ông Lê Nam Phong chỉ huy Sư đoàn 7 bôn tập dọc Quốc lộ 20, bao vây và tiến công Xuân Lộc – “cánh cửa thép” phía đông Sài Gòn.

Hai cánh quân của hai ông đã gặp phải sự chống trả quyết liệt. Hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh ngay trước giờ toàn thắng.

Lịch sử có những trớ trêu. Sư đoàn 7 của ông Lê Nam Phong được giao nhiệm vụ cắm cờ trên Dinh Độc Lập. Nhưng trong khoảnh khắc quyết định, một đơn vị của Quân đoàn 2 đã đến sớm hơn và cắm cờ trên nóc dinh – sào huyệt cuối cùng của chế độ cũ. Đến chiều ngày 30 tháng 4 năm 1975, đơn vị đầu tiên của Sư đoàn 7 mới tiến vào.

Ảnh 4: Với Trung tướng Lê Nam Phong

Nhận bàn giao từ Quân đoàn 2, Sư đoàn trưởng Lê Nam Phong chỉ cười, nói giản dị: “Không sao. Các đồng chí đến sớm thì cắm cờ trên cao. Chúng tôi đến muộn một chút thì cắm cờ dưới sảnh. Quân giải phóng cắm được cờ trong thời khắc lịch sử là tốt rồi.”

Vị tướng được mệnh danh là “ông Năm Lửa” ấy cũng có những phút mềm lòng. Có lần đứng trước Tượng đài Chiến thắng Xuân Lộc, ông rơi nước mắt và nói: “Tôi còn nợ các bà mẹ, các gia đình liệt sĩ nhiều lắm. Tại nơi này, hàng nghìn anh em đã hóa thân vào đất đai Tổ quốc. Không biết bao giờ chúng ta trả được món nợ này.”

Hai vị tiền bối, hai vị tướng, hai người lính từng đi qua Điện Biên, nay đã về với tổ tiên. Tại Nghĩa trang Thành phố Hồ Chí Minh, hai ông nằm cạnh nhau, như vẫn tiếp tục sát cánh bên nhau sau mấy chục năm binh nghiệp dưới ngọn cờ của quân đội nhân dân.

Mỗi lần đến viếng, tôi không quên mang theo một chai rượu đế. Rót rượu mời hai ông, tôi như thấy ánh mắt quen thuộc ấy nheo lại, ấm áp và hóm hỉnh: “Ông nhà báo quân đội có gì mới không? Món nợ của chúng ta thì không bao giờ trả hết…”

Thành phố Hồ Chí Minh, những ngày cuối tháng Tư năm 2026.

TTT

Bài viết liên quan

Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm
Những con đường ký ức - Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Những con đường của Hội An là những sợi máu trong tôi. Chúng đã đi qua thời gian, chịu đựng bao thác ghềnh, nhiều lúc ngỡ tan biến như những bào ảnh của lãng quên để rồi cuối cùng vẫn lặng lẽ cất lên tiếng nói mơ hồ của ký ức, nhắc rằng đó là một phần không thể thiếu trong tôi.
Xem thêm
Làm du lịch từ lò gạch Sa Đéc xưa
Vào dịp tết Nguyên đán hàng năm, cứ từ 20 tháng chạp đổ lên, người miền Nam lại lũ lượt tìm về vãn cảnh nhà vườn hoa kiểng Tân Quy Đông (Sa Đéc- Đồng Tháp). Cạnh bên Tân Quy Đông là vùng đất Tân Quy Tây bạt ngàn vườn ruộng được bồi đắp phù sa quanh năm bởi con sông Tiền hiền hoà quê kiểng. Lớp phù sa dày dặn bám trên đồng ruộng lâu năm trở thành lớp đất nâu non (đất sét) dẻo quẹo, là loại nguyên liệu rất tốt để người địa phương nung gạch xây dựng các công trình.
Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm
Viết cho tuổi hai mươi: giữa chênh vênh và hoài bão – Tản văn Phạm Phúc Vinh
“Tuổi hai mươi giống như một cơn mưa rào mùa hạ. Người ta vừa sợ ướt áo, lại vừa muốn đằm mình vào cái mát lạnh của đất trời. Chênh vênh đó, nhưng cũng rực rỡ vô cùng.”
Xem thêm
Thấy gì sau những chiếc xe hút đinh tự nguyện – Tạp bút Trần Đôn
Trong dòng chảy hối hả của giao thông đô thị, đôi khi ta bắt gặp hình ảnh những chiếc xe tự chế gắn thanh nam châm miệt mài rà sát mặt đường để “giải cứu” người đi đường khỏi nạn “đinh tặc”. Hình ảnh ấy đã trở nên quen thuộc ở nhiều nơi.
Xem thêm
Sắc hoa tháng Ba ở Điện Biên - Tản văn Phan Anh
Thời bây giờ, hoa ban không còn là loài hoa độc quyền của Tây Bắc nữa. Người ta đã nhân giống và đưa cây ban về trồng ở khắp mọi nơi. Chỉ riêng ở Hà Nội, cứ mỗi độ xuân về, trong hơi ấm của nắng mới tháng ba, trên đường Điện Biên Phủ, Hoàng Diệu, Thanh Niên, Bắc Sơn, công viên Cầu Giấy, hồ Gươm, hồ Thiền Quang, hồ Tân Xã … người ta thấy nàng công chúa của xứ sở Tây Bắc tưng bừng bung nở trên các vòm cây, đua nhau khoe sắc ngập trời, rồi thoang thoảng gửi hương vào trong không gian êm dịu của mùa xuân; khiến cho chị em không khỏi xốn xang, quên cả cái tiết trời còn chưa hết gió lạnh lẫn mưa bụi mà nô nức sửa soạn áo váy, rủ nhau đi sống ảo làm cho phố phường những nơi ấy cũng trở nên vui tươi, náo nhiệt.
Xem thêm
​Đám rau mùi già tháng Giêng của mẹ - Tạp bút Lê Thị Hiệp
Là một người rất thích rau mùi(người miền Nam gọi là ngò rí) nên mẹ tôi ngay từ lúc còn trẻ cho tận tới nay khi đã về già, bà vẫn luôn duy trì thói quen gieo trồng loại rau gia vị cực kỳ ngon và có mùi thơm vô cùng hấp dẫn này. Mẹ tôi kể rằng, từ khi lấy bố về làm dâu nhà ông bà nội tôi, thì mảnh vườn sau nhà rộng rãi, dẫu có trồng loại rau gì đi chăng nữa thì mẹ vẫn luôn dành ra một khoảng đất màu mỡ gần ngay khu vực cầu ao để gieo trồng rau mùi.
Xem thêm
Chân Mây 3 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Anh kể: Một hôm đang trong cơn tuyệt vọng. Anh cố gượng dậy cho mấy con cá nhỏ trong bể ăn. Bỗng nhiên anh thấy viên cuội lấp lánh đáy bể và chợt nhớ ra. Hôm ở đảo Hòn Dáu anh có nhặt một viên cuội ở bãi biển. Viên cuội vân hoa nhiều màu rất đẹp nhưng nhỏ chỉ bằng ngón chân cái. Mang về anh thả viên cuội vào bể cá và quên.
Xem thêm
Lặng lẽ Tết – Tản văn Lê Trọng Bình
Sau 45 năm đằng đẵng Tết Nam, lần đầu tiên được về quê ăn Tết, cảm giác của tôi như được “chào đời không tiếng khóc” nơi quê cha đất tổ, bởi sinh tôi ra chưa được cái Tết nào thì gia đình đã Nam tiến. Thường thì tâm lý người xa quê đoàn tụ sẽ vui lắm, nhưng trong tôi thì khác hoàn toàn bởi những cung bậc đầu tiên ấy.
Xem thêm