TIN TỨC

Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-03-31 08:52:51
mail facebook google pos stwis
12 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.

 

Trước cổng đình Thổ Hà. Ảnh tác giả cung cấp.

 

Theo chân bạn bè du xuân về miền đất phật ở bên phía Tây của dãy núi Yên Tử, chúng tôi có dịp trở lại làng Thổ Hà, ghé thăm ngôi đình cổ, từng nổi tiếng với bức cửa võng, vừa mới được nhà nước xếp hạng bảo vật quốc gia và cũng để hoài niệm về cái nghề làm gốm từng làm cho Thổ Hà một thời vang bóng khắp cả mọi miền. Trở lại ngôi làng nhỏ bên dòng sông êm đềm nước chảy lần này chúng tôi thấy Thổ Hà đã có không ít đổi thay, trong đó có những đổi thay làm ngẩn ngơ người. Bây giờ, con sông bao quanh làng không còn thơ mộng như câu hát ngày xưa; trong làng không còn nhiều những lò gốm nhấp nhô, đỏ lửa đêm ngày; bên làng, trên các bến nước cũng không còn cảnh sầm uất trên bến dưới thuyền như trong câu thơ của thi sĩ Vũ Quần Phương ngày nào: “Làng gốm cữ này đang độ lửa/ Khói cỏ de thơm khắp cả làng/ Thuyền đinh khoang nặng đang rời bến/ Thanh Nghệ xuôi vào, Tuyên Thái sang...” (Làng gốm Thổ Hà). Và, làng Thổ Hà cũng không còn thuộc diện thôn quê nữa. Cùng với sự “lên đời” của huyện Việt Yên (tỉnh Bắc Giang cũ) thành Thị xã, sau lại sáp nhập hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh, nên về mặt hành chính, làng Thổ Hà cũng không còn gọi là thôn, xã … mà đã trở mình thành phường, thành phố; phường Vân Hà của tỉnh Bắc Ninh. Tuy vậy cái nét nhà quê của một làng nghề vốn không có ruộng, không có đồng; nằm ở sát ven sông vẫn cứ hiển lộ rõ ràng ra mặt phố như chẳng thể nào trộn lẫn vào đâu được. Làng nhỏ Thổ Hà vẫn còn nguyên “mái nhà thôn san sát nhau”; đường gạch, ngõ nhỏ vẫn cứ nối tiếp, quanh co, ngang dọc như những ngày xưa. Ngắm nhìn Thổ Hà bây giờ người ta thấy có khác xưa chăng thì cũng chỉ là thấy mất đi cái thứ từng làm lên cho tên tuổi của làng vang danh, lẫy lừng thiên hạ mấy trăm năm. Đó là không còn những dãy chum, chĩnh, tiểu, vại, lọ, bình hay các loài linh vật … bằng đất hay bằng sành xếp đầy trong sân, trong vườn hay bên những đường đi lối lại để chờ ngày vào lò hoặc đợi xếp lên thuyền xuất bến. Và thay vào chỗ đó là các tấm phên nứa, phên tre chất đầy những chiếc bánh đa đem hong, đem phơi trên khắp ngả đường, ngõ xóm, sân đình, sân chùa… bất kể chỗ nào có đất để trống. Thổ Hà bây giờ vẫn là làng nghề, một làng nghề trong phường. Nhưng đó là làng nghề làm bánh đa, bánh tráng thay cho nghề làm gốm cổ truyền, từng có tuổi đời dễ đến gần chín trăm năm.

Đến làng Thổ Hà, chúng tôi qua sông Cầu, từ bên bờ Nam chúng tôi qua đò để sang làng ở bên bờ Bắc. Đứng bên này sông, nhìn sang bên kia; hình ảnh bến nước, cây đa, mái đình của Thổ Hà, cũng là một cảnh quan điển hình của làng quê Bắc Bộ, theo nhau hiện ra rất đẹp trong tầm mắt. Có thể nói, nhìn tổng thể, phong cảnh của làng Thổ Hà rất hữu tình. Dường như trời phú cho Thổ Hà một địa thế ba bề sông nước mà hiếm có làng quê nào có được. Phía Bắc của làng, xa xa là những đồi núi thấp, giống như một điểm tựa chắc chắn để ngả lưng tựa vào; ba bề còn lại của làng được dòng nước mát lành của con sông Cầu bao bọc. Ngắm nhìn địa thế ngôi làng như thế, ta mới thấy, Thổ Hà không chỉ có một vị trí thuận lợi giao thương (nhất cận thị nhị cận giang) mà còn là một thế đất phong thuỷ rất cát tường (tựa sơn đạp thuỷ). Như thế bảo sao làng không phát, cư dân không giàu cho được! Cái sự thịnh vượng ấy trải suốt bao đời và nay vẫn còn giữ nguyên như vậy. Những nhà cao tầng nối tiếp nhau, mọc lên san sát; người xe qua lại dập dìu, tấp nập; cửa hàng len lỏi vào tận trong từng ngõ xóm; hàng nghề phơi trải khắp cả làng … Ngắm nhìn những thế lòng khách không khỏi mừng vui cho người Thổ Hà. Ấy vậy ngẫm đến nghề xưa khách đến lòng nào cũng không khỏi ngậm ngùi, luyến tiếc.

Thăm thú đình, chùa, văn chỉ, điếm xóm của làng Thổ Hà chúng tôi thấy những nét xưa vẫn còn giữ được khá nguyên vẹn. Và qua những gì lưu giữ được ấy người ta cũng phỏng đoán được sự trù phú của ngôi làng ở trong quá khứ. Hẳn, nếu không phải là nơi có của ăn của để thì Thổ Hà làm sao có được những ngôi đình, ngôi chùa …  đồ sộ và tinh xảo đến như thế. Chỉ tính riêng ngôi đình thôi, người ta thấy dân Thổ Hà chẳng hề kém cạnh với những ngôi làng vốn nổi tiếng có đình to, đình đẹp ở trong và ngoài tỉnh. Theo bia ký, ngôi đình được làm vào năm 1685 (năm Chính Hoà thứ 6), cửa võng làm vào năm 1692 (năm Chính Hoà thứ 13). Nghe kể, đương thời, ngôi đình đã nổi tiếng đất Kinh Bắc; sau này, đến thời Pháp, chính quyền cũng phải công nhận và xếp hạng trong Viện bảo tàng Bác Cổ Đông Dương; khi đất nước được độc lập, một lần nữa, rất sớm, năm 1960, đình được lại nhà nước công nhận là di tích lịch sử văn hóa; đặc biệt vừa qua, tháng 2 năm 2026, cụm di tích ở Thổ Hà, trong đó có ngôi đình lại được xếp hạng là di tích quốc gia đặc biệt.

 

Bờ tường được xây bằng những tiểu sành. Ảnh tác giả cung cấp.

 

Đình làng Thổ Hà nằm bên sông, trên diện tích ước chừng khoảng ba ngàn mét vuông, nhìn về hướng Tây – Nam. Nhìn tổng thể, ngôi đình được thiết kế theo hình chữ Công, gồm Tiền tế - Ống muống – Đại bái; trông rất bề thế. Toà nhà Đại bái dài hai mươi bảy mét, rộng mười sáu mét, gồm năm gian chính và hai gian phụ với bốn mái dài rộng, lợp ngói mũi hài; trên nóc đình đắp nổi đôi rồng chầu mặt trời rất đẹp, các góc đình đắp đầu đao uốn lượn cong vút, mềm mại, duyên dáng. Trong nhà Đại bái có bốn mươi tám cột lim to, hơn người ôm; chia thành tám hàng cột ngang và sáu hàng cột dọc, kê trên các tảng đá màu xanh. Ngôi nhà Tiền tế gồm ba gian hai trái. Nối nhà Tiền tế và Đại bái là nhà Ống muống. Kiến trúc nhà Tiền tế đơn giản hơn nhà Đại bái. Bốn mặt Bái đường có bưng chấn song gỗ, gối lên tường gạch xây thấp; nóc nhà làm theo kiểu chồng rường kết hợp giá chiêng. Trên các đầu kẻ, đầu dư, đầu bẩy, ván nong, cốn … có chạm rồng, phượng, lân, ly, hươu, ngựa, hổ, báo trong các tư thế sống động; đặc biệt hơn là có các hình thiếu nữ búi tóc, chít khăn, mặc váy hoặc yếm với nét mặt rạng rỡ, thân hình nở nang trong tư thế đang cưỡi phượng, đè rồng hoặc nhảy múa ... bằng các thủ pháp chạm lộng, chạm kênh, chạm bong rất tinh xảo.

