TIN TỨC
  • Bút ký - Tạp văn
  • Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga

Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-04-19 07:50:15
mail facebook google pos stwis
840 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...

Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.

 

Nhà văn Nguyễn Thị Việt Nga

 

1. Bến K15 là bến gì?

Nhiều năm trước, khi còn rất trẻ, thực sự mỗi lần đến Đồ Sơn tôi cũng chỉ quan tâm đến biển. Nhưng quan tâm đến biển, tôi cũng như nhiều du khách khác, chỉ quanh quẩn nơi bãi tắm. Tôi biết đến bến K15 lại tình cờ từ một chuyến tham quan Vũng Rô (tỉnh Phú Yên cũ), nơi có di tích Bến tàu Không số. Bến tàu Không số ở Vũng Rô là nơi tiếp nhận vũ khí chi viện từ miền Bắc qua con đường Hồ Chí Minh trên biển huyền thoại trong chiến tranh chống Mỹ. Và con đường biển huyền thoại ấy có điểm xuất phát đầu tiên là tại Đồ Sơn (Hải Phòng), với mật danh bến cho tàu xuất phát là Bến K15. Khi ấy, tôi đã ngỡ ngàng trong ý nghĩ: hóa ra nơi mình đến bao lần lại là nơi mình chưa hiểu gì đáng kể... Tôi mới chỉ nghe nhiều về bến Nghiêng ở Đồ Sơn, nơi những tên thực dân Pháp cuối cùng rút chạy khỏi Hải Phòng, cũng là rút chạy khỏi miền Bắc vào ngày 15/5/1955. Và cũng có lúc tôi nhầm lẫn: bến Nghiêng với bến K15 là một!

Nhưng không phải thế!

Xét về vị trí địa lý, Bến Nghiêng chỉ cách Bến K15 một đoạn đường ngắn chừng vài trăm mét. Bến Nghiêng nằm ở chân đồi Nghinh Phong, được thực dân Pháp cho xây dựng năm 1946 với quy mô là một bến cảng quân sự để tiếp nhận các tàu chở vũ khí, phục vụ cho mưu đồ chiến tranh của chúng tại Hải Phòng và cả miền Bắc. Cái tên Bến Nghiêng được người dân gọi bởi vạt bê tông cấu tạo nên bến có độ nghiêng rõ rệt từ mép nước lên tới rìa đường. Trong mưu đồ mở rộng chiến tranh, thực dân Pháp có ý định dồn lực, nạo vét luồng lạch, cải tạo bến Nghiêng thành một cảng lớn nước sâu, có thể tiếp nhận nhiều tàu lớn. Nhưng chưa thực hiện nổi ý đồ đó thì chúng đã thua chạy. Những tên thực dân Pháp cuối cùng thất thểu chạy xuống bến Nghiêng, lên tàu về nước ngày 15/5/1955 cũng là hình ảnh đánh dấu ngày giải phóng thành phố Hải Phòng kiên trung, anh dũng. Bến Nghiêng đã được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch công nhận là Di tích lịch sử kháng chiến cấp Quốc gia vào năm 2009.

Từ bến Nghiêng đi vào chừng 500 mét nữa sẽ đến bến K15. Nếu lấy con đường Vạn Hương chạy dưới chân dải đồi Cửu Long 9 ngọn làm tâm điểm, đi từ phía trung  tâm bãi tắm khu 2 vào thì bến Nghiêng nằm bên phải đường còn bến K15 nằm bên trái, trong vụng Sét, dưới chân đồi Vạn Hoa. Bến K15 có tên gọi đầy đủ là Bến tàu Không số Đồ Sơn. K15 là mật danh, là ký hiệu quân sự lấy từ số của Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ 15 về đường lối và phương pháp Cách mạng miền Nam. Từ những năm 1960, cuộc chiến  chống Mỹ của dân tộc ta đang đi vào giai đoạn vô cùng khốc liệt. Chiến trường miền Nam cần sự chi viện lớn từ miền Bắc cả về sức người, sức của. Những con đường tiếp tế trên bộ bị giặc quần thảo, trút bom đạn liên miên hòng chặt đứt sự chi viện Bắc – Nam.  Trước tình hình đó, ngày 23/10/1961, đoàn 759 (đoàn tàu không số) được thành lập (tiền thân của Lữ đoàn 125 vùng 5 Hải quân hiện nay) với nhiệm vụ nặng nề và vinh quang là mở con đường vận tải chiến lược trên biển, chi viện kịp thời cho chiến trường miền Nam. Con đường Hồ Chí Minh trên biển được ra đời như thế. Và bến K15 là km số 0, là điểm mở đầu của con đường biển huyền thoại ấy.

 

2. Bến K15  trong những tháng năm khói lửa chiến tranh

Chuyến tàu không số đầu tiên rời bến K15 vào đêm 11/10/1962 là con tàu gỗ chở 30 tấn vũ khí, bình tĩnh, bí mật và quyết tâm hướng ra khơi. Gọi là những chuyến tàu không số bởi những con tàu này ngụy trang thành tàu cá, tàu buôn của người dân, không sơn số hiệu lên thân tàu. Chuyến tàu đầu tiên vượt muôn trùng sóng gió và hiểm nguy từ phía kẻ thù đã cập bến Vàm Lũng (Cà Mau) sau 6 ngày đêm – quãng thời gian ngắn kỷ lục so với việc vận chuyển bằng đường bộ dưới mưa bom bão đạn. Chiến tích đầu tiên ấy đã mở ra cả một trang sử mới cho ngành vận tải quân đội. Con đường chi viện được rút ngắn. Sức người, sửc của chi viện cho miền Nam được nhiều hơn, nhanh hơn và hiệu quả hơn. Tuy nhiên, những hiểm nguy rình rập trên đường Hồ Chí Minh trên biển không  phải không căng thẳng. Mỗi chuyến tàu xuất phát đều được xác định nếu lộ mục tiêu các chiến sỹ sẽ sẵn sàng hi sinh để bảo toàn bí mật của tuyến vận tải này. Tinh thần “tất cả vì miền Nam” “tất cả cho tiền tuyến” sục sôi đã  tiếp thêm sức mạnh và quyết tâm cho các chiến sỹ. Xuất phát từ bến K15, họ xác định rất có thể chuyến đi này là chuyến cuối cùng của cuộc đời, nhưng không ai do dự. Trong giai đoạn từ 1962 đến 1975 – khi đất nước hoàn toàn giải phóng, từ bến K15 đã có 88 chuyến tàu anh dũng ra khơi, vận chuyển được gần 5000 tấn vũ khí và hàng nghìn tấn hàng hóa khác chi viện cho chiến trường miền Nam, góp phần làm nên ngày chiến thắng vẻ vang 30/4/1975. Bến K15 đã được công nhận là Di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt vào năm 2024.

 

3. Lời gió thầm thì kể ở Bến K15

Tôi quay lại Bến K15 vào một ngày đặc biệt: Đại lễ hộ quốc tiêu tai, cầu an, cầu siêu anh hùng liệt sỹ, đồng bào tử nạn (từ ngày 29/3 đến 3/4/2026). Đại lễ do  Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam thành phố Hải Phòng tổ chức tại Đài tưởng niệm K15. Không đơn thuần là một đại lễ Phật giáo trang trọng, mà đại lễ này còn là dịp để những người hôm nay hướng về lịch sử, tri ân những người đã ngã xuống vì độc lập dân tộc, vì cuộc sống bình an, vì những tháng ngày bình thường đang tiếp diễn.

Đồ Sơn cuối xuân tiết trời mát mẻ. Gió từ biển thổi vào lồng lộng. Khu tưởng niệm bến K15 vừa được khánh thành khang trang với cụm kiếm trúc nghệ thuật đài tưởng niệm, phù điêu, mô hình tàu không số... Hương hoa ngào ngạt. Phật tử và nhân dân đổ về đông kín khu tưởng niệm mà hàng ngày vốn khá vắng vẻ. Từ phía khơi xa, biển và gió vẫn thầm thì kể...

Gió kể về những con người vô danh đã ngã xuống nơi của biển này. Đồ Sơn từ xa xưa là vùng đất trọng yếu của vùng Đông Bắc tổ quốc với cư dân quần tụ chủ yếu làm nghề ngư nghiệp và trồng cấy. Phải đương đầu với thiên nhiên khắc nghiệt nơi biển cả để kiếm ăn, nên tín ngưỡng của người Đồ Sơn cổ tôn sùng sức mạnh siêu nhiên. Lễ hội chọi trâu ra đời là một hình thức hiến tế của cộng đồng dân cư với các vị thần tối linh nơi cửa biển, cầu mong mưa thuận gió hòa, trời êm bể lặng. Đồ Sơn không chỉ là một vùng đất, vùng biển, Đồ Sơn còn là một trong những cửa ngõ đường biển phía Bắc quan trọng của quốc gia. Cách kinh đô Thăng Long không xa, nếu Đồ Sơn “sóng gió bất kỳ”, chắc chắn kinh thành không bình an. Với vị trí chiến lược trọng yếu ấy, các vương triều phong kiến đều rất quan tâm đến việc phòng thủ ở cửa biển này. Thế kỷ thứ 11, vua Lý Thánh Tông đã nhiều lần tuần du cửa biển Đồ Sơn. Nhận thấy vị trí trọng yếu của nơi này trong chiến lược bảo vệ quốc gia, nhà vua đã cho xây tháp Tường Long trên ngọn núi cao nhất của dãy cửu long Đồ Sơn là núi Long Sơn. Tọa lạc ở độ cao 95,2m so với mực nước biển, tháp Tường Long khi ấy là một công trình đồ sộ, uy nghi với 9 tầng tháp cao 100 thước ta (khoảng 45m) – là tòa tháp cao nhất nước ta thời gian đó. Có nhiều giai thoại đậm chất huyền bí quanh việc việc nhà vua cho xây tháp, nhưng chắc chắn trong tâm trí cuả ngài, việc xây một công trình thờ Phật ở nơi cửa bể đã từng được ghi dấu là nơi Phật giáo du nhập đầu tiên vào đất nước qua con đường biển (dấu tích còn ghi lại ở chùa Hang) chắc chắn không chỉ để tôn vinh Phất giáo và phục vụ nhu cầu tôn giáo của muôn dân, mà ngọn tháp linh thiêng ấy còn là công trình gắn với các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh của đất nước. Trong dân gian còn lưu truyền câu chuyện khi xây xong tòa tháp, đức vua có dặn rằng, hễ nơi đây có biến thì hãy đốt lửa nơi tháp Tường Long, từ kinh đô Thăng Long sẽ nhìn thấy khói, như một ám hiệu để có chi viện kịp thời. Bây giờ chắc chắn từ Hà Nội không thể nhìn thấy tháp Tường Long dẫu trời quang mây tạnh đến đâu, nhưng thuở xa xưa ấy, đứng ở vị trí chân tháp có thể quan sát hết cả một vùng cửa bể Đông Bắc mênh mông, dễ dàng phát hiện những dấu hiệu bất thường nếu có...

Là vùng đất phên giậu nơi cửa biển, cuộc sống mưu sinh của người dân Đồ Sơn gặp không ít nhọc nhằn. Biển cả thăm thẳm vừa bao dung, hào phóng nhưng cũng vừa nghiệt ngã vô cùng trong những trận cuồng phong. Để tồn tại ở đất này, con người phải đổ biết bao mồ hôi, và có khi cả tính mạng của mình. Có những chuyến tàu ra khơi không trở lại. Có nhiều ngư dân đã nằm trong lòng biển lạnh. Có những gia đình lấy ngày ra khơi của cha anh mình là ngày giỗ, bởi không biết họ ngã xuống ngày nào trong chuyến vươn khơi gặp sóng to gió lớn bất kỳ. Biển cả có khi tặng cho con người biết bao tôm cá, cũng có khi trả lại cho họ những vành tang trắng đớn đau. Nhưng những người dân Đồ Sơn vẫn âm thầm bám biển, vẫn kiên cường gây dựng cuộc sống trong vất vả, gian nan. Trong đại lễ cầu siêu, gió từ phía đại dương thổi về mang theo vị mặn mòi của muối biển, cũng là vị mặn mòi của bao giọt nước mắt chia ly. Chúng ta thường nhớ tới công ơn của các anh hùng liệt sỹ ngã xuống trong các cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Nhưng còn linh hồn, còn công ơn của những người dân bình thường ngã xuống trong quá trình mưu sinh để nối dài sự sống, bồi đắp cho hình hài đất nước thêm vạm vỡ, xanh tươi... cũng cần được tri ân sâu sắc. Tên tuổi của họ không được ghi vào sử sách, nhưng những lớp con cháu hôm nay cần ghi nhớ trong tim. Những người dân vô danh ấy cũng như những hạt cát bé nhỏ nơi đại dương mênh mông. Nhưng không có họ, chúng ta không có Tổ quốc hôm nay. Gió kể về nỗi thổn thức của những linh hồn không ngủ ấy. Từ phía khơi xa, những linh hồn ấy vẫn dõi về đất liền quê hương yêu dấu. Đại lễ cầu siêu như một lời tri ân sâu sắc, như sự an ủi, sẻ chia, như lời mời gọi nghĩa tình...

Gió kể về những linh hồn các anh hùng liệt sỹ đã ra đi từ bến K15 trên các con tàu không số. Họ không ngã xuống tại vùng biển này, mảnh đất này, vì đây là nơi con tàu rời bến đầu tiên. Trong suốt mười mấy năm bến K15 hoạt động, chưa một lần bị lộ mục tiêu bởi sự ngụy trang khôn khéo của các chiến sỹ, bởi biển cả và đất trời bao dung khi vụng Sét nằm khá kín đáo ở một góc của Đồ Sơn, với dãy núi cửu long che chở. Nhưng các chiến sĩ trước khi bước chân xuống chuyến tàu không số, đều thầm hiểu rất có thể đó là chuyến đi cuối cùng của đời mình. Những hiểm nguy rình rập dọc đường gồm cả kẻ thù xâm lược điên cuồng sẵn sàng nã đạn bom vào bất cứ mục tiêu nghi vấn nào lẫn thiên nhiên bất trắc, khó lường. Những chuyến tàu không số ngụy trang làm tàu cá khá đơn sơ phải vượt muôn trùng sóng gió để đến với chiến trường miền Nam. Và không ít chiến sỹ đã hi sinh. Không ít những chuyến tàu đã không cập được bến cuối cùng. Bến K15 là bến đầu tiên, nhưng các chiến sỹ trên con tàu không số đều ngầm coi có thể là nơi cuối cùng mình được chào tạm biệt đồng đội trên bờ. Nhưng không ai run sợ. Không ai nản chí. Họ đều hăng hái ra đi với lời thề “tất cả cho tiền tuyến” thiêng liêng. Những bước chân chấp nhận đi vào nơi ranh giới sinh tử mong manh hơn sợi tóc rất dứt khoát, kiên trung. Bến K15 là nơi lưu giữ những dấu chân đẹp nhất...Những dấu chân thanh xuân kiên cường và trung dũng. Những dấu chân của những con người hiến dâng cả đời mình cho Tổ quốc...

Đến Đồ Sơn hôm nay, trước khi mải mê vui đùa cùng sóng biển, chúng ta hãy nhìn Đồ Sơn từ phía khác, phía của lòng tri ân và tưởng nhớ. Hãy đến bến K15 thắp nén tâm hương, nghe gió thầm thì kể về những tháng ngày đã qua, về những con người bám biển bám làng, góp phần làm nên hình hài Tổ quốc, nối dài sự sống nơi đầu sóng ngọn gió; về những người con trung dũng vô song của đất nước, bước xuống bến K15 để mở ra con đường đi thẳng tới độc lập tự do. Nhìn biển từ phía bến K15, thấy biển mặn mòi hơn, đẹp đẽ hơn và sâu nặng ân tình hơn vì thế!

N.T.V.N

Bài viết liên quan

Xem thêm
Đồng xu nhỏ và những chuyến xe – Tùy bút Trương Văn Dân
Lâu lắm, có lẽ gần 30 năm sau tôi mới gặp lại Franco. Sau khi tốt nghiệp, mỗi người mỗi ngả để mưu sinh. Ai cũng đều trải qua những thăng trầm về công việc, đổi nhà, gia đình con cái… thế là chúng tôi mất tin nhau.
Xem thêm
Khoa phục hồi chức năng (A26) vững chuyên môn, sáng y đức
Y học hiện đại có thể kéo dài một nhịp tim, giành lại một mạng sống từ ranh giới sinh tử. Nhưng chính Phục hồi chức năng mới là người trả lại cho nhịp tim ấy một lý do để đập, trả lại cho sự sống ấy một phẩm giá để tồn tại. Bởi cứu sống một con người đã là kỳ tích, nhưng giúp họ tự tay nâng một ly nước, tự bước đi bằng đôi chân mình và sống một cuộc đời độc lập — đó mới là sự hoàn thiện trọn vẹn nhất của y đức.
Xem thêm
Lớn khôn bên cửa từ bi
Bài đăng Văn nghệ Gia Lai
Xem thêm
Mảnh vườn bên suối – Tản văn Nguyễn Hồng Quang
Năm nào cũng vậy, khi những đợt gió mùa đông bắc đầu tiên tràn về rét nhẹ cũng là lúc mẹ tôi cẩn thận lấy từ gác bếp xuống những ống nứa đựng hạt giống. Đó là những hạt cải thìa tròn lẳn, màu nâu bóng được chọn lựa kỹ càng từ những cây cải to nhất, khỏe nhất mùa trước. Khác với hoa cải bẹ hay cải nương có màu vàng tươi, hoa cải thìa lại mang màu trắng tinh khôi, dịu dàng như những vệt mây nhỏ đọng lại giữa vườn chiều. Khi những quả cải nhỏ như quả đỗ xanh chuyển từ màu xanh sang sắc vàng hanh, mẹ cắt cả chùm mang về bó lại, treo bên hiên nhà mươi hôm cho khô rồi mới vò lấy hạt phơi đem cất.
Xem thêm
Bỉ ngạn, một mùa hoa, một đời người – Tùy bút Nguyễn Thị Việt Nga
Bỉ ngạn theo tiếng Hán có nghĩa là bờ bên kia (bỉ: bên kia, ngạn: bờ). Trong cách giải thích của Phật giáo, đối diện với bỉ ngạn là “thử ngạn” bờ bên này. Bờ bên này là thế giới con người đang sống, nơi còn sinh tử, phiền não và mê lầm. Bờ bên kia là cảnh giới vượt thoát khỏi những ràng buộc ấy, là bờ giác ngộ. Trong truyền thống Tịnh Độ tông Nhật Bản, “bỉ ngạn” còn được dùng để chỉ Tây phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà. Bởi vậy, nếu chỉ hiểu bỉ ngạn là “cõi chết” thì có lẽ chúng ta đã làm nghèo đi ý nghĩa của hai chữ ấy.
Xem thêm
Lửa ơi! – Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Trở lại với “đời thường”, thì lửa là phương tiện thân thuộc khi đem đến cho con người cuộc sống dễ chịu hơn, sau thời kỳ sống trong dằng dặc đêm dài tăm tối của thời mông muội. Nói nôm na, thì lửa cho ánh sáng khi tối trời, để nấu ăn, xua đuổi các loài động vật-côn trùng, tạo các tín hiệu liên lạc từ xa… Lửa còn là ngôn ngữ của tình cảm, từ người bình dân Việt…
Xem thêm
Bồng bềnh trên mây – Tản văn Kỳ Nam
Tôi tình cờ “phát hiện” ra chị trong một lần lang thang tác nghiệp với chiếc Cub 50 cà tàng từ thời sinh viên và máy ảnh treo trước ngực. Chiếc xe dành để đi thực địa hôm đó giở chứng lần thứ chín mươi chín - cho đến khi một người xa lạ ngồi lên đạp cần khởi động nó mới chịu nổ máy.
Xem thêm
Đánh mất – Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có những sự phụ bạc không đi kèm tiếng cãi vã, không có kẻ thứ ba hay những cú tát nảy lửa trong một chiều giông bão. Sự phụ bạc tàn nhẫn nhất là khi một người tự nguyện đem trọn tuổi trẻ, xương máu và lòng tin của mình để kê chân cho người kia bước lên đài cao, để rồi khi đứng trên đỉnh vinh quang, kẻ ấy nhẹ nhàng buông tay như gạt đi một giọt sương đọng trên vạt áo...
Xem thêm
Một hải trình để những bến bờ xa gần lại
Khi tàu KN 491 đã cập bến Lữ đoàn 125 sau 8 ngày đi biển, tôi vẫn có cảm giác mình còn lênh đênh trên sóng. Sóng không còn dưới chân, nhưng tiếng sóng vẫn ở trong lòng. Những hòn đảo đã lùi lại phía sau, nhưng từng gương mặt, từng cái bắt tay, từng màu áo lính, từng ngọn đèn trên biển vẫn hiện lên rõ ràng như mới vừa đây thôi.
Xem thêm
Muộn màng - Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có một kiểu âm thanh mà chỉ khi đi qua phân nửa đời người, người ta mới bắt đầu thấy sợ. Đó không phải là tiếng còi xe cấp cứu xé màn đêm, cũng chẳng phải tiếng sấm sét đùng đùng trước cơn giông. Đó là tiếng cái gậy mây gõ tốc... tốc... xuống nền gạch tàu cũ kỹ vào mỗi năm giờ sáng.
Xem thêm
Thương nhớ những mùa trăng – Tản văn Trà Bình
- Ai trong đời cũng có một tuổi thơ hồn nhiên gắn liền với những mùa trăng thật đẹp. Tôi cũng vậy, ánh trăng của những mùa Tết Trung thu năm xưa luôn là miền ký ức dịu dàng, trong trẻo. Bây giờ, dù đã trưởng thành, tôi vẫn giữ nguyên thói quen mong đợi đêm rằm – khoảnh khắc khiến lòng lại ngập tràn niềm vui như thuở bé.
Xem thêm
Bão tháng 9 - Tản văn của Vũ Minh Phúc
Trong tất cả những điều này – như sự nổi giận của nhiên nhiên, bầu không khí an nhiên và trong lành bị nghiêng ngả bởi làn gió thổi liên hoàn không biết từ đẩu từ đâu, mặt trời bị biến dạng, không còn xuất hiện nữa, bức tranh cuộc sống đầy tiếng thở dài nặng nhọc, thậm chí chẳng ai có thể làm nổi việc nữa, mọi thứ đều phải dừng lại – nhưng việc người ta có thể làm trong lúc này là ngồi chờ đợi trong nhà và ước gì bão sẽ qua đi.
Xem thêm
Những ngọn đèn đứng gác trong đêm – Tản văn của Vũ Minh Phúc
Suốt đêm dài, họ không ngủ và như thể còn trong giấc ngủ chập chờn, tôi nói chuyện với họ, về công việc, gia đình, con gái, luôn trong trạng thái lo lắng; và sau một hồi tiếp nhận đủ các thông tin từ trung tâm báo về, họ ngập đầu trong các ca trực, nghe điện thoại, ghi chép nhật ký lịch trình thời gian tàu chạy, giải quyết ùn tắc ở ngã tư và đóng barie chắn ngang, tôi mới hiểu tại sao trong mọi tình huống giao thông nguy hiểm người gác chắn lại trở nên quan trọng hơn đối với tất cả mọi người.
Xem thêm
Tiếng trống ngày khai trường giữa hai thế hệ - Tản văn Nguyễn Đại Duẫn
Sáng nay, tôi đưa cháu đến trường dự lễ khai giảng năm học mới. Con đường đến trường như cũng vui hơn trong tiếng nói cười của trẻ nhỏ; tiếng ồn ào xe cộ, tiếng lao xao của các bậc phụ huynh. Cháu tôi năm nay vào lớp 1, cái tuổi vừa ngỡ ngàng, rụt rè vừa muốn tìm hiểu làm cho tâm trạng cháu vừa hồi hộp vừa náo nức. Cháu mặc bộ quần áo mới, đeo chiếc cặp trên vai, bàn tay nhỏ xíu nắm lấy tay ông. Nhìn cháu nhảy chân sáo bước vào cổng trường, lòng tôi bỗng rộn ràng một niềm vui khó tả.
Xem thêm
Từ mùa thu 1945 đến kỷ nguyên vươn mình của dân tộc – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Trong không gian phát triển mới đầy thách thức và cơ hội đó, mục tiêu chiến lược của Đảng vì con người được thể hiện một cách nhất quán, xuyên suốt và mang tầm vóc đột phá. Trước hết, đó là quyết tâm chính trị cao độ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm an sinh xã hội bền vững, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền để tinh thần không ai bị bỏ lại phía sau trở thành hiện thực sinh động trong từng cộng đồng dân cư.
Xem thêm
Tiếng chim trong vườn bà – Tản văn của Trà Bình
Tôi trở về ngôi nhà cũ của bà vào một buổi chiều mùa hạ. Ngôi nhà cấp bốn nằm nép mình trong xóm nhỏ giờ im lìm, cửa đóng then cài, mái ngói phủ rêu xanh. Tôi chậm rãi bước ra khu vườn trước nhà. Đứng bên gốc vải già còn sót lại vài quả cuối vụ, tôi chợt nghe tiếng chim lảnh lót từ vòm cây vọng xuống, như đánh thức miền ký ức tuổi thơ.
Xem thêm
Pha Đin – Nơi đỉnh trời vương vấn – Bút ký Đào Thị Thu Hiền
Trên cửa ngõ của chiến trường Điện Biên, tôi nghĩ đèo Pha Đin quả là một huyền thoại. Huyền thoại không phải chỉ được hiểu theo nghĩa là một phương pháp sáng tác trong văn học dân gian nhằm giải thích, phân chia ranh giới của hai tỉnh Sơn La và Điện Biên như người Thái từng kể, mà là cách gọi một hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường như người ta nghĩ. Cái hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường ấy không có gì khác ngoài sự khốc liệt của chiến tranh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp để bảo vệ đất nước diễn ra trên con đèo.
Xem thêm
Vận dụng nghệ thuật chỉ huy tác chiến của Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới
Kỷ niệm 115 năm Ngày sinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp (25/8/1911 - 25/8/2026) là dịp để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thành kính tưởng nhớ, tri ân sâu sắc công lao to lớn của vị Tổng Tư lệnh văn võ song toàn, người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Xem thêm
Ngoại tôi – Tản văn Nguyễn Đức Hải
Nhớ hồi nhỏ, ngoại và tụi bạn cùng trang lứa trong ấp lội đồng bắt cá, chân lấm tay bùn vô tư lắm. Bắt được con cá lóc, cả đám gom rơm rạ khô trui ngay bên bờ cỏ, da cá cháy xém, mùi thơm phức lan tỏa trong gió chiều. Cá chín được xé ra nóng hổi, chấm muối ớt cay xé lưỡi, đứa nào cũng hít hà, miệng mồm đen nhẻm. Những ký ức thời tuổi thơ ấy đã làm nên một tuổi trẻ thấm đẫm hồn quê miền Tây, vừa hồn hậu, vừa nguyên sơ. Ngoại mỉm cười, ánh mắt đong đầy bao hoài niệm của một thời đã xa.
Xem thêm
Trái tim xanh của Bắc Kinh
Vào những ngày nóng nắng nhất đầu tháng 8, tôi cùng đoàn nhà văn TP.HCM hăm hở kéo va ly sang Bắc Kinh.
Xem thêm