TIN TỨC
  • Bút ký - Tạp văn
  • Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga

Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-04-19 07:50:15
mail facebook google pos stwis
18 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...

Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.

 

Nhà văn Nguyễn Thị Việt Nga

 

1. Bến K15 là bến gì?

Nhiều năm trước, khi còn rất trẻ, thực sự mỗi lần đến Đồ Sơn tôi cũng chỉ quan tâm đến biển. Nhưng quan tâm đến biển, tôi cũng như nhiều du khách khác, chỉ quanh quẩn nơi bãi tắm. Tôi biết đến bến K15 lại tình cờ từ một chuyến tham quan Vũng Rô (tỉnh Phú Yên cũ), nơi có di tích Bến tàu Không số. Bến tàu Không số ở Vũng Rô là nơi tiếp nhận vũ khí chi viện từ miền Bắc qua con đường Hồ Chí Minh trên biển huyền thoại trong chiến tranh chống Mỹ. Và con đường biển huyền thoại ấy có điểm xuất phát đầu tiên là tại Đồ Sơn (Hải Phòng), với mật danh bến cho tàu xuất phát là Bến K15. Khi ấy, tôi đã ngỡ ngàng trong ý nghĩ: hóa ra nơi mình đến bao lần lại là nơi mình chưa hiểu gì đáng kể... Tôi mới chỉ nghe nhiều về bến Nghiêng ở Đồ Sơn, nơi những tên thực dân Pháp cuối cùng rút chạy khỏi Hải Phòng, cũng là rút chạy khỏi miền Bắc vào ngày 15/5/1955. Và cũng có lúc tôi nhầm lẫn: bến Nghiêng với bến K15 là một!

Nhưng không phải thế!

Xét về vị trí địa lý, Bến Nghiêng chỉ cách Bến K15 một đoạn đường ngắn chừng vài trăm mét. Bến Nghiêng nằm ở chân đồi Nghinh Phong, được thực dân Pháp cho xây dựng năm 1946 với quy mô là một bến cảng quân sự để tiếp nhận các tàu chở vũ khí, phục vụ cho mưu đồ chiến tranh của chúng tại Hải Phòng và cả miền Bắc. Cái tên Bến Nghiêng được người dân gọi bởi vạt bê tông cấu tạo nên bến có độ nghiêng rõ rệt từ mép nước lên tới rìa đường. Trong mưu đồ mở rộng chiến tranh, thực dân Pháp có ý định dồn lực, nạo vét luồng lạch, cải tạo bến Nghiêng thành một cảng lớn nước sâu, có thể tiếp nhận nhiều tàu lớn. Nhưng chưa thực hiện nổi ý đồ đó thì chúng đã thua chạy. Những tên thực dân Pháp cuối cùng thất thểu chạy xuống bến Nghiêng, lên tàu về nước ngày 15/5/1955 cũng là hình ảnh đánh dấu ngày giải phóng thành phố Hải Phòng kiên trung, anh dũng. Bến Nghiêng đã được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch công nhận là Di tích lịch sử kháng chiến cấp Quốc gia vào năm 2009.

Từ bến Nghiêng đi vào chừng 500 mét nữa sẽ đến bến K15. Nếu lấy con đường Vạn Hương chạy dưới chân dải đồi Cửu Long 9 ngọn làm tâm điểm, đi từ phía trung  tâm bãi tắm khu 2 vào thì bến Nghiêng nằm bên phải đường còn bến K15 nằm bên trái, trong vụng Sét, dưới chân đồi Vạn Hoa. Bến K15 có tên gọi đầy đủ là Bến tàu Không số Đồ Sơn. K15 là mật danh, là ký hiệu quân sự lấy từ số của Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ 15 về đường lối và phương pháp Cách mạng miền Nam. Từ những năm 1960, cuộc chiến  chống Mỹ của dân tộc ta đang đi vào giai đoạn vô cùng khốc liệt. Chiến trường miền Nam cần sự chi viện lớn từ miền Bắc cả về sức người, sức của. Những con đường tiếp tế trên bộ bị giặc quần thảo, trút bom đạn liên miên hòng chặt đứt sự chi viện Bắc – Nam.  Trước tình hình đó, ngày 23/10/1961, đoàn 759 (đoàn tàu không số) được thành lập (tiền thân của Lữ đoàn 125 vùng 5 Hải quân hiện nay) với nhiệm vụ nặng nề và vinh quang là mở con đường vận tải chiến lược trên biển, chi viện kịp thời cho chiến trường miền Nam. Con đường Hồ Chí Minh trên biển được ra đời như thế. Và bến K15 là km số 0, là điểm mở đầu của con đường biển huyền thoại ấy.