Phải nói rằng, ngôi đình Thổ Hà tuy đã qua nhiều lần trung tu nhưng cơ bản đường nét kiến trúc vẫn mang đậm phong cách nghệ thuật thời Lê Trung Hưng. Đặc biệt, trong đình còn giữ được bức cửa võng thếp vàng chạm trổ rất lộng lẫy, xứng đáng được xem là một tinh hoa nghệ thuật. Bức cửa võng được đặt ở trước Hậu cung. Nó vừa có chức năng ngăn cách không gian tâm linh nhưng đồng thời cũng là điểm nhấn trang trí ở trung tâm khu thờ tự. Cửa võng của đình Thổ Hà có chiều cao bốn mét chín, chiều rộng bốn mét ba; được chạm khắc theo nhiều thủ pháp nghệ thuật khác nhau một cách rất tinh tế. Ở đấy người ta thấy có kỹ thuật bong kênh kết hợp kỹ thuật chạm lộng, chạm thủng, chạm nổi để tạo ra nhiều lớp, nhiều tầng không gian khác nhau trên cùng một miếng gỗ, trong cùng một đề tài ... Nhìn cụ thể, bố cục của cửa võng này được chia làm ba tầng. Tầng thứ nhất (trên cùng) có hai lớp diềm chồng lên nhau, chạm hoạ tiết vân mây và các hình rồng cuốn cột. Những hình rồng được đục rất đẹp trong tư thế đang vươn mình, đầu quay về phía cửa khám, thân uốn khúc, chân trước vuốt râu. Tầng thứ hai (ở giữa) có ba lớp chạm với đề tài “lưỡng long chầu nhật”. Những con rồng này có mắt to, miệng ngậm ngọc, mũi gồ lên cao, tóc xòe ra và hơi lượn sóng. Giữa những bức tranh rồng có bốn bức đố chạm tùng, trúc, cúc, mai. Tầng thứ ba (phần cuối cùng) chạm những hình đao mác. Điểm đặc biệt trong phần này là hình rồng uốn lượn với những chiếc đầu chầu vào nơi trung tâm, chân trước đưa ra vuốt râu, các chân còn lại nắm các linh thú. Các linh thú xuất hiện ở đây trong bộ dạng đầu ngoảnh lại, miệng nhoẻn cười, trong nhiều tư thế khác nhau; con chạy, con nằm, con đứng … nhìn rất vui mắt. Ngoài ra, ở dưới phần diềm, người ta thấy có hình ảnh của voi - người. Voi nằm phủ phục, người cởi trần đóng khố, hai tay níu ngà voi. Thông thường hình người ở cửa võng rất ít thấy. Phải chăng nghệ nhân chạm khắc bức cửa võng này muốn thể nghiệm sự cách tân. Họ muốn đưa hơi thở của cuộc sống thường nhật vào bức tranh thờ tự ở nơi tối linh.

Đến hẹn lại lên, sau tết, từ ngày hai mươi đến ngày hai mươi hai tháng Giêng, dân làng Thổ Hà lại mở hội để tưởng nhớ, tri ân Lão Tử và tổ sư nghề gốm Đào Trí Tiến. Tương truyền, tổ sư Đào Trí Tiến đã cùng với các ông Hứa Vĩnh Cảo, Lưu Phong Tú được cử đi sứ Bắc Tống. Trên đường đi sứ về, khi đi qua Thiều Châu (Quảng Đông) đoàn sứ bộ gặp bão nên phải nghỉ lại. Trong thời gian này ba ông đã học được nghề làm gốm ở đây. Tan bão, các ông về nước. Ông Đào Trí Tiến dạy cho làng Thổ Hà cách làm gốm với màu thẫm (đỏ gạch, đỏ sẫm, nâu sẫm); ông Hứa Vĩnh Cảo dạy cho làng Bát Tràng cách gốm men trắng (men trắng vẽ hoa lam); ông Lưu Phong Tú dạy cho làng Phù Lãng cách gốm màu vàng thẫm (vàng da lươn)... Và cũng bắt đầu từ đây, Thổ Hà, Bát Tràng, Phù Lãng là ba nơi làm gốm nổi tiếng trong cả nước. Theo đó gốm làng Thổ Hà cũng từng có mấy trăm năm phát triển huy hoàng. Trong ký ức của người dân Thổ Hà, lúc hưng thịnh cả làng có đến hơn tám mươi lò gốm, mỗi lò cao khoảng hơn hai mét, rộng từ hai mươi đến ba mươi mét vuông. Nhưng sự hưng thịnh ấy nay đã tàn phai. Dấu xưa của nghề gốm chỉ còn lại một ít nền móng lò cũ hay phế phẩm sành trên những tường rào hoặc tường nhà. Giờ đây nghề làm bánh đa đã thay cho nghề làm gốm để dân làng kiếm kế sinh hai. Tuy vậy, người làng Thổ Hà vẫn không quên nghề xưa. Mỗi khi có khách hỏi thăm về gốm Thổ Hà, người già trong làng ai nấy mắt sáng lên và lại bắt đầu câu chuyện ngày xưa.

Có bà lão bán nước bên bến sông kể rằng, ngày xưa, gốm Thổ Hà nức tiếng. Chum thổ Hà gõ kêu koong koong, đổ nước vào không thấm. Chum vại, tiểu quách, bình lọ … của làng Thổ Hà làm từ đất nung lên thành sành, không cần thoa men mà vẫn bóng đẹp (nung cho đến khi đất chảy thành men bóng, màu son hoặc nâu đen, nâu đỏ). Đất làm gốm là loại đất sét; được lấy lên từ các gò đống, trên những bãi sông và mua ở các vùng phụ cận mang về. Bà bảo, để có một sản phẩm gốm, người thợ ở Thổ Hà phải làm sạch đất, phơi khô tự nhiên, nghiền nhỏ và loại bỏ tạp chất; rồi đem ngâm nước, nhào trộn kỹ và ủ cho dẻo, cho mịn sau mới tạo thành hình dáng sản phẩm; làm thành sản phẩm rồi đem phơi, đem sấy thật khô, sau cất vào lò để nung. Quá trình tạo ra một sản gốm khâu nào cũng quan trọng nhưng quan trọng nhất là khâu tạo hình (làm ra sản phẩm đẹp hoặc không đẹp) và nung gốm (quyết định sự thành bại của sản phẩm). Khâu tạo hình đòi hỏi người làm gốm phải có “hoa tay” nhưng khi nung gốm đỏi hỏi người thợ phải có kinh nghiệm và đây là bí quyết riêng của mỗi người chủ lò (lò sư - thầy đốt lò). Người ta nung gốm trong lò, kéo dài từ hai đến ba ngày, nhiệt độ có khi lên tới một ngàn hai trăm độ. Trong suốt quá trình nung, người thợ lò phải thường xuyên quan sát, điều chỉnh lửa để cho phù hợp với sản phẩm, không bị nứt vỡ và có được sắc màu như mong muốn. Bà lão khoe chum Thổ Hà từng có cái làm rất to, hai ba người ngồi trong chum cũng được, muốn vào bên trong chum phải bắc thang leo lên; tiểu, quách rất cứng và đẹp, không bị sứt mẻ. Chum, vại không bị thấm nước; muối dưa không bị khú vì đất được nung đến cứng như sắt mới thôi. Bởi thê gốm làng Thổ Hà rất sắc. Mảnh vỡ của gốm có thể cắt, cứa như dao.

Say xưa kể chuyện nhưng rồi bà lão cũng khẽ bảo, nghề gốm cũng đã mai một mất rồi, có lẽ rồi cũng sẽ mất; làng giờ rất ít thợ gốm, cả làng cũng chỉ còn một lò gốm. Lò ấy làm gốm cũng chỉ để cung cấp cho du lịch mà thôi. Nghề gốm làng bà có lẽ mất, bà nhắc đi nhắc lại. Rồi bà chỉ cho tôi bức tường và ngôi được làm bằng gốm phế phẩm (những sảm phẩm gốm bị lỗi trong quá trình nung) với nỗi niềm đầy hoài niệm, luyến tiếc và cũng như để minh chứng cho những điều mình vừa kể xong; để ký ức được trở về với một thời hoàng kim của nghề gốm Thổ Hà. Kể xong rồi bà lại khoe. Bà khoe làng bà có nghề làm bánh đa (bánh đa dừa và bánh đa nem). Mất nghề gốm nhưng còn được nghề làm bánh đa. Cái nghề ấy thay cho cái nghề làm gốm để làng mưu sinh. Rồi bà chỉ ra, khắp nơi trong làng, chỗ nào cũng có phên phơi bánh đa. Có lẽ bà chẳng chỉ thì du khách đến làng ai cũng trông thấy. Bánh đa phơi bên đường, dựa vào tường nhà, tường rào; trên bờ sông; sân đình, sân chùa … cứ chỗ nào hở đất là có ngay những phên bánh đa phơi nắng, hong gió. Hơn thế nữa bánh đa Thổ Hà cũng nức tiếng trong vùng ai chẳng đã từng nghe. Thế đấy, đất chật, người đông; đồng không, bãi chẳng có … dân Thổ Hà không đi buôn thì cũng làm nghề… Nghề ấy đem lại miếng cơm cho Thổ Hà nhưng cũng làm cho làng cổ vốn thanh bình cũng trở nên bừa bộn. Ngay cả cái chốn tôn nghiêm, nơi thơ tự cũng ngập tràn nhưng phên nứa phơi những chiếc bánh đa. Cũng đành thôi, kế sinh nhai của cả dân làng, biết làm sao?

Lang thang trên “bán đảo” Thổ Hà tôi chợt nhận ra nơi này thật lạ. Lên phường mà chẳng ra “phố”, vẫn cứ mộc mạc thôn quê với bến nước, gốc đa, mái đình … bên cổng làng rêu phong. Nhưng bảo Thổ Hà là thôn quê thì cũng chẳng phải, bởi nông dân ở làng đâu có đồng, có ruộng để trồng lúa, trồng ngô kiếm kế sinh nhai; chẳng những vậy, mật độ dân cư ở Thổ Hà cũng chẳng thua kém gì ở nơi thành phố. Dạo quanh làng Thổ Hà ta cũng thấy hầu như chỉ có đường nhỏ, ngõ nhỏ … dài, sâu hun hút; san sát mái nhà… chẳng khác gì ngõ nhà ở trong phố cổ. Càng nghĩ càng thấy Thổ Hà độc đáo. Đúng là trời sinh, dòng sông Cầu bắt nguồn từ đỉnh Phja Bjoóc thuộc dãy Văn Ôn, trên địa phận tỉnh Thái Nguyên (trước đây là Bắc Kạn) chảy theo hướng Nam thế nào đến Vân Hà lại vặn mình đổi sang hướng Bắc để sinh ra làng Thổ Hà, nhô ra như một bán đảo với ba dề dập dìu sóng nước êm đềm. Cái “bán đảo” ấy tuổi đời nay cũng có đến hàng ngàn năm tuổi. Cái tuổi đời như thế cùng những với mái đình, mái chùa, đền, miếu, bến nước, cổng làng cổ kính và đặc biệt là những ngôi nhà, bờ tường làm bằng sành, bằng gốm …khiến cho Thổ Hà xứng đáng được xem là một làng di sản. Nhưng rồi cũng không biết những ngôi nhà, bờ tường di sản kia có còn trụ được trên “bán đảo” Thổ Hà bao lâu nữa hay lại như số phận của những lò gốm đã từng sinh ra nó. Đi trên ngõ nhỏ Thổ Hà nghĩ vậy, tiếc và hoài niệm!

Bài, ảnh: Phan Anh

Bài viết liên quan

Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm
Những con đường ký ức - Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Những con đường của Hội An là những sợi máu trong tôi. Chúng đã đi qua thời gian, chịu đựng bao thác ghềnh, nhiều lúc ngỡ tan biến như những bào ảnh của lãng quên để rồi cuối cùng vẫn lặng lẽ cất lên tiếng nói mơ hồ của ký ức, nhắc rằng đó là một phần không thể thiếu trong tôi.
Xem thêm
Làm du lịch từ lò gạch Sa Đéc xưa
Vào dịp tết Nguyên đán hàng năm, cứ từ 20 tháng chạp đổ lên, người miền Nam lại lũ lượt tìm về vãn cảnh nhà vườn hoa kiểng Tân Quy Đông (Sa Đéc- Đồng Tháp). Cạnh bên Tân Quy Đông là vùng đất Tân Quy Tây bạt ngàn vườn ruộng được bồi đắp phù sa quanh năm bởi con sông Tiền hiền hoà quê kiểng. Lớp phù sa dày dặn bám trên đồng ruộng lâu năm trở thành lớp đất nâu non (đất sét) dẻo quẹo, là loại nguyên liệu rất tốt để người địa phương nung gạch xây dựng các công trình.
Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm
Viết cho tuổi hai mươi: giữa chênh vênh và hoài bão – Tản văn Phạm Phúc Vinh
“Tuổi hai mươi giống như một cơn mưa rào mùa hạ. Người ta vừa sợ ướt áo, lại vừa muốn đằm mình vào cái mát lạnh của đất trời. Chênh vênh đó, nhưng cũng rực rỡ vô cùng.”
Xem thêm
Thấy gì sau những chiếc xe hút đinh tự nguyện – Tạp bút Trần Đôn
Trong dòng chảy hối hả của giao thông đô thị, đôi khi ta bắt gặp hình ảnh những chiếc xe tự chế gắn thanh nam châm miệt mài rà sát mặt đường để “giải cứu” người đi đường khỏi nạn “đinh tặc”. Hình ảnh ấy đã trở nên quen thuộc ở nhiều nơi.
Xem thêm
Sắc hoa tháng Ba ở Điện Biên - Tản văn Phan Anh
Thời bây giờ, hoa ban không còn là loài hoa độc quyền của Tây Bắc nữa. Người ta đã nhân giống và đưa cây ban về trồng ở khắp mọi nơi. Chỉ riêng ở Hà Nội, cứ mỗi độ xuân về, trong hơi ấm của nắng mới tháng ba, trên đường Điện Biên Phủ, Hoàng Diệu, Thanh Niên, Bắc Sơn, công viên Cầu Giấy, hồ Gươm, hồ Thiền Quang, hồ Tân Xã … người ta thấy nàng công chúa của xứ sở Tây Bắc tưng bừng bung nở trên các vòm cây, đua nhau khoe sắc ngập trời, rồi thoang thoảng gửi hương vào trong không gian êm dịu của mùa xuân; khiến cho chị em không khỏi xốn xang, quên cả cái tiết trời còn chưa hết gió lạnh lẫn mưa bụi mà nô nức sửa soạn áo váy, rủ nhau đi sống ảo làm cho phố phường những nơi ấy cũng trở nên vui tươi, náo nhiệt.
Xem thêm
​Đám rau mùi già tháng Giêng của mẹ - Tạp bút Lê Thị Hiệp
Là một người rất thích rau mùi(người miền Nam gọi là ngò rí) nên mẹ tôi ngay từ lúc còn trẻ cho tận tới nay khi đã về già, bà vẫn luôn duy trì thói quen gieo trồng loại rau gia vị cực kỳ ngon và có mùi thơm vô cùng hấp dẫn này. Mẹ tôi kể rằng, từ khi lấy bố về làm dâu nhà ông bà nội tôi, thì mảnh vườn sau nhà rộng rãi, dẫu có trồng loại rau gì đi chăng nữa thì mẹ vẫn luôn dành ra một khoảng đất màu mỡ gần ngay khu vực cầu ao để gieo trồng rau mùi.
Xem thêm
Chân Mây 3 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Anh kể: Một hôm đang trong cơn tuyệt vọng. Anh cố gượng dậy cho mấy con cá nhỏ trong bể ăn. Bỗng nhiên anh thấy viên cuội lấp lánh đáy bể và chợt nhớ ra. Hôm ở đảo Hòn Dáu anh có nhặt một viên cuội ở bãi biển. Viên cuội vân hoa nhiều màu rất đẹp nhưng nhỏ chỉ bằng ngón chân cái. Mang về anh thả viên cuội vào bể cá và quên.
Xem thêm
Lặng lẽ Tết – Tản văn Lê Trọng Bình
Sau 45 năm đằng đẵng Tết Nam, lần đầu tiên được về quê ăn Tết, cảm giác của tôi như được “chào đời không tiếng khóc” nơi quê cha đất tổ, bởi sinh tôi ra chưa được cái Tết nào thì gia đình đã Nam tiến. Thường thì tâm lý người xa quê đoàn tụ sẽ vui lắm, nhưng trong tôi thì khác hoàn toàn bởi những cung bậc đầu tiên ấy.
Xem thêm
Tình mẫu tử - Trần Thế Tuyển
Nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, Văn chương TP.HCM giới thiệu tản văn “Tình mẫu tử” của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển: một câu chuyện giản dị mà xúc động về tình mẹ.
Xem thêm
Tuổi thơ tôi - Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Có những ký ức tưởng như đã ngủ yên trong quá khứ, nhưng chỉ cần một buổi chiều lặng gió, một mùi hương quen bất chợt thoảng qua, chúng lại trở về nguyên vẹn. Khi ấy, tuổi thơ hiện lên trong tôi như một thước phim cũ – chậm rãi, trong trẻo mà thấm đẫm những rung động rất sâu của một đời người.
Xem thêm
Tha phương…Tùy bút Lê Thi
Nước Mỹ có phải thiên đường cho tất cả những người đến miền đất hứa này không? Chưa hẳn là như thế. Tôi gặp biết bao nhiêu người đến định cư ở đây mang nhiều quốc tịch khác nhau, nhưng mỗi người mang số phận khác nhau nhiều khi không biết có hơn ở Việt Nam không, nếu như họ không có ý chí và nghề nghiệp gì nhất định.
Xem thêm
Một mùa thơ đi qua – tình người ở lại
Sau ba ngày hoạt động sôi nổi, Ngày Thơ Việt Nam 2026 tại TP.HCM đã khép lại, nhưng dư âm của nó vẫn còn đọng lại trong nhiều cuộc gặp gỡ và câu chuyện bên lề. Từ việc phát động cuộc thi thơ “Tiếng gọi đô thị mới” với sự đồng hành của Quỹ Tình Thơ, đến những lều thơ và đêm thơ nhạc của các câu lạc bộ, tất cả góp phần tạo nên một không gian thi ca vừa trang trọng vừa ấm áp tình bằng hữu.
Xem thêm
Vẻ đẹp miền di sản cuối trời Nam – Tùy bút Nguyễn Phú Thành
Miền đất được mệnh danh nơi “đất biết nở, rừng biết đi” (chữ dùng của Sơn Nam) – luôn mang trong mình vẻ đẹp hoang sơ và giàu sức sống. Những dòng kênh đậm phù sa, rừng U Minh bạt ngàn và mũi đất vươn ra biển Tây tạo nên một miền quê thấm đẫm chất phương Nam, nơi con người hiền hòa, chân chất và mạnh mẽ trước thiên nhiên. Còn Hà Tiên lại quyến rũ bởi vẻ thơ mộng của miền biên viễn, nơi non nước giao hòa mang dấu ấn lịch sử với những thắng cảnh từng đi vào thơ ca. Từ đất Mũi hoang sơ, phóng khoáng đến Hà Tiên hữu tình, cổ kính – đều là miền di sản của đất phương Nam như hai nét chấm phá độc đáo, tạo nên bức tranh thiên nhiên và văn hoá đầy mê hoặc của cực Nam Tổ quốc.
Xem thêm
Văn chương Việt và câu hỏi toàn cầu - Tùy văn Lê Hưng Tiến
Trong những năm gần đây, đời sống văn học Việt Nam đang đối mặt với một thực trạng đáng báo động, đó chính là sự xuống cấp đồng thời của chất lượng sáng tác và dịch thuật, đặc biệt trong lĩnh vực thơ khi nhiều sản phẩm yếu kém lại được nhân danh hội nhập để đưa ra nước ngoài. Hiện tượng này không chỉ làm tổn thương giá trị nội tại của văn chương, mà còn trực tiếp bóp méo diện mạo văn học Việt Nam trong con mắt bạn đọc quốc tế.
Xem thêm