TIN TỨC
  • Bút ký - Tạp văn
  • Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga

Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-04-19 07:50:15
mail facebook google pos stwis
266 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...

Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.

 

Nhà văn Nguyễn Thị Việt Nga

 

1. Bến K15 là bến gì?

Nhiều năm trước, khi còn rất trẻ, thực sự mỗi lần đến Đồ Sơn tôi cũng chỉ quan tâm đến biển. Nhưng quan tâm đến biển, tôi cũng như nhiều du khách khác, chỉ quanh quẩn nơi bãi tắm. Tôi biết đến bến K15 lại tình cờ từ một chuyến tham quan Vũng Rô (tỉnh Phú Yên cũ), nơi có di tích Bến tàu Không số. Bến tàu Không số ở Vũng Rô là nơi tiếp nhận vũ khí chi viện từ miền Bắc qua con đường Hồ Chí Minh trên biển huyền thoại trong chiến tranh chống Mỹ. Và con đường biển huyền thoại ấy có điểm xuất phát đầu tiên là tại Đồ Sơn (Hải Phòng), với mật danh bến cho tàu xuất phát là Bến K15. Khi ấy, tôi đã ngỡ ngàng trong ý nghĩ: hóa ra nơi mình đến bao lần lại là nơi mình chưa hiểu gì đáng kể... Tôi mới chỉ nghe nhiều về bến Nghiêng ở Đồ Sơn, nơi những tên thực dân Pháp cuối cùng rút chạy khỏi Hải Phòng, cũng là rút chạy khỏi miền Bắc vào ngày 15/5/1955. Và cũng có lúc tôi nhầm lẫn: bến Nghiêng với bến K15 là một!

Nhưng không phải thế!

Xét về vị trí địa lý, Bến Nghiêng chỉ cách Bến K15 một đoạn đường ngắn chừng vài trăm mét. Bến Nghiêng nằm ở chân đồi Nghinh Phong, được thực dân Pháp cho xây dựng năm 1946 với quy mô là một bến cảng quân sự để tiếp nhận các tàu chở vũ khí, phục vụ cho mưu đồ chiến tranh của chúng tại Hải Phòng và cả miền Bắc. Cái tên Bến Nghiêng được người dân gọi bởi vạt bê tông cấu tạo nên bến có độ nghiêng rõ rệt từ mép nước lên tới rìa đường. Trong mưu đồ mở rộng chiến tranh, thực dân Pháp có ý định dồn lực, nạo vét luồng lạch, cải tạo bến Nghiêng thành một cảng lớn nước sâu, có thể tiếp nhận nhiều tàu lớn. Nhưng chưa thực hiện nổi ý đồ đó thì chúng đã thua chạy. Những tên thực dân Pháp cuối cùng thất thểu chạy xuống bến Nghiêng, lên tàu về nước ngày 15/5/1955 cũng là hình ảnh đánh dấu ngày giải phóng thành phố Hải Phòng kiên trung, anh dũng. Bến Nghiêng đã được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch công nhận là Di tích lịch sử kháng chiến cấp Quốc gia vào năm 2009.

Từ bến Nghiêng đi vào chừng 500 mét nữa sẽ đến bến K15. Nếu lấy con đường Vạn Hương chạy dưới chân dải đồi Cửu Long 9 ngọn làm tâm điểm, đi từ phía trung  tâm bãi tắm khu 2 vào thì bến Nghiêng nằm bên phải đường còn bến K15 nằm bên trái, trong vụng Sét, dưới chân đồi Vạn Hoa. Bến K15 có tên gọi đầy đủ là Bến tàu Không số Đồ Sơn. K15 là mật danh, là ký hiệu quân sự lấy từ số của Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ 15 về đường lối và phương pháp Cách mạng miền Nam. Từ những năm 1960, cuộc chiến  chống Mỹ của dân tộc ta đang đi vào giai đoạn vô cùng khốc liệt. Chiến trường miền Nam cần sự chi viện lớn từ miền Bắc cả về sức người, sức của. Những con đường tiếp tế trên bộ bị giặc quần thảo, trút bom đạn liên miên hòng chặt đứt sự chi viện Bắc – Nam.  Trước tình hình đó, ngày 23/10/1961, đoàn 759 (đoàn tàu không số) được thành lập (tiền thân của Lữ đoàn 125 vùng 5 Hải quân hiện nay) với nhiệm vụ nặng nề và vinh quang là mở con đường vận tải chiến lược trên biển, chi viện kịp thời cho chiến trường miền Nam. Con đường Hồ Chí Minh trên biển được ra đời như thế. Và bến K15 là km số 0, là điểm mở đầu của con đường biển huyền thoại ấy.

