- Bút ký - Tạp văn
- Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?

Ảnh minh họa. Nguồn internet
Trong buổi uống trà, lẽ ra, mỗi người phải tự thực hiện các thao tác cần thiết của việc pha trà cho chính mình như lau chén, chế nước, khuấy trà…, nhưng Ly đã làm tất cả, vì chúng tôi... chưa phải là trà nhân. Giữa buổi trà, có thêm một người bạn đến tham dự. Lời giới thiệu về tên tuổi, công việc của người mới đến được thầy Thông Nhã từ tốn nhắc nhở: Trong cuộc trà, mọi người đều bình đẳng, không phân biệt cao thấp sang hèn (sang-hèn, ấy là nói theo lối thế tục). Nhưng chỉ có vài phút “vi phạm” ngắn ngủi ấy thôi. Còn lại, buổi trà diễn ra yên tĩnh. Chỉ thỉnh thoảng mới có vài câu nói nhỏ, hỏi và giải thích về tên gọi các dụng cụ và ý nghĩa của chúng trong Trà đạo. Bên cạnh mỗi chung trà xanh, chủ nhân đặt một chiếc bánh đậu xanh nhỏ, hình vuông. Theo thói quen, tôi ăn bánh giữa hai hớp trà. Ly nhẹ nhàng: Không thực hiện hai việc lẫn lộn vào nhau: Ăn xong bánh mới uống trà; hoặc ngược lại. Thú vị thật: Vậy là thêm một lần được “vỡ” ra cái sự “mít” của mình. Ngay cả chỉ một cử chỉ nhỏ như vậy mà cũng không bỏ được cái thói lăng xăng gọi là lịch sự, thì hỡi ôi, làm sao dấn bước trên con đường Quay-lại với chính mình (!?). Và tôi chợt nhớ lại để mà hiểu ra, vì sao ngày xưa khi pha trà, ông nội tôi vẫn phải dùng nước mưa hoặc nước suối để lóng. Ấy là, nước không sạch thì tâm không trong. Nước là tấm gương của tình yêu, bước dẫn đến sự bình yên của thế giới, thế giới bên trong của mỗi người và cả thế giới hơn bảy tỉ người chen chúc, giờ đây!
Sau khi uống xong tách trà, Ly kể chuyện: Ở Hà Nội, đã có một số người tự nguyện trở thành môn đệ của Trà đạo. Một cách nghiêm cẩn chứ không phải chạy theo mốt hay “ham vui”. Và chi phái trà mà Ly tham gia chủ trương phải tuân thủ đầy đủ các quy thức chân truyền của Trà đạo. Hai phái khác thì lại chọn cách dung hòa để phù hợp với sinh hoạt vội vàng của cuộc sống hiện đại vốn hối hả. Ấy cũng là điều tất nhiên và… tự nhiên; nhưng có lẽ, khuynh hướng lưu giữ những nguyên tắc truyền thống là hợp lý, vì nó sâu xa và có nhiều “luận cứ” để đứng vững hơn. Thái độ này dường như cần thiết trong nhiều lĩnh vực, nhiều hoạt động xã hội khác. Bởi, khi những thành tựu của văn học, hội họa, âm nhạc... đã trở thành tài sản của cộng đồng trong một giai kỳ nhất định, thì sự “biến chế” sẽ dần dần đưa đến hậu quả là dễ đánh mất chính nó. Ví như những câu kinh Phật được… hát theo giai điệu thánh ca Thiên chúa giáo; hoặc đưa một nội dung sinh hoạt của thế kỷ thứ XXI vào những hình thức đã kiểu thức hóa trong nghệ thuật hát bội thì sẽ buồn cười đến mức nào? Hay là, một ví dụ gần hơn: Hát nhạc Trịnh Công Sơn theo giai điệu pop-rap. Hoặc, diễn bi kịch Shakespeare theo cách… tấu hài Nam bộ? Hẳn nhiên, văn hóa (hiểu theo nghĩa rộng) là sự tiếp biến-dung hoá nhưng không có nghĩa, cái gì cũng có thể “cách tân”. Bởi, những sản phẩm văn hóa ấy đã trở thành sự kết tinh của từng thời kỳ trong suốt chiều dài lịch sử văn minh nhân loại… Bởi, sẽ buồn và hiểm nguy biết mấy, nếu Trà đạo chỉ là của riêng người Nhật, Khổng giáo là độc quyền của Trung Hoa v.v..và v.v..Ấy là cái lý tồn tại của Chung-Riêng mà Riêng-Chung. Không có cái Chung-Riêng ấy, tất cả sẽ chỉ còn là thứ hồn ma vất vưởng trong cơn lốc toàn cầu hóa tối tăm mặt mày…
Nhưng tôi đã bị lạc đề khi định viết một bài báo với số lượng từ quy định, trong khi “lẽ ra”, phải nói sơ qua về lịch sử Trà đạo ở Nhật vốn đã có từ thế kỷ thứ XV, thông qua các nhà sư, như một phương thức luyện Tâm (cùng với Hoa đạo, Thư đạo, Kiếm đạo); rồi phát triển mạnh từ thế kỷ thứ XVII dưới sự xiển dương của Trà sư Furata Oribe... Cũng không ghi lại những thuật ngữ cần biết khi tham dự buổi trà đạo mà Ly đã tận tình giải thích ý nghĩa và các thao tác của trà nhân: việc uống trà chỉ diễn ra trong diện tích khoảng ba chiếc chiếu đôi (tatami), trà thất (sukiya) không chỉ là một nơi chốn cụ thể mà hàm nghĩa rất rộng là tâm thức con người… Nhưng… thôi vậy: tự tha thứ cho sự dốt nát của mình để nghĩ rằng, cả tôi và Phan Văn Cẩm, dù sao, cũng đã có dịp Ngồi-Lại bên chén trà. Nghĩa là, cơ hội để quay về quan sát chính mình trên bước đi hướng về nghĩa sống, khi nâng chén trà của tinh thần nhân ái và hiểu rằng, chỉ có tình yêu mới có thể là phương thuốc giải trừ-xóa bớt những thanh âm cuồng nộ chết chóc của chiến tranh-thù hận. Để biết rằng, còn phải nỗ lực biết bao trên con đường nhận thức về cái-không-nói, cái-không-biết, rồi sau đó, mới có thể hy vọng đặt chân lên bệ-phóng-trực-cảm về cái-không-được (!?).
*
Trên một con đường ở Sài Gòn đang được mở rộng lộ giới, mù mịt khói bụi, có lẽ nhiều khách qua đường chẳng buồn chú ý đến tấm biển quảng cáo Trà đạo, cắm xiêu vẹo bên vỉa hè lổn nhổn cát đá. A, thì ra “nó” cũng đã có mặt ở vài nơi (có khi còn nhiều nơi nữa đấy). Như một mầm sống thầm lặng đang nứt lên từ những ngổn ngang giữa thời đại cơ khí.
*
Trên con-đường-trăng-sáng-ra-về, ngôi chùa và đêm yên tĩnh, sau lưng. Có thể đêm vẫn là đêm của mọi đêm, nhưng dường như đã thầm lặng diễn ra một điều gì: sự bình an còn đọng lại bên trong là hiệu quả của buổi uống trà. Và nếu đã không có được sự “dọn mình” cần thiết của những trà nhân trên lối đi dẫn vào trà thất, thì trên bước chân hướng ra cổng chùa để rồi nhập vào tiếng động xao xác của phố phường, chúng tôi cũng hy vọng rằng, trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, mình đã đặt được nửa bàn chân trên lối ngược thời gian. Để quay về với sự buông bỏ, bước đầu tiên giúp hiểu được chính mình. Còn trà, như một chất uống cụ thể, thì dẫu sao, ngôn ngữ Trà ca của thi sĩ Lô Đồng (778-835) khi uống đến chén thứ bảy dù tạo ra niềm khoái cảm của đời sống thế tục nhưng vẫn luôn hướng đến cái vĩnh hằng: Thất oản khiết bất đắc dã/ Duy giác lưỡng dực tập tập thanh phong sinh/ Bồng Lai Sơn hà tại xứ?/ Ngọc Xuyên Tử, thừa thử thanh phong dục quy khứ (Uống đến chén thứ bảy thì thôi, làm sao uống thêm được nữa? Chỉ nghe gió đang thổi lồng vào dưới hai nách. Núi Bồng Lai ở đâu? Hãy để cho ta cỡi gió mà bay đến đấy)…
Tam Kỳ, 5.2007
N.Đ.N