 

2. Bến K15  trong những tháng năm khói lửa chiến tranh

Chuyến tàu không số đầu tiên rời bến K15 vào đêm 11/10/1962 là con tàu gỗ chở 30 tấn vũ khí, bình tĩnh, bí mật và quyết tâm hướng ra khơi. Gọi là những chuyến tàu không số bởi những con tàu này ngụy trang thành tàu cá, tàu buôn của người dân, không sơn số hiệu lên thân tàu. Chuyến tàu đầu tiên vượt muôn trùng sóng gió và hiểm nguy từ phía kẻ thù đã cập bến Vàm Lũng (Cà Mau) sau 6 ngày đêm – quãng thời gian ngắn kỷ lục so với việc vận chuyển bằng đường bộ dưới mưa bom bão đạn. Chiến tích đầu tiên ấy đã mở ra cả một trang sử mới cho ngành vận tải quân đội. Con đường chi viện được rút ngắn. Sức người, sửc của chi viện cho miền Nam được nhiều hơn, nhanh hơn và hiệu quả hơn. Tuy nhiên, những hiểm nguy rình rập trên đường Hồ Chí Minh trên biển không  phải không căng thẳng. Mỗi chuyến tàu xuất phát đều được xác định nếu lộ mục tiêu các chiến sỹ sẽ sẵn sàng hi sinh để bảo toàn bí mật của tuyến vận tải này. Tinh thần “tất cả vì miền Nam” “tất cả cho tiền tuyến” sục sôi đã  tiếp thêm sức mạnh và quyết tâm cho các chiến sỹ. Xuất phát từ bến K15, họ xác định rất có thể chuyến đi này là chuyến cuối cùng của cuộc đời, nhưng không ai do dự. Trong giai đoạn từ 1962 đến 1975 – khi đất nước hoàn toàn giải phóng, từ bến K15 đã có 88 chuyến tàu anh dũng ra khơi, vận chuyển được gần 5000 tấn vũ khí và hàng nghìn tấn hàng hóa khác chi viện cho chiến trường miền Nam, góp phần làm nên ngày chiến thắng vẻ vang 30/4/1975. Bến K15 đã được công nhận là Di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt vào năm 2024.

 

3. Lời gió thầm thì kể ở Bến K15

Tôi quay lại Bến K15 vào một ngày đặc biệt: Đại lễ hộ quốc tiêu tai, cầu an, cầu siêu anh hùng liệt sỹ, đồng bào tử nạn (từ ngày 29/3 đến 3/4/2026). Đại lễ do  Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam thành phố Hải Phòng tổ chức tại Đài tưởng niệm K15. Không đơn thuần là một đại lễ Phật giáo trang trọng, mà đại lễ này còn là dịp để những người hôm nay hướng về lịch sử, tri ân những người đã ngã xuống vì độc lập dân tộc, vì cuộc sống bình an, vì những tháng ngày bình thường đang tiếp diễn.

Đồ Sơn cuối xuân tiết trời mát mẻ. Gió từ biển thổi vào lồng lộng. Khu tưởng niệm bến K15 vừa được khánh thành khang trang với cụm kiếm trúc nghệ thuật đài tưởng niệm, phù điêu, mô hình tàu không số... Hương hoa ngào ngạt. Phật tử và nhân dân đổ về đông kín khu tưởng niệm mà hàng ngày vốn khá vắng vẻ. Từ phía khơi xa, biển và gió vẫn thầm thì kể...

Gió kể về những con người vô danh đã ngã xuống nơi của biển này. Đồ Sơn từ xa xưa là vùng đất trọng yếu của vùng Đông Bắc tổ quốc với cư dân quần tụ chủ yếu làm nghề ngư nghiệp và trồng cấy. Phải đương đầu với thiên nhiên khắc nghiệt nơi biển cả để kiếm ăn, nên tín ngưỡng của người Đồ Sơn cổ tôn sùng sức mạnh siêu nhiên. Lễ hội chọi trâu ra đời là một hình thức hiến tế của cộng đồng dân cư với các vị thần tối linh nơi cửa biển, cầu mong mưa thuận gió hòa, trời êm bể lặng. Đồ Sơn không chỉ là một vùng đất, vùng biển, Đồ Sơn còn là một trong những cửa ngõ đường biển phía Bắc quan trọng của quốc gia. Cách kinh đô Thăng Long không xa, nếu Đồ Sơn “sóng gió bất kỳ”, chắc chắn kinh thành không bình an. Với vị trí chiến lược trọng yếu ấy, các vương triều phong kiến đều rất quan tâm đến việc phòng thủ ở cửa biển này. Thế kỷ thứ 11, vua Lý Thánh Tông đã nhiều lần tuần du cửa biển Đồ Sơn. Nhận thấy vị trí trọng yếu của nơi này trong chiến lược bảo vệ quốc gia, nhà vua đã cho xây tháp Tường Long trên ngọn núi cao nhất của dãy cửu long Đồ Sơn là núi Long Sơn. Tọa lạc ở độ cao 95,2m so với mực nước biển, tháp Tường Long khi ấy là một công trình đồ sộ, uy nghi với 9 tầng tháp cao 100 thước ta (khoảng 45m) – là tòa tháp cao nhất nước ta thời gian đó. Có nhiều giai thoại đậm chất huyền bí quanh việc việc nhà vua cho xây tháp, nhưng chắc chắn trong tâm trí cuả ngài, việc xây một công trình thờ Phật ở nơi cửa bể đã từng được ghi dấu là nơi Phật giáo du nhập đầu tiên vào đất nước qua con đường biển (dấu tích còn ghi lại ở chùa Hang) chắc chắn không chỉ để tôn vinh Phất giáo và phục vụ nhu cầu tôn giáo của muôn dân, mà ngọn tháp linh thiêng ấy còn là công trình gắn với các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh của đất nước. Trong dân gian còn lưu truyền câu chuyện khi xây xong tòa tháp, đức vua có dặn rằng, hễ nơi đây có biến thì hãy đốt lửa nơi tháp Tường Long, từ kinh đô Thăng Long sẽ nhìn thấy khói, như một ám hiệu để có chi viện kịp thời. Bây giờ chắc chắn từ Hà Nội không thể nhìn thấy tháp Tường Long dẫu trời quang mây tạnh đến đâu, nhưng thuở xa xưa ấy, đứng ở vị trí chân tháp có thể quan sát hết cả một vùng cửa bể Đông Bắc mênh mông, dễ dàng phát hiện những dấu hiệu bất thường nếu có...

Là vùng đất phên giậu nơi cửa biển, cuộc sống mưu sinh của người dân Đồ Sơn gặp không ít nhọc nhằn. Biển cả thăm thẳm vừa bao dung, hào phóng nhưng cũng vừa nghiệt ngã vô cùng trong những trận cuồng phong. Để tồn tại ở đất này, con người phải đổ biết bao mồ hôi, và có khi cả tính mạng của mình. Có những chuyến tàu ra khơi không trở lại. Có nhiều ngư dân đã nằm trong lòng biển lạnh. Có những gia đình lấy ngày ra khơi của cha anh mình là ngày giỗ, bởi không biết họ ngã xuống ngày nào trong chuyến vươn khơi gặp sóng to gió lớn bất kỳ. Biển cả có khi tặng cho con người biết bao tôm cá, cũng có khi trả lại cho họ những vành tang trắng đớn đau. Nhưng những người dân Đồ Sơn vẫn âm thầm bám biển, vẫn kiên cường gây dựng cuộc sống trong vất vả, gian nan. Trong đại lễ cầu siêu, gió từ phía đại dương thổi về mang theo vị mặn mòi của muối biển, cũng là vị mặn mòi của bao giọt nước mắt chia ly. Chúng ta thường nhớ tới công ơn của các anh hùng liệt sỹ ngã xuống trong các cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Nhưng còn linh hồn, còn công ơn của những người dân bình thường ngã xuống trong quá trình mưu sinh để nối dài sự sống, bồi đắp cho hình hài đất nước thêm vạm vỡ, xanh tươi... cũng cần được tri ân sâu sắc. Tên tuổi của họ không được ghi vào sử sách, nhưng những lớp con cháu hôm nay cần ghi nhớ trong tim. Những người dân vô danh ấy cũng như những hạt cát bé nhỏ nơi đại dương mênh mông. Nhưng không có họ, chúng ta không có Tổ quốc hôm nay. Gió kể về nỗi thổn thức của những linh hồn không ngủ ấy. Từ phía khơi xa, những linh hồn ấy vẫn dõi về đất liền quê hương yêu dấu. Đại lễ cầu siêu như một lời tri ân sâu sắc, như sự an ủi, sẻ chia, như lời mời gọi nghĩa tình...

Gió kể về những linh hồn các anh hùng liệt sỹ đã ra đi từ bến K15 trên các con tàu không số. Họ không ngã xuống tại vùng biển này, mảnh đất này, vì đây là nơi con tàu rời bến đầu tiên. Trong suốt mười mấy năm bến K15 hoạt động, chưa một lần bị lộ mục tiêu bởi sự ngụy trang khôn khéo của các chiến sỹ, bởi biển cả và đất trời bao dung khi vụng Sét nằm khá kín đáo ở một góc của Đồ Sơn, với dãy núi cửu long che chở. Nhưng các chiến sĩ trước khi bước chân xuống chuyến tàu không số, đều thầm hiểu rất có thể đó là chuyến đi cuối cùng của đời mình. Những hiểm nguy rình rập dọc đường gồm cả kẻ thù xâm lược điên cuồng sẵn sàng nã đạn bom vào bất cứ mục tiêu nghi vấn nào lẫn thiên nhiên bất trắc, khó lường. Những chuyến tàu không số ngụy trang làm tàu cá khá đơn sơ phải vượt muôn trùng sóng gió để đến với chiến trường miền Nam. Và không ít chiến sỹ đã hi sinh. Không ít những chuyến tàu đã không cập được bến cuối cùng. Bến K15 là bến đầu tiên, nhưng các chiến sỹ trên con tàu không số đều ngầm coi có thể là nơi cuối cùng mình được chào tạm biệt đồng đội trên bờ. Nhưng không ai run sợ. Không ai nản chí. Họ đều hăng hái ra đi với lời thề “tất cả cho tiền tuyến” thiêng liêng. Những bước chân chấp nhận đi vào nơi ranh giới sinh tử mong manh hơn sợi tóc rất dứt khoát, kiên trung. Bến K15 là nơi lưu giữ những dấu chân đẹp nhất...Những dấu chân thanh xuân kiên cường và trung dũng. Những dấu chân của những con người hiến dâng cả đời mình cho Tổ quốc...

Đến Đồ Sơn hôm nay, trước khi mải mê vui đùa cùng sóng biển, chúng ta hãy nhìn Đồ Sơn từ phía khác, phía của lòng tri ân và tưởng nhớ. Hãy đến bến K15 thắp nén tâm hương, nghe gió thầm thì kể về những tháng ngày đã qua, về những con người bám biển bám làng, góp phần làm nên hình hài Tổ quốc, nối dài sự sống nơi đầu sóng ngọn gió; về những người con trung dũng vô song của đất nước, bước xuống bến K15 để mở ra con đường đi thẳng tới độc lập tự do. Nhìn biển từ phía bến K15, thấy biển mặn mòi hơn, đẹp đẽ hơn và sâu nặng ân tình hơn vì thế!

N.T.V.N

Bài viết liên quan

Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm
Những con đường ký ức - Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Những con đường của Hội An là những sợi máu trong tôi. Chúng đã đi qua thời gian, chịu đựng bao thác ghềnh, nhiều lúc ngỡ tan biến như những bào ảnh của lãng quên để rồi cuối cùng vẫn lặng lẽ cất lên tiếng nói mơ hồ của ký ức, nhắc rằng đó là một phần không thể thiếu trong tôi.
Xem thêm
Làm du lịch từ lò gạch Sa Đéc xưa
Vào dịp tết Nguyên đán hàng năm, cứ từ 20 tháng chạp đổ lên, người miền Nam lại lũ lượt tìm về vãn cảnh nhà vườn hoa kiểng Tân Quy Đông (Sa Đéc- Đồng Tháp). Cạnh bên Tân Quy Đông là vùng đất Tân Quy Tây bạt ngàn vườn ruộng được bồi đắp phù sa quanh năm bởi con sông Tiền hiền hoà quê kiểng. Lớp phù sa dày dặn bám trên đồng ruộng lâu năm trở thành lớp đất nâu non (đất sét) dẻo quẹo, là loại nguyên liệu rất tốt để người địa phương nung gạch xây dựng các công trình.
Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm
Viết cho tuổi hai mươi: giữa chênh vênh và hoài bão – Tản văn Phạm Phúc Vinh
“Tuổi hai mươi giống như một cơn mưa rào mùa hạ. Người ta vừa sợ ướt áo, lại vừa muốn đằm mình vào cái mát lạnh của đất trời. Chênh vênh đó, nhưng cũng rực rỡ vô cùng.”
Xem thêm
Thấy gì sau những chiếc xe hút đinh tự nguyện – Tạp bút Trần Đôn
Trong dòng chảy hối hả của giao thông đô thị, đôi khi ta bắt gặp hình ảnh những chiếc xe tự chế gắn thanh nam châm miệt mài rà sát mặt đường để “giải cứu” người đi đường khỏi nạn “đinh tặc”. Hình ảnh ấy đã trở nên quen thuộc ở nhiều nơi.
Xem thêm
Sắc hoa tháng Ba ở Điện Biên - Tản văn Phan Anh
Thời bây giờ, hoa ban không còn là loài hoa độc quyền của Tây Bắc nữa. Người ta đã nhân giống và đưa cây ban về trồng ở khắp mọi nơi. Chỉ riêng ở Hà Nội, cứ mỗi độ xuân về, trong hơi ấm của nắng mới tháng ba, trên đường Điện Biên Phủ, Hoàng Diệu, Thanh Niên, Bắc Sơn, công viên Cầu Giấy, hồ Gươm, hồ Thiền Quang, hồ Tân Xã … người ta thấy nàng công chúa của xứ sở Tây Bắc tưng bừng bung nở trên các vòm cây, đua nhau khoe sắc ngập trời, rồi thoang thoảng gửi hương vào trong không gian êm dịu của mùa xuân; khiến cho chị em không khỏi xốn xang, quên cả cái tiết trời còn chưa hết gió lạnh lẫn mưa bụi mà nô nức sửa soạn áo váy, rủ nhau đi sống ảo làm cho phố phường những nơi ấy cũng trở nên vui tươi, náo nhiệt.
Xem thêm
​Đám rau mùi già tháng Giêng của mẹ - Tạp bút Lê Thị Hiệp
Là một người rất thích rau mùi(người miền Nam gọi là ngò rí) nên mẹ tôi ngay từ lúc còn trẻ cho tận tới nay khi đã về già, bà vẫn luôn duy trì thói quen gieo trồng loại rau gia vị cực kỳ ngon và có mùi thơm vô cùng hấp dẫn này. Mẹ tôi kể rằng, từ khi lấy bố về làm dâu nhà ông bà nội tôi, thì mảnh vườn sau nhà rộng rãi, dẫu có trồng loại rau gì đi chăng nữa thì mẹ vẫn luôn dành ra một khoảng đất màu mỡ gần ngay khu vực cầu ao để gieo trồng rau mùi.
Xem thêm
Chân Mây 3 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Anh kể: Một hôm đang trong cơn tuyệt vọng. Anh cố gượng dậy cho mấy con cá nhỏ trong bể ăn. Bỗng nhiên anh thấy viên cuội lấp lánh đáy bể và chợt nhớ ra. Hôm ở đảo Hòn Dáu anh có nhặt một viên cuội ở bãi biển. Viên cuội vân hoa nhiều màu rất đẹp nhưng nhỏ chỉ bằng ngón chân cái. Mang về anh thả viên cuội vào bể cá và quên.
Xem thêm
Lặng lẽ Tết – Tản văn Lê Trọng Bình
Sau 45 năm đằng đẵng Tết Nam, lần đầu tiên được về quê ăn Tết, cảm giác của tôi như được “chào đời không tiếng khóc” nơi quê cha đất tổ, bởi sinh tôi ra chưa được cái Tết nào thì gia đình đã Nam tiến. Thường thì tâm lý người xa quê đoàn tụ sẽ vui lắm, nhưng trong tôi thì khác hoàn toàn bởi những cung bậc đầu tiên ấy.
Xem thêm
Tình mẫu tử - Trần Thế Tuyển
Nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, Văn chương TP.HCM giới thiệu tản văn “Tình mẫu tử” của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển: một câu chuyện giản dị mà xúc động về tình mẹ.
Xem thêm
Tuổi thơ tôi - Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Có những ký ức tưởng như đã ngủ yên trong quá khứ, nhưng chỉ cần một buổi chiều lặng gió, một mùi hương quen bất chợt thoảng qua, chúng lại trở về nguyên vẹn. Khi ấy, tuổi thơ hiện lên trong tôi như một thước phim cũ – chậm rãi, trong trẻo mà thấm đẫm những rung động rất sâu của một đời người.
Xem thêm