 

2. Bến K15  trong những tháng năm khói lửa chiến tranh

Chuyến tàu không số đầu tiên rời bến K15 vào đêm 11/10/1962 là con tàu gỗ chở 30 tấn vũ khí, bình tĩnh, bí mật và quyết tâm hướng ra khơi. Gọi là những chuyến tàu không số bởi những con tàu này ngụy trang thành tàu cá, tàu buôn của người dân, không sơn số hiệu lên thân tàu. Chuyến tàu đầu tiên vượt muôn trùng sóng gió và hiểm nguy từ phía kẻ thù đã cập bến Vàm Lũng (Cà Mau) sau 6 ngày đêm – quãng thời gian ngắn kỷ lục so với việc vận chuyển bằng đường bộ dưới mưa bom bão đạn. Chiến tích đầu tiên ấy đã mở ra cả một trang sử mới cho ngành vận tải quân đội. Con đường chi viện được rút ngắn. Sức người, sửc của chi viện cho miền Nam được nhiều hơn, nhanh hơn và hiệu quả hơn. Tuy nhiên, những hiểm nguy rình rập trên đường Hồ Chí Minh trên biển không  phải không căng thẳng. Mỗi chuyến tàu xuất phát đều được xác định nếu lộ mục tiêu các chiến sỹ sẽ sẵn sàng hi sinh để bảo toàn bí mật của tuyến vận tải này. Tinh thần “tất cả vì miền Nam” “tất cả cho tiền tuyến” sục sôi đã  tiếp thêm sức mạnh và quyết tâm cho các chiến sỹ. Xuất phát từ bến K15, họ xác định rất có thể chuyến đi này là chuyến cuối cùng của cuộc đời, nhưng không ai do dự. Trong giai đoạn từ 1962 đến 1975 – khi đất nước hoàn toàn giải phóng, từ bến K15 đã có 88 chuyến tàu anh dũng ra khơi, vận chuyển được gần 5000 tấn vũ khí và hàng nghìn tấn hàng hóa khác chi viện cho chiến trường miền Nam, góp phần làm nên ngày chiến thắng vẻ vang 30/4/1975. Bến K15 đã được công nhận là Di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt vào năm 2024.

 

3. Lời gió thầm thì kể ở Bến K15

Tôi quay lại Bến K15 vào một ngày đặc biệt: Đại lễ hộ quốc tiêu tai, cầu an, cầu siêu anh hùng liệt sỹ, đồng bào tử nạn (từ ngày 29/3 đến 3/4/2026). Đại lễ do  Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam thành phố Hải Phòng tổ chức tại Đài tưởng niệm K15. Không đơn thuần là một đại lễ Phật giáo trang trọng, mà đại lễ này còn là dịp để những người hôm nay hướng về lịch sử, tri ân những người đã ngã xuống vì độc lập dân tộc, vì cuộc sống bình an, vì những tháng ngày bình thường đang tiếp diễn.

Đồ Sơn cuối xuân tiết trời mát mẻ. Gió từ biển thổi vào lồng lộng. Khu tưởng niệm bến K15 vừa được khánh thành khang trang với cụm kiếm trúc nghệ thuật đài tưởng niệm, phù điêu, mô hình tàu không số... Hương hoa ngào ngạt. Phật tử và nhân dân đổ về đông kín khu tưởng niệm mà hàng ngày vốn khá vắng vẻ. Từ phía khơi xa, biển và gió vẫn thầm thì kể...

Gió kể về những con người vô danh đã ngã xuống nơi của biển này. Đồ Sơn từ xa xưa là vùng đất trọng yếu của vùng Đông Bắc tổ quốc với cư dân quần tụ chủ yếu làm nghề ngư nghiệp và trồng cấy. Phải đương đầu với thiên nhiên khắc nghiệt nơi biển cả để kiếm ăn, nên tín ngưỡng của người Đồ Sơn cổ tôn sùng sức mạnh siêu nhiên. Lễ hội chọi trâu ra đời là một hình thức hiến tế của cộng đồng dân cư với các vị thần tối linh nơi cửa biển, cầu mong mưa thuận gió hòa, trời êm bể lặng. Đồ Sơn không chỉ là một vùng đất, vùng biển, Đồ Sơn còn là một trong những cửa ngõ đường biển phía Bắc quan trọng của quốc gia. Cách kinh đô Thăng Long không xa, nếu Đồ Sơn “sóng gió bất kỳ”, chắc chắn kinh thành không bình an. Với vị trí chiến lược trọng yếu ấy, các vương triều phong kiến đều rất quan tâm đến việc phòng thủ ở cửa biển này. Thế kỷ thứ 11, vua Lý Thánh Tông đã nhiều lần tuần du cửa biển Đồ Sơn. Nhận thấy vị trí trọng yếu của nơi này trong chiến lược bảo vệ quốc gia, nhà vua đã cho xây tháp Tường Long trên ngọn núi cao nhất của dãy cửu long Đồ Sơn là núi Long Sơn. Tọa lạc ở độ cao 95,2m so với mực nước biển, tháp Tường Long khi ấy là một công trình đồ sộ, uy nghi với 9 tầng tháp cao 100 thước ta (khoảng 45m) – là tòa tháp cao nhất nước ta thời gian đó. Có nhiều giai thoại đậm chất huyền bí quanh việc việc nhà vua cho xây tháp, nhưng chắc chắn trong tâm trí cuả ngài, việc xây một công trình thờ Phật ở nơi cửa bể đã từng được ghi dấu là nơi Phật giáo du nhập đầu tiên vào đất nước qua con đường biển (dấu tích còn ghi lại ở chùa Hang) chắc chắn không chỉ để tôn vinh Phất giáo và phục vụ nhu cầu tôn giáo của muôn dân, mà ngọn tháp linh thiêng ấy còn là công trình gắn với các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh của đất nước. Trong dân gian còn lưu truyền câu chuyện khi xây xong tòa tháp, đức vua có dặn rằng, hễ nơi đây có biến thì hãy đốt lửa nơi tháp Tường Long, từ kinh đô Thăng Long sẽ nhìn thấy khói, như một ám hiệu để có chi viện kịp thời. Bây giờ chắc chắn từ Hà Nội không thể nhìn thấy tháp Tường Long dẫu trời quang mây tạnh đến đâu, nhưng thuở xa xưa ấy, đứng ở vị trí chân tháp có thể quan sát hết cả một vùng cửa bể Đông Bắc mênh mông, dễ dàng phát hiện những dấu hiệu bất thường nếu có...

Là vùng đất phên giậu nơi cửa biển, cuộc sống mưu sinh của người dân Đồ Sơn gặp không ít nhọc nhằn. Biển cả thăm thẳm vừa bao dung, hào phóng nhưng cũng vừa nghiệt ngã vô cùng trong những trận cuồng phong. Để tồn tại ở đất này, con người phải đổ biết bao mồ hôi, và có khi cả tính mạng của mình. Có những chuyến tàu ra khơi không trở lại. Có nhiều ngư dân đã nằm trong lòng biển lạnh. Có những gia đình lấy ngày ra khơi của cha anh mình là ngày giỗ, bởi không biết họ ngã xuống ngày nào trong chuyến vươn khơi gặp sóng to gió lớn bất kỳ. Biển cả có khi tặng cho con người biết bao tôm cá, cũng có khi trả lại cho họ những vành tang trắng đớn đau. Nhưng những người dân Đồ Sơn vẫn âm thầm bám biển, vẫn kiên cường gây dựng cuộc sống trong vất vả, gian nan. Trong đại lễ cầu siêu, gió từ phía đại dương thổi về mang theo vị mặn mòi của muối biển, cũng là vị mặn mòi của bao giọt nước mắt chia ly. Chúng ta thường nhớ tới công ơn của các anh hùng liệt sỹ ngã xuống trong các cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Nhưng còn linh hồn, còn công ơn của những người dân bình thường ngã xuống trong quá trình mưu sinh để nối dài sự sống, bồi đắp cho hình hài đất nước thêm vạm vỡ, xanh tươi... cũng cần được tri ân sâu sắc. Tên tuổi của họ không được ghi vào sử sách, nhưng những lớp con cháu hôm nay cần ghi nhớ trong tim. Những người dân vô danh ấy cũng như những hạt cát bé nhỏ nơi đại dương mênh mông. Nhưng không có họ, chúng ta không có Tổ quốc hôm nay. Gió kể về nỗi thổn thức của những linh hồn không ngủ ấy. Từ phía khơi xa, những linh hồn ấy vẫn dõi về đất liền quê hương yêu dấu. Đại lễ cầu siêu như một lời tri ân sâu sắc, như sự an ủi, sẻ chia, như lời mời gọi nghĩa tình...

Gió kể về những linh hồn các anh hùng liệt sỹ đã ra đi từ bến K15 trên các con tàu không số. Họ không ngã xuống tại vùng biển này, mảnh đất này, vì đây là nơi con tàu rời bến đầu tiên. Trong suốt mười mấy năm bến K15 hoạt động, chưa một lần bị lộ mục tiêu bởi sự ngụy trang khôn khéo của các chiến sỹ, bởi biển cả và đất trời bao dung khi vụng Sét nằm khá kín đáo ở một góc của Đồ Sơn, với dãy núi cửu long che chở. Nhưng các chiến sĩ trước khi bước chân xuống chuyến tàu không số, đều thầm hiểu rất có thể đó là chuyến đi cuối cùng của đời mình. Những hiểm nguy rình rập dọc đường gồm cả kẻ thù xâm lược điên cuồng sẵn sàng nã đạn bom vào bất cứ mục tiêu nghi vấn nào lẫn thiên nhiên bất trắc, khó lường. Những chuyến tàu không số ngụy trang làm tàu cá khá đơn sơ phải vượt muôn trùng sóng gió để đến với chiến trường miền Nam. Và không ít chiến sỹ đã hi sinh. Không ít những chuyến tàu đã không cập được bến cuối cùng. Bến K15 là bến đầu tiên, nhưng các chiến sỹ trên con tàu không số đều ngầm coi có thể là nơi cuối cùng mình được chào tạm biệt đồng đội trên bờ. Nhưng không ai run sợ. Không ai nản chí. Họ đều hăng hái ra đi với lời thề “tất cả cho tiền tuyến” thiêng liêng. Những bước chân chấp nhận đi vào nơi ranh giới sinh tử mong manh hơn sợi tóc rất dứt khoát, kiên trung. Bến K15 là nơi lưu giữ những dấu chân đẹp nhất...Những dấu chân thanh xuân kiên cường và trung dũng. Những dấu chân của những con người hiến dâng cả đời mình cho Tổ quốc...

Đến Đồ Sơn hôm nay, trước khi mải mê vui đùa cùng sóng biển, chúng ta hãy nhìn Đồ Sơn từ phía khác, phía của lòng tri ân và tưởng nhớ. Hãy đến bến K15 thắp nén tâm hương, nghe gió thầm thì kể về những tháng ngày đã qua, về những con người bám biển bám làng, góp phần làm nên hình hài Tổ quốc, nối dài sự sống nơi đầu sóng ngọn gió; về những người con trung dũng vô song của đất nước, bước xuống bến K15 để mở ra con đường đi thẳng tới độc lập tự do. Nhìn biển từ phía bến K15, thấy biển mặn mòi hơn, đẹp đẽ hơn và sâu nặng ân tình hơn vì thế!

N.T.V.N

Bài viết liên quan

Xem thêm
Cái đẹp đời thường trong tranh họa sĩ Vũ Dương - Bút ký Trần Trung Sáng
“Vẽ cuộc đời bằng cảm xúc” là chủ đề chương trình giới thiệu cuốn sách tranh của họa sĩ Vũ Dương do Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ thuật thành phố Đà Nẵng phối hợp với Chi hội Mỹ thuật Việt Nam tại Đà Nẵng và gia đình họa sĩ Vũ Dương tổ chức trong những ngày đầu tháng 5 vừa qua.
Xem thêm
Hành trình lan tỏa tình yêu biển đảo từ những lá cờ Tổ quốc mang dấu Trường Sa
Giữa mênh mông biển trời, lá cờ Tổ quốc tung bay trên các điểm đảo thuộc Quần đảo Trường Sa không chỉ khẳng định chủ quyền thiêng liêng của Việt Nam, mà còn nhắc nhở mỗi người dân đất Việt về trách nhiệm gìn giữ biển đảo quê hương bằng những hành động thiết thực, từ những điều giản dị nhất.
Xem thêm
Chuyện bây giờ mới kể - Bút ký Trần Trọng Trung
Bác sĩ Lê Trung Hiếu năm nay đã bước vào độ tuổi “nhân sinh thất thập cổ lai hy”, tóc điểm sương trắng mái đầu, nhưng cử chỉ vẫn còn nhanh nhẹn, trí nhớ còn minh mẫn, nói năng từ tốn, rõ ràng… Bác sĩ Hiếu từng trải qua nhiều chức vụ Phó Giám đốc Trung tâm y tế huyện Tam Nông (hiện nay là Trung tâm y tế khu vực Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp) rồi làm Hội Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế Việt Nam… Trước khi về nghỉ hưu, ông giữ chức vụ Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội huyện Tam Nông (hiện nay là Bảo hiểm xã hội cơ sở Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp).
Xem thêm
Trường Sa và những khoảnh khắc bình yên nơi đảo xa
Vẻ đẹp Trường Sa và tinh thần Trường Sa, không dễ nói hết trong một sớm một chiều. Nhân dịp tham gia Đoàn công tác số 14 đến với quần đảo Trường Sa, chúng tôi chọn lựa 14 khoảnh khắc đáng nhớ, để chia sẻ cùng bạn đọc về một Trường Sa xanh mát và kiêu hãnh hôm nay.
Xem thêm
Giữa Trường Sa, tiếng hát hòa vào tiếng sóng
Bảy ngày giữa biển không chỉ để đi qua những hòn đảo, những nhà giàn nơi đầu sóng. Đó còn là hành trình để hiểu thêm về những người lính biển, về sự hy sinh lặng thầm và về cách Trường Sa đi vào trái tim mỗi người.
Xem thêm
Ai mà chẳng biết… Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Nếu hơn 1300 năm trước, một hôm trên bước đường tiêu dao hay giữa một cơn say rượu túy lúy càn khôn nào đó, Lý Bạch đã thốt lên lời cảm khái: Xử thế ngược đại mộng/ Hồ vi lao kỳ sinh (*) thì cũng từ lâu lắm, người bình dân Việt đã từng trải nghiệm, rằng: Sự đời như giấc chiêm bao… Hoặc nếu từ 2400 năm trước ở Hy Lạp cổ đại, lời dặn của triết gia Socrates (về sau được khắc vào đá ở đền thờ Delphi), rằng Connais-toi, toi-même (Know thyself - Hãy tự hiểu chính mình), thì tại phương Đông, mấy mươi năm sau sinh thời của Socrates, nhà quân sự Tôn Võ Tử cũng đã ghi vào binh pháp điều mà bất cứ người cầm quân nào cũng không được quên, là: Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất đãi/ Bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ/ Bất tri bỉ bất tri kỷ, mỗi chiến tất đãi (tức là: Biết mình biết người, trăm trận đánh không thua. Không biết người mà biết mình, một thắng một thua, Không biết người không biết mình, mỗi lần đánh ắt thua).
Xem thêm
Dư âm mùa hạ – Tản văn Đinh Thu Huế
Có lẽ, những mùa hạ oi nồng nhất lại là những năm tháng xa mẹ. Nắng hanh vàng nơi phố thị đôi khi khiến lòng tôi chùng xuống bởi khoảng trống cô đơn. Bỗng dưng nhớ da diết cảm giác thức dậy ở quê nhà, lắng nghe tiếng bước chân mẹ tảo tần lúc tờ mờ sáng, tiếng đàn gà lục cục dưới gốc khế già, hay tiếng gàu nước va vào thành giếng đánh thức cả một vùng thanh âm trong trẻo. Bao rung cảm bình dị ấy cứ vang vọng, để khi đi xa mới nghẹn lòng nhận ra: đó chính là khoảng trời chân phương nhất mà mình thuộc về. Chẳng có bóng râm nào xanh mát và chở che hơn đôi cánh tay của mẹ.
Xem thêm
Cõng hàng về căn cứ - Bút ký của Ngọc Tấn
Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...
Xem thêm
Theo những dấu chân hoài niệm
Gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan (1940–2010) phối hợp với Bảo Tàng Mỹ thuật Đà Nẵng và Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh tổ chức hai cuộc triển lãm: tại Đà Nẵng (09/05/2026 – 16/05/2026) và Tp. Hồ Chí Minh (25/05/2026 – 31/05/2026 trong tháng 5 năm 2026). Triển lãm mang ý nghĩa hồi cố, tưởng niệm và tri ân, do KTS Phan Trường Sơn, con trai và gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan thực hiện, đồng thời giới thiệu đến những người yêu mến mỹ thuật và bạn bè, người thân của họa sĩ tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan, những năm tháng và sắc màu hoài niệm” (Nxb Hội nhà văn), cũng là tên của cuộc triển lãm.
Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm