- Bút ký - Tạp văn
- Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời. Từ nhạc sĩ Trương Quang Lục, Nghệ sĩ Nhân dân Trà Giang đến những vị tướng từng đi qua chiến tranh, “Nhị vị tiền bối” là lời tri ân lặng lẽ mà sâu sắc của một người trong cuộc – khi nhìn lại những giá trị tinh thần vẫn còn tiếp tục lan tỏa đến hôm nay.
NHỊ VỊ TIỀN BỐI (I)
Từ thuở học sinh, tôi đã yêu thích ca khúc Vàm Cỏ Đông của nhạc sĩ Trương Quang Lục. Năm 1969, trước ngày nhập ngũ, trong vai trò quản ca lớp 10A, tôi được bạn bè tín nhiệm trình bày ca khúc này. Nhiều năm sau, từ 1972 đến 1989, tôi cùng đồng đội chiến đấu dọc tuyến biên giới Tây Nam – nơi hai dòng sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây hiện diện như những chứng tích sống động của một thời lửa đạn.
Năm 2008, tôi về công tác tại Báo Sài Gòn Giải Phóng, nơi nhạc sĩ Trương Quang Lục từng là Trưởng ban Khoa giáo. Mới đây, tại Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh, gặp lại ông ở tuổi chín mươi ba, vẫn minh mẫn và tâm huyết, tôi càng cảm nhận rõ hơn mối liên hệ bền chặt giữa văn học và âm nhạc. Ông chia sẻ: “Nhờ các nhà văn, nhà báo có lời, chúng tôi mới có thể sáng tạo nên những ca khúc đi vào cuộc sống”.
.jpg)
Tác giả với NS Trương Quang Lục.
Từ câu chuyện ấy, nhớ đến nhà thơ Hoài Vũ – tác giả bài thơ Vàm Cỏ Đông – có thể thấy sự gặp gỡ giữa thi ca và âm nhạc đã tạo nên một tác phẩm sống cùng năm tháng. Đáng chú ý, khi phổ nhạc bài thơ này, nhạc sĩ Trương Quang Lục chưa từng gặp tác giả. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, hai ông cùng công tác tại Báo Sài Gòn Giải Phóng – môi trường báo chí đã góp phần kết nối, lan tỏa những giá trị văn học nghệ thuật đến công chúng.
Cũng trong mạch nguồn ấy, cuộc gặp lại Nghệ sĩ nhân dân Trà Giang – một trong những gương mặt tiêu biểu của điện ảnh cách mạng Việt Nam – gợi nhiều suy ngẫm. Là người con Quảng Ngãi, vùng đất Núi Ấn sông Trà, bà không chỉ ghi dấu ấn qua các vai diễn mà còn để lại hình ảnh một nghệ sĩ giàu nội lực sáng tạo. Những năm sau 1990, khi tham gia Ban giám khảo cuộc thi “Người đẹp xứ Dừa” tại Bến Tre, bà cùng các nghệ sĩ tên tuổi như Nghệ sĩ nhân dân Trần Minh Ngọc đã góp phần tôn vinh vẻ đẹp văn hóa, con người Nam bộ.
.jpg)
Tác giả với NSND Trà Giang.
Điều đọng lại sâu sắc là tình cảm và nguồn cảm hứng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại trong tâm hồn người nghệ sĩ. Nghệ sĩ nhân dân Trà Giang nhiều lần vinh dự được gặp Bác, và chính từ đó, bà không chỉ thêm vững vàng trên con đường nghệ thuật mà còn tìm thấy nguồn cảm hứng bền bỉ trong hội họa.
Kỷ niệm năm mươi mốt năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, nhìn lại những cơ duyên gặp gỡ và cống hiến của hai gương mặt tiêu biểu trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, càng thêm trân trọng những giá trị tinh thần đã góp phần làm nên chiều sâu văn hóa của dân tộc trong và sau chiến tranh.
NHỊ VỊ TIỀN BỐI (II)
Trong kháng chiến chống Mỹ, tôi không trực tiếp là cán bộ dưới quyền ông. Năm 1974, tôi công tác tại ban tuyên huấn trung đoàn, khi ấy ông là Sư đoàn trưởng, thay ông Út Liêm được điều động lên làm Phó Tư lệnh Binh đoàn 232.
Mối gắn bó thực sự giữa tôi và ông chỉ bắt đầu khi tôi về công tác tại Báo Quân đội Nhân dân, lúc đó ông là Tư lệnh Quân đoàn 4. Thầy trò gặp nhau, câu chuyện dường như không bao giờ dứt. Không chỉ bởi tôi từng là người lính dưới quyền ông trong Chiến dịch Hồ Chí Minh – chiến dịch kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ kéo dài hàng chục năm – mà còn bởi giữa chúng tôi có một sự đồng cảm sâu sắc về nhân tình thế thái.
.jpg)
Tác giả với Thiếu tướng Vũ Văn Thược và Trung tướng Lê Nam Phong.
Tôi chỉ là lớp con cháu, nhưng ông luôn gọi tôi một cách thân tình là “ông nhà báo”. Ông là Thiếu tướng Vũ Văn Thược, nguyên Sư đoàn trưởng Sư đoàn 5, nguyên Tư lệnh Quân đoàn 4.
Vị tiền bối thứ hai tôi muốn nhắc đến là Trung tướng Lê Nam Phong, nguyên Tư lệnh Quân đoàn 1, nguyên Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân 2.
Khi ông Vũ Văn Thược làm Sư đoàn trưởng Sư đoàn 5 thì ông Lê Nam Phong là Sư đoàn trưởng Sư đoàn 7. Đó là hai vị sư đoàn trưởng lừng danh, không chỉ được cán bộ, chiến sĩ kính trọng mà còn khiến đối phương khiếp sợ. Khi ấy từng lan truyền tin đồn, phía địch treo thưởng hàng chục nghìn đô la Mỹ cho ai lấy được “thủ cấp” của hai vị sư đoàn trưởng này.
Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh cách đây năm mươi mốt năm, trong đội hình Binh đoàn 232 do ông Năm Ngà làm Tư lệnh, ông Út Liêm làm Phó Tư lệnh, ông Năm Thược chỉ huy Sư đoàn vượt qua “cánh đồng chó ngáp” từ biên giới tiến về giải phóng thị xã Tân An. Sau khi giải phóng Đà Lạt, ông Lê Nam Phong chỉ huy Sư đoàn 7 bôn tập dọc Quốc lộ 20, bao vây và tiến công Xuân Lộc – “cánh cửa thép” phía đông Sài Gòn.
Hai cánh quân của hai ông đã gặp phải sự chống trả quyết liệt. Hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh ngay trước giờ toàn thắng.
Lịch sử có những trớ trêu. Sư đoàn 7 của ông Lê Nam Phong được giao nhiệm vụ cắm cờ trên Dinh Độc Lập. Nhưng trong khoảnh khắc quyết định, một đơn vị của Quân đoàn 2 đã đến sớm hơn và cắm cờ trên nóc dinh – sào huyệt cuối cùng của chế độ cũ. Đến chiều ngày 30 tháng 4 năm 1975, đơn vị đầu tiên của Sư đoàn 7 mới tiến vào.
Ảnh 4: Với Trung tướng Lê Nam Phong
Nhận bàn giao từ Quân đoàn 2, Sư đoàn trưởng Lê Nam Phong chỉ cười, nói giản dị: “Không sao. Các đồng chí đến sớm thì cắm cờ trên cao. Chúng tôi đến muộn một chút thì cắm cờ dưới sảnh. Quân giải phóng cắm được cờ trong thời khắc lịch sử là tốt rồi.”
Vị tướng được mệnh danh là “ông Năm Lửa” ấy cũng có những phút mềm lòng. Có lần đứng trước Tượng đài Chiến thắng Xuân Lộc, ông rơi nước mắt và nói: “Tôi còn nợ các bà mẹ, các gia đình liệt sĩ nhiều lắm. Tại nơi này, hàng nghìn anh em đã hóa thân vào đất đai Tổ quốc. Không biết bao giờ chúng ta trả được món nợ này.”
Hai vị tiền bối, hai vị tướng, hai người lính từng đi qua Điện Biên, nay đã về với tổ tiên. Tại Nghĩa trang Thành phố Hồ Chí Minh, hai ông nằm cạnh nhau, như vẫn tiếp tục sát cánh bên nhau sau mấy chục năm binh nghiệp dưới ngọn cờ của quân đội nhân dân.
Mỗi lần đến viếng, tôi không quên mang theo một chai rượu đế. Rót rượu mời hai ông, tôi như thấy ánh mắt quen thuộc ấy nheo lại, ấm áp và hóm hỉnh: “Ông nhà báo quân đội có gì mới không? Món nợ của chúng ta thì không bao giờ trả hết…”
Thành phố Hồ Chí Minh, những ngày cuối tháng Tư năm 2026.
TTT