TIN TỨC

Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-03-31 08:52:51
mail facebook google pos stwis
320 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.

 

Trước cổng đình Thổ Hà. Ảnh tác giả cung cấp.

 

Theo chân bạn bè du xuân về miền đất phật ở bên phía Tây của dãy núi Yên Tử, chúng tôi có dịp trở lại làng Thổ Hà, ghé thăm ngôi đình cổ, từng nổi tiếng với bức cửa võng, vừa mới được nhà nước xếp hạng bảo vật quốc gia và cũng để hoài niệm về cái nghề làm gốm từng làm cho Thổ Hà một thời vang bóng khắp cả mọi miền. Trở lại ngôi làng nhỏ bên dòng sông êm đềm nước chảy lần này chúng tôi thấy Thổ Hà đã có không ít đổi thay, trong đó có những đổi thay làm ngẩn ngơ người. Bây giờ, con sông bao quanh làng không còn thơ mộng như câu hát ngày xưa; trong làng không còn nhiều những lò gốm nhấp nhô, đỏ lửa đêm ngày; bên làng, trên các bến nước cũng không còn cảnh sầm uất trên bến dưới thuyền như trong câu thơ của thi sĩ Vũ Quần Phương ngày nào: “Làng gốm cữ này đang độ lửa/ Khói cỏ de thơm khắp cả làng/ Thuyền đinh khoang nặng đang rời bến/ Thanh Nghệ xuôi vào, Tuyên Thái sang...” (Làng gốm Thổ Hà). Và, làng Thổ Hà cũng không còn thuộc diện thôn quê nữa. Cùng với sự “lên đời” của huyện Việt Yên (tỉnh Bắc Giang cũ) thành Thị xã, sau lại sáp nhập hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh, nên về mặt hành chính, làng Thổ Hà cũng không còn gọi là thôn, xã … mà đã trở mình thành phường, thành phố; phường Vân Hà của tỉnh Bắc Ninh. Tuy vậy cái nét nhà quê của một làng nghề vốn không có ruộng, không có đồng; nằm ở sát ven sông vẫn cứ hiển lộ rõ ràng ra mặt phố như chẳng thể nào trộn lẫn vào đâu được. Làng nhỏ Thổ Hà vẫn còn nguyên “mái nhà thôn san sát nhau”; đường gạch, ngõ nhỏ vẫn cứ nối tiếp, quanh co, ngang dọc như những ngày xưa. Ngắm nhìn Thổ Hà bây giờ người ta thấy có khác xưa chăng thì cũng chỉ là thấy mất đi cái thứ từng làm lên cho tên tuổi của làng vang danh, lẫy lừng thiên hạ mấy trăm năm. Đó là không còn những dãy chum, chĩnh, tiểu, vại, lọ, bình hay các loài linh vật … bằng đất hay bằng sành xếp đầy trong sân, trong vườn hay bên những đường đi lối lại để chờ ngày vào lò hoặc đợi xếp lên thuyền xuất bến. Và thay vào chỗ đó là các tấm phên nứa, phên tre chất đầy những chiếc bánh đa đem hong, đem phơi trên khắp ngả đường, ngõ xóm, sân đình, sân chùa… bất kể chỗ nào có đất để trống. Thổ Hà bây giờ vẫn là làng nghề, một làng nghề trong phường. Nhưng đó là làng nghề làm bánh đa, bánh tráng thay cho nghề làm gốm cổ truyền, từng có tuổi đời dễ đến gần chín trăm năm.

Đến làng Thổ Hà, chúng tôi qua sông Cầu, từ bên bờ Nam chúng tôi qua đò để sang làng ở bên bờ Bắc. Đứng bên này sông, nhìn sang bên kia; hình ảnh bến nước, cây đa, mái đình của Thổ Hà, cũng là một cảnh quan điển hình của làng quê Bắc Bộ, theo nhau hiện ra rất đẹp trong tầm mắt. Có thể nói, nhìn tổng thể, phong cảnh của làng Thổ Hà rất hữu tình. Dường như trời phú cho Thổ Hà một địa thế ba bề sông nước mà hiếm có làng quê nào có được. Phía Bắc của làng, xa xa là những đồi núi thấp, giống như một điểm tựa chắc chắn để ngả lưng tựa vào; ba bề còn lại của làng được dòng nước mát lành của con sông Cầu bao bọc. Ngắm nhìn địa thế ngôi làng như thế, ta mới thấy, Thổ Hà không chỉ có một vị trí thuận lợi giao thương (nhất cận thị nhị cận giang) mà còn là một thế đất phong thuỷ rất cát tường (tựa sơn đạp thuỷ). Như thế bảo sao làng không phát, cư dân không giàu cho được! Cái sự thịnh vượng ấy trải suốt bao đời và nay vẫn còn giữ nguyên như vậy. Những nhà cao tầng nối tiếp nhau, mọc lên san sát; người xe qua lại dập dìu, tấp nập; cửa hàng len lỏi vào tận trong từng ngõ xóm; hàng nghề phơi trải khắp cả làng … Ngắm nhìn những thế lòng khách không khỏi mừng vui cho người Thổ Hà. Ấy vậy ngẫm đến nghề xưa khách đến lòng nào cũng không khỏi ngậm ngùi, luyến tiếc.

Thăm thú đình, chùa, văn chỉ, điếm xóm của làng Thổ Hà chúng tôi thấy những nét xưa vẫn còn giữ được khá nguyên vẹn. Và qua những gì lưu giữ được ấy người ta cũng phỏng đoán được sự trù phú của ngôi làng ở trong quá khứ. Hẳn, nếu không phải là nơi có của ăn của để thì Thổ Hà làm sao có được những ngôi đình, ngôi chùa …  đồ sộ và tinh xảo đến như thế. Chỉ tính riêng ngôi đình thôi, người ta thấy dân Thổ Hà chẳng hề kém cạnh với những ngôi làng vốn nổi tiếng có đình to, đình đẹp ở trong và ngoài tỉnh. Theo bia ký, ngôi đình được làm vào năm 1685 (năm Chính Hoà thứ 6), cửa võng làm vào năm 1692 (năm Chính Hoà thứ 13). Nghe kể, đương thời, ngôi đình đã nổi tiếng đất Kinh Bắc; sau này, đến thời Pháp, chính quyền cũng phải công nhận và xếp hạng trong Viện bảo tàng Bác Cổ Đông Dương; khi đất nước được độc lập, một lần nữa, rất sớm, năm 1960, đình được lại nhà nước công nhận là di tích lịch sử văn hóa; đặc biệt vừa qua, tháng 2 năm 2026, cụm di tích ở Thổ Hà, trong đó có ngôi đình lại được xếp hạng là di tích quốc gia đặc biệt.

 

Bờ tường được xây bằng những tiểu sành. Ảnh tác giả cung cấp.

 

Đình làng Thổ Hà nằm bên sông, trên diện tích ước chừng khoảng ba ngàn mét vuông, nhìn về hướng Tây – Nam. Nhìn tổng thể, ngôi đình được thiết kế theo hình chữ Công, gồm Tiền tế - Ống muống – Đại bái; trông rất bề thế. Toà nhà Đại bái dài hai mươi bảy mét, rộng mười sáu mét, gồm năm gian chính và hai gian phụ với bốn mái dài rộng, lợp ngói mũi hài; trên nóc đình đắp nổi đôi rồng chầu mặt trời rất đẹp, các góc đình đắp đầu đao uốn lượn cong vút, mềm mại, duyên dáng. Trong nhà Đại bái có bốn mươi tám cột lim to, hơn người ôm; chia thành tám hàng cột ngang và sáu hàng cột dọc, kê trên các tảng đá màu xanh. Ngôi nhà Tiền tế gồm ba gian hai trái. Nối nhà Tiền tế và Đại bái là nhà Ống muống. Kiến trúc nhà Tiền tế đơn giản hơn nhà Đại bái. Bốn mặt Bái đường có bưng chấn song gỗ, gối lên tường gạch xây thấp; nóc nhà làm theo kiểu chồng rường kết hợp giá chiêng. Trên các đầu kẻ, đầu dư, đầu bẩy, ván nong, cốn … có chạm rồng, phượng, lân, ly, hươu, ngựa, hổ, báo trong các tư thế sống động; đặc biệt hơn là có các hình thiếu nữ búi tóc, chít khăn, mặc váy hoặc yếm với nét mặt rạng rỡ, thân hình nở nang trong tư thế đang cưỡi phượng, đè rồng hoặc nhảy múa ... bằng các thủ pháp chạm lộng, chạm kênh, chạm bong rất tinh xảo.

Phải nói rằng, ngôi đình Thổ Hà tuy đã qua nhiều lần trung tu nhưng cơ bản đường nét kiến trúc vẫn mang đậm phong cách nghệ thuật thời Lê Trung Hưng. Đặc biệt, trong đình còn giữ được bức cửa võng thếp vàng chạm trổ rất lộng lẫy, xứng đáng được xem là một tinh hoa nghệ thuật. Bức cửa võng được đặt ở trước Hậu cung. Nó vừa có chức năng ngăn cách không gian tâm linh nhưng đồng thời cũng là điểm nhấn trang trí ở trung tâm khu thờ tự. Cửa võng của đình Thổ Hà có chiều cao bốn mét chín, chiều rộng bốn mét ba; được chạm khắc theo nhiều thủ pháp nghệ thuật khác nhau một cách rất tinh tế. Ở đấy người ta thấy có kỹ thuật bong kênh kết hợp kỹ thuật chạm lộng, chạm thủng, chạm nổi để tạo ra nhiều lớp, nhiều tầng không gian khác nhau trên cùng một miếng gỗ, trong cùng một đề tài ... Nhìn cụ thể, bố cục của cửa võng này được chia làm ba tầng. Tầng thứ nhất (trên cùng) có hai lớp diềm chồng lên nhau, chạm hoạ tiết vân mây và các hình rồng cuốn cột. Những hình rồng được đục rất đẹp trong tư thế đang vươn mình, đầu quay về phía cửa khám, thân uốn khúc, chân trước vuốt râu. Tầng thứ hai (ở giữa) có ba lớp chạm với đề tài “lưỡng long chầu nhật”. Những con rồng này có mắt to, miệng ngậm ngọc, mũi gồ lên cao, tóc xòe ra và hơi lượn sóng. Giữa những bức tranh rồng có bốn bức đố chạm tùng, trúc, cúc, mai. Tầng thứ ba (phần cuối cùng) chạm những hình đao mác. Điểm đặc biệt trong phần này là hình rồng uốn lượn với những chiếc đầu chầu vào nơi trung tâm, chân trước đưa ra vuốt râu, các chân còn lại nắm các linh thú. Các linh thú xuất hiện ở đây trong bộ dạng đầu ngoảnh lại, miệng nhoẻn cười, trong nhiều tư thế khác nhau; con chạy, con nằm, con đứng … nhìn rất vui mắt. Ngoài ra, ở dưới phần diềm, người ta thấy có hình ảnh của voi - người. Voi nằm phủ phục, người cởi trần đóng khố, hai tay níu ngà voi. Thông thường hình người ở cửa võng rất ít thấy. Phải chăng nghệ nhân chạm khắc bức cửa võng này muốn thể nghiệm sự cách tân. Họ muốn đưa hơi thở của cuộc sống thường nhật vào bức tranh thờ tự ở nơi tối linh.

Đến hẹn lại lên, sau tết, từ ngày hai mươi đến ngày hai mươi hai tháng Giêng, dân làng Thổ Hà lại mở hội để tưởng nhớ, tri ân Lão Tử và tổ sư nghề gốm Đào Trí Tiến. Tương truyền, tổ sư Đào Trí Tiến đã cùng với các ông Hứa Vĩnh Cảo, Lưu Phong Tú được cử đi sứ Bắc Tống. Trên đường đi sứ về, khi đi qua Thiều Châu (Quảng Đông) đoàn sứ bộ gặp bão nên phải nghỉ lại. Trong thời gian này ba ông đã học được nghề làm gốm ở đây. Tan bão, các ông về nước. Ông Đào Trí Tiến dạy cho làng Thổ Hà cách làm gốm với màu thẫm (đỏ gạch, đỏ sẫm, nâu sẫm); ông Hứa Vĩnh Cảo dạy cho làng Bát Tràng cách gốm men trắng (men trắng vẽ hoa lam); ông Lưu Phong Tú dạy cho làng Phù Lãng cách gốm màu vàng thẫm (vàng da lươn)... Và cũng bắt đầu từ đây, Thổ Hà, Bát Tràng, Phù Lãng là ba nơi làm gốm nổi tiếng trong cả nước. Theo đó gốm làng Thổ Hà cũng từng có mấy trăm năm phát triển huy hoàng. Trong ký ức của người dân Thổ Hà, lúc hưng thịnh cả làng có đến hơn tám mươi lò gốm, mỗi lò cao khoảng hơn hai mét, rộng từ hai mươi đến ba mươi mét vuông. Nhưng sự hưng thịnh ấy nay đã tàn phai. Dấu xưa của nghề gốm chỉ còn lại một ít nền móng lò cũ hay phế phẩm sành trên những tường rào hoặc tường nhà. Giờ đây nghề làm bánh đa đã thay cho nghề làm gốm để dân làng kiếm kế sinh hai. Tuy vậy, người làng Thổ Hà vẫn không quên nghề xưa. Mỗi khi có khách hỏi thăm về gốm Thổ Hà, người già trong làng ai nấy mắt sáng lên và lại bắt đầu câu chuyện ngày xưa.

Có bà lão bán nước bên bến sông kể rằng, ngày xưa, gốm Thổ Hà nức tiếng. Chum thổ Hà gõ kêu koong koong, đổ nước vào không thấm. Chum vại, tiểu quách, bình lọ … của làng Thổ Hà làm từ đất nung lên thành sành, không cần thoa men mà vẫn bóng đẹp (nung cho đến khi đất chảy thành men bóng, màu son hoặc nâu đen, nâu đỏ). Đất làm gốm là loại đất sét; được lấy lên từ các gò đống, trên những bãi sông và mua ở các vùng phụ cận mang về. Bà bảo, để có một sản phẩm gốm, người thợ ở Thổ Hà phải làm sạch đất, phơi khô tự nhiên, nghiền nhỏ và loại bỏ tạp chất; rồi đem ngâm nước, nhào trộn kỹ và ủ cho dẻo, cho mịn sau mới tạo thành hình dáng sản phẩm; làm thành sản phẩm rồi đem phơi, đem sấy thật khô, sau cất vào lò để nung. Quá trình tạo ra một sản gốm khâu nào cũng quan trọng nhưng quan trọng nhất là khâu tạo hình (làm ra sản phẩm đẹp hoặc không đẹp) và nung gốm (quyết định sự thành bại của sản phẩm). Khâu tạo hình đòi hỏi người làm gốm phải có “hoa tay” nhưng khi nung gốm đỏi hỏi người thợ phải có kinh nghiệm và đây là bí quyết riêng của mỗi người chủ lò (lò sư - thầy đốt lò). Người ta nung gốm trong lò, kéo dài từ hai đến ba ngày, nhiệt độ có khi lên tới một ngàn hai trăm độ. Trong suốt quá trình nung, người thợ lò phải thường xuyên quan sát, điều chỉnh lửa để cho phù hợp với sản phẩm, không bị nứt vỡ và có được sắc màu như mong muốn. Bà lão khoe chum Thổ Hà từng có cái làm rất to, hai ba người ngồi trong chum cũng được, muốn vào bên trong chum phải bắc thang leo lên; tiểu, quách rất cứng và đẹp, không bị sứt mẻ. Chum, vại không bị thấm nước; muối dưa không bị khú vì đất được nung đến cứng như sắt mới thôi. Bởi thê gốm làng Thổ Hà rất sắc. Mảnh vỡ của gốm có thể cắt, cứa như dao.

Say xưa kể chuyện nhưng rồi bà lão cũng khẽ bảo, nghề gốm cũng đã mai một mất rồi, có lẽ rồi cũng sẽ mất; làng giờ rất ít thợ gốm, cả làng cũng chỉ còn một lò gốm. Lò ấy làm gốm cũng chỉ để cung cấp cho du lịch mà thôi. Nghề gốm làng bà có lẽ mất, bà nhắc đi nhắc lại. Rồi bà chỉ cho tôi bức tường và ngôi được làm bằng gốm phế phẩm (những sảm phẩm gốm bị lỗi trong quá trình nung) với nỗi niềm đầy hoài niệm, luyến tiếc và cũng như để minh chứng cho những điều mình vừa kể xong; để ký ức được trở về với một thời hoàng kim của nghề gốm Thổ Hà. Kể xong rồi bà lại khoe. Bà khoe làng bà có nghề làm bánh đa (bánh đa dừa và bánh đa nem). Mất nghề gốm nhưng còn được nghề làm bánh đa. Cái nghề ấy thay cho cái nghề làm gốm để làng mưu sinh. Rồi bà chỉ ra, khắp nơi trong làng, chỗ nào cũng có phên phơi bánh đa. Có lẽ bà chẳng chỉ thì du khách đến làng ai cũng trông thấy. Bánh đa phơi bên đường, dựa vào tường nhà, tường rào; trên bờ sông; sân đình, sân chùa … cứ chỗ nào hở đất là có ngay những phên bánh đa phơi nắng, hong gió. Hơn thế nữa bánh đa Thổ Hà cũng nức tiếng trong vùng ai chẳng đã từng nghe. Thế đấy, đất chật, người đông; đồng không, bãi chẳng có … dân Thổ Hà không đi buôn thì cũng làm nghề… Nghề ấy đem lại miếng cơm cho Thổ Hà nhưng cũng làm cho làng cổ vốn thanh bình cũng trở nên bừa bộn. Ngay cả cái chốn tôn nghiêm, nơi thơ tự cũng ngập tràn nhưng phên nứa phơi những chiếc bánh đa. Cũng đành thôi, kế sinh nhai của cả dân làng, biết làm sao?

Lang thang trên “bán đảo” Thổ Hà tôi chợt nhận ra nơi này thật lạ. Lên phường mà chẳng ra “phố”, vẫn cứ mộc mạc thôn quê với bến nước, gốc đa, mái đình … bên cổng làng rêu phong. Nhưng bảo Thổ Hà là thôn quê thì cũng chẳng phải, bởi nông dân ở làng đâu có đồng, có ruộng để trồng lúa, trồng ngô kiếm kế sinh nhai; chẳng những vậy, mật độ dân cư ở Thổ Hà cũng chẳng thua kém gì ở nơi thành phố. Dạo quanh làng Thổ Hà ta cũng thấy hầu như chỉ có đường nhỏ, ngõ nhỏ … dài, sâu hun hút; san sát mái nhà… chẳng khác gì ngõ nhà ở trong phố cổ. Càng nghĩ càng thấy Thổ Hà độc đáo. Đúng là trời sinh, dòng sông Cầu bắt nguồn từ đỉnh Phja Bjoóc thuộc dãy Văn Ôn, trên địa phận tỉnh Thái Nguyên (trước đây là Bắc Kạn) chảy theo hướng Nam thế nào đến Vân Hà lại vặn mình đổi sang hướng Bắc để sinh ra làng Thổ Hà, nhô ra như một bán đảo với ba dề dập dìu sóng nước êm đềm. Cái “bán đảo” ấy tuổi đời nay cũng có đến hàng ngàn năm tuổi. Cái tuổi đời như thế cùng những với mái đình, mái chùa, đền, miếu, bến nước, cổng làng cổ kính và đặc biệt là những ngôi nhà, bờ tường làm bằng sành, bằng gốm …khiến cho Thổ Hà xứng đáng được xem là một làng di sản. Nhưng rồi cũng không biết những ngôi nhà, bờ tường di sản kia có còn trụ được trên “bán đảo” Thổ Hà bao lâu nữa hay lại như số phận của những lò gốm đã từng sinh ra nó. Đi trên ngõ nhỏ Thổ Hà nghĩ vậy, tiếc và hoài niệm!

Bài, ảnh: Phan Anh

Bài viết liên quan

Xem thêm
Hành trình lan tỏa tình yêu biển đảo từ những lá cờ Tổ quốc mang dấu Trường Sa
Giữa mênh mông biển trời, lá cờ Tổ quốc tung bay trên các điểm đảo thuộc Quần đảo Trường Sa không chỉ khẳng định chủ quyền thiêng liêng của Việt Nam, mà còn nhắc nhở mỗi người dân đất Việt về trách nhiệm gìn giữ biển đảo quê hương bằng những hành động thiết thực, từ những điều giản dị nhất.
Xem thêm
Chuyện bây giờ mới kể - Bút ký Trần Trọng Trung
Bác sĩ Lê Trung Hiếu năm nay đã bước vào độ tuổi “nhân sinh thất thập cổ lai hy”, tóc điểm sương trắng mái đầu, nhưng cử chỉ vẫn còn nhanh nhẹn, trí nhớ còn minh mẫn, nói năng từ tốn, rõ ràng… Bác sĩ Hiếu từng trải qua nhiều chức vụ Phó Giám đốc Trung tâm y tế huyện Tam Nông (hiện nay là Trung tâm y tế khu vực Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp) rồi làm Hội Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế Việt Nam… Trước khi về nghỉ hưu, ông giữ chức vụ Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội huyện Tam Nông (hiện nay là Bảo hiểm xã hội cơ sở Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp).
Xem thêm
Trường Sa và những khoảnh khắc bình yên nơi đảo xa
Vẻ đẹp Trường Sa và tinh thần Trường Sa, không dễ nói hết trong một sớm một chiều. Nhân dịp tham gia Đoàn công tác số 14 đến với quần đảo Trường Sa, chúng tôi chọn lựa 14 khoảnh khắc đáng nhớ, để chia sẻ cùng bạn đọc về một Trường Sa xanh mát và kiêu hãnh hôm nay.
Xem thêm
Giữa Trường Sa, tiếng hát hòa vào tiếng sóng
Bảy ngày giữa biển không chỉ để đi qua những hòn đảo, những nhà giàn nơi đầu sóng. Đó còn là hành trình để hiểu thêm về những người lính biển, về sự hy sinh lặng thầm và về cách Trường Sa đi vào trái tim mỗi người.
Xem thêm
Ai mà chẳng biết… Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Nếu hơn 1300 năm trước, một hôm trên bước đường tiêu dao hay giữa một cơn say rượu túy lúy càn khôn nào đó, Lý Bạch đã thốt lên lời cảm khái: Xử thế ngược đại mộng/ Hồ vi lao kỳ sinh (*) thì cũng từ lâu lắm, người bình dân Việt đã từng trải nghiệm, rằng: Sự đời như giấc chiêm bao… Hoặc nếu từ 2400 năm trước ở Hy Lạp cổ đại, lời dặn của triết gia Socrates (về sau được khắc vào đá ở đền thờ Delphi), rằng Connais-toi, toi-même (Know thyself - Hãy tự hiểu chính mình), thì tại phương Đông, mấy mươi năm sau sinh thời của Socrates, nhà quân sự Tôn Võ Tử cũng đã ghi vào binh pháp điều mà bất cứ người cầm quân nào cũng không được quên, là: Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất đãi/ Bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ/ Bất tri bỉ bất tri kỷ, mỗi chiến tất đãi (tức là: Biết mình biết người, trăm trận đánh không thua. Không biết người mà biết mình, một thắng một thua, Không biết người không biết mình, mỗi lần đánh ắt thua).
Xem thêm
Dư âm mùa hạ – Tản văn Đinh Thu Huế
Có lẽ, những mùa hạ oi nồng nhất lại là những năm tháng xa mẹ. Nắng hanh vàng nơi phố thị đôi khi khiến lòng tôi chùng xuống bởi khoảng trống cô đơn. Bỗng dưng nhớ da diết cảm giác thức dậy ở quê nhà, lắng nghe tiếng bước chân mẹ tảo tần lúc tờ mờ sáng, tiếng đàn gà lục cục dưới gốc khế già, hay tiếng gàu nước va vào thành giếng đánh thức cả một vùng thanh âm trong trẻo. Bao rung cảm bình dị ấy cứ vang vọng, để khi đi xa mới nghẹn lòng nhận ra: đó chính là khoảng trời chân phương nhất mà mình thuộc về. Chẳng có bóng râm nào xanh mát và chở che hơn đôi cánh tay của mẹ.
Xem thêm
Cõng hàng về căn cứ - Bút ký của Ngọc Tấn
Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...
Xem thêm
Theo những dấu chân hoài niệm
Gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan (1940–2010) phối hợp với Bảo Tàng Mỹ thuật Đà Nẵng và Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh tổ chức hai cuộc triển lãm: tại Đà Nẵng (09/05/2026 – 16/05/2026) và Tp. Hồ Chí Minh (25/05/2026 – 31/05/2026 trong tháng 5 năm 2026). Triển lãm mang ý nghĩa hồi cố, tưởng niệm và tri ân, do KTS Phan Trường Sơn, con trai và gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan thực hiện, đồng thời giới thiệu đến những người yêu mến mỹ thuật và bạn bè, người thân của họa sĩ tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan, những năm tháng và sắc màu hoài niệm” (Nxb Hội nhà văn), cũng là tên của cuộc triển lãm.
Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm