TIN TỨC

Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-03-26 15:23:00
mail facebook google pos stwis
484 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự  buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?

 

Ảnh minh họa. Nguồn internet

 

Trong buổi uống trà, lẽ ra, mỗi người phải tự thực hiện các thao tác cần thiết của việc pha trà cho chính mình như lau chén, chế nước, khuấy trà…, nhưng Ly đã làm tất cả, vì chúng tôi... chưa phải là trà nhân. Giữa buổi trà, có thêm một người bạn đến tham dự. Lời giới thiệu về tên tuổi, công việc của người mới đến được thầy Thông Nhã từ tốn nhắc nhở: Trong cuộc trà, mọi người đều bình đẳng, không phân biệt cao thấp sang hèn (sang-hèn, ấy là nói theo lối thế tục). Nhưng chỉ có vài phút “vi phạm” ngắn ngủi ấy thôi. Còn lại, buổi trà diễn ra yên tĩnh. Chỉ thỉnh thoảng mới có vài câu nói nhỏ, hỏi và giải thích về tên gọi các dụng cụ và ý nghĩa của chúng trong Trà đạo. Bên cạnh mỗi chung trà xanh, chủ nhân đặt một chiếc bánh đậu xanh nhỏ, hình vuông. Theo thói quen, tôi ăn bánh giữa hai hớp trà. Ly nhẹ nhàng: Không thực hiện hai việc lẫn lộn vào nhau: Ăn xong bánh mới uống trà; hoặc ngược lại. Thú vị thật: Vậy là thêm một lần được “vỡ” ra cái sự “mít” của mình. Ngay cả chỉ một cử chỉ nhỏ như vậy mà cũng không bỏ được cái thói lăng xăng gọi là lịch sự, thì hỡi ôi, làm sao dấn bước trên con đường Quay-lại với chính mình (!?). Và tôi chợt nhớ lại để mà hiểu ra, vì sao ngày xưa khi pha trà, ông nội tôi vẫn phải dùng nước mưa hoặc nước suối để lóng. Ấy là, nước không sạch thì tâm không trong. Nước là tấm gương của tình yêu, bước dẫn đến sự bình yên của thế giới, thế giới bên trong của mỗi người và cả thế giới hơn bảy tỉ người chen chúc, giờ đây!

Sau khi uống xong tách trà, Ly kể chuyện: Ở Hà Nội, đã có một số người tự nguyện trở thành môn đệ của Trà đạo. Một cách nghiêm cẩn chứ không phải chạy theo mốt hay “ham vui”. Và chi phái trà mà Ly tham gia chủ trương phải tuân thủ đầy đủ các quy thức chân truyền của Trà đạo. Hai phái khác thì lại chọn cách dung hòa để phù hợp với sinh hoạt vội vàng của cuộc sống hiện đại vốn hối hả. Ấy cũng là điều tất nhiên và… tự nhiên; nhưng có lẽ, khuynh hướng lưu giữ những nguyên tắc truyền thống là hợp lý, vì nó sâu xa và có nhiều “luận cứ” để đứng vững hơn. Thái độ này dường như cần thiết trong nhiều lĩnh vực, nhiều hoạt động xã hội khác. Bởi, khi những thành tựu của văn học, hội họa, âm nhạc... đã trở thành tài sản của cộng đồng trong một giai kỳ nhất định, thì sự “biến chế” sẽ dần dần đưa đến hậu quả là dễ đánh mất chính nó. Ví như những câu kinh Phật được… hát theo giai điệu thánh ca Thiên chúa giáo; hoặc đưa một nội dung sinh hoạt của thế kỷ thứ XXI vào những hình thức đã kiểu thức hóa trong nghệ thuật hát bội thì sẽ buồn cười đến mức nào? Hay là, một ví dụ gần hơn: Hát nhạc Trịnh Công Sơn theo giai điệu pop-rap. Hoặc, diễn bi kịch Shakespeare theo cách… tấu hài Nam bộ? Hẳn nhiên, văn hóa (hiểu theo nghĩa rộng) là sự tiếp biến-dung hoá  nhưng không có nghĩa, cái gì cũng có thể “cách tân”. Bởi, những sản phẩm văn hóa ấy đã trở thành sự kết tinh của từng thời kỳ trong suốt chiều dài lịch sử văn minh nhân loại… Bởi, sẽ buồn và hiểm nguy biết mấy, nếu Trà đạo chỉ là của riêng người Nhật, Khổng giáo là độc quyền của Trung Hoa v.v..và v.v..Ấy là cái lý tồn tại của Chung-Riêng mà Riêng-Chung. Không có cái Chung-Riêng ấy, tất cả sẽ chỉ còn là thứ hồn ma vất vưởng trong cơn lốc toàn cầu hóa tối tăm mặt mày…

Nhưng tôi đã bị lạc đề khi định viết một bài báo với số lượng từ quy định, trong khi “lẽ ra”, phải nói sơ qua về lịch sử Trà đạo ở Nhật vốn đã có từ thế kỷ thứ XV, thông qua các nhà sư, như một phương thức luyện Tâm (cùng với Hoa đạo, Thư đạo, Kiếm đạo); rồi phát triển mạnh từ thế kỷ thứ XVII dưới sự xiển dương của Trà sư Furata Oribe... Cũng không ghi lại những thuật ngữ cần biết khi tham dự buổi trà đạo mà Ly đã tận tình giải thích ý nghĩa và các thao tác của trà nhân: việc uống trà chỉ diễn ra trong diện tích khoảng ba chiếc chiếu đôi (tatami), trà thất (sukiya) không chỉ là một nơi chốn cụ thể mà hàm nghĩa rất rộng là tâm thức con người… Nhưng… thôi vậy: tự tha thứ cho sự dốt nát của mình để nghĩ rằng, cả tôi và Phan Văn Cẩm, dù sao, cũng đã có dịp Ngồi-Lại bên chén trà. Nghĩa là, cơ hội để quay về quan sát chính mình trên bước đi hướng về nghĩa sống, khi nâng chén trà của tinh thần nhân ái và hiểu rằng, chỉ có tình yêu mới có thể là phương thuốc giải trừ-xóa bớt những thanh âm cuồng nộ chết chóc của chiến tranh-thù hận. Để biết rằng, còn phải nỗ lực biết bao trên con đường nhận thức về cái-không-nói, cái-không-biết, rồi sau đó, mới có thể hy vọng đặt chân lên bệ-phóng-trực-cảm về cái-không-được (!?).

*

Trên một con đường ở Sài Gòn đang được mở rộng lộ giới, mù mịt khói bụi, có lẽ nhiều khách qua đường chẳng buồn chú ý đến tấm biển quảng cáo Trà đạo, cắm xiêu vẹo bên vỉa hè lổn nhổn cát đá. A, thì ra “nó” cũng đã có mặt ở vài nơi (có khi còn nhiều nơi nữa đấy). Như một mầm sống thầm lặng đang nứt lên từ những ngổn ngang giữa thời đại cơ khí.

*

Trên con-đường-trăng-sáng-ra-về, ngôi chùa và đêm yên tĩnh, sau lưng. Có thể đêm vẫn là đêm của mọi đêm, nhưng dường như đã thầm lặng diễn ra một điều gì: sự bình an còn đọng lại bên trong là hiệu quả của buổi uống trà. Và nếu đã không có được sự “dọn mình” cần thiết của những trà nhân trên lối đi dẫn vào trà thất, thì trên bước chân hướng ra cổng chùa để rồi nhập vào tiếng động xao xác của phố phường, chúng tôi cũng hy vọng rằng, trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, mình đã đặt được nửa bàn chân trên lối ngược thời gian. Để quay về với sự buông bỏ, bước đầu tiên giúp hiểu được chính mình. Còn trà, như một chất uống cụ thể, thì dẫu sao, ngôn ngữ Trà ca của thi sĩ Lô Đồng (778-835) khi uống đến chén thứ bảy dù tạo ra niềm khoái cảm của đời sống thế tục nhưng vẫn luôn hướng đến cái vĩnh hằng: Thất oản khiết bất đắc dã/ Duy giác lưỡng dực tập tập thanh phong sinh/ Bồng Lai Sơn hà tại xứ?/ Ngọc Xuyên Tử, thừa thử thanh phong dục quy khứ (Uống đến chén thứ bảy thì thôi, làm sao uống thêm được nữa? Chỉ nghe gió đang thổi lồng vào dưới hai nách. Núi Bồng Lai ở đâu? Hãy để cho ta cỡi gió mà bay đến đấy)…

Tam Kỳ, 5.2007

N.Đ.N

Bài viết liên quan

Xem thêm
Bát pin – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Có những kỷ niệm tưởng đã lùi rất xa vào dĩ vãng, vậy mà chỉ cần một âm thanh quen thuộc bất chợt vang lên là tất cả lại hiện về rõ ràng như mới hôm qua. Với tôi, đó là tiếng nói ấm áp phát ra từ chiếc đài bán dẫn cũ – thứ âm thanh từng thắp sáng những ngày tháng gian khó nơi miền quê chưa có điện. Và mỗi lần nhớ về chiếc đài ấy, tôi lại nhớ đến “bát pin” – một sáng kiến vụng về nhưng chứa đựng biết bao niềm hy vọng của một thời thiếu thốn mà đầy khát khao.
Xem thêm
Dòng suối mát trong rừng Mạn Ngược – Tùy bút Phương Uyên
Quê hương tôi có thể chưa nổi tiếng trên những bản đồ du lịch, nhưng với tôi, dòng suối giữa đại ngàn luôn là món quà đẹp nhất mà thiên nhiên đã ban tặng. Đó là vẻ đẹp của sự giản dị, thuần khiết và bền bỉ, như chính tâm hồn của những con người miền núi luôn chân thành, mộc mạc mà nghĩa tình.
Xem thêm
Mồ hôi và nước mắt tìm kiếm liệt sĩ
Chiến tranh đã lùi vào quá khứ nửa thế kỷ, nhưng dư âm của những năm tháng máu trộn bùn non vẫn còn khắc sâu trên từng tấc đất quê hương, trong tâm trí của triệu triệu người con đất Việt. Những người lính Cụ Hồ, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, những chiến sĩ biệt động và dân quân du kích năm ấy, khi dấn thân ra trận, tuổi đời hãy còn rất trẻ; các anh, các chị mang theo những hoài bão thanh xuân mãnh liệt và cả những ước mơ còn dang dở. Rồi trong khói lửa đạn bom khắc nghiệt, các anh, các chị đã anh dũng ngã xuống, hóa thân thành hồn thiêng sông núi, trở thành một phần máu thịt của đất trời Tổ quốc. Hưởng ứng hành trình 500 ngày đêm tìm kiếm hài cốt và xác định danh tính liệt sĩ đang được triển khai sâu rộng trên toàn quốc, hàng triệu trái tim lại thổn thức, cùng hướng về một cuộc hành trình lặng thầm nhưng vô cùng cao cả: tìm kiếm, đón các anh, các chị về với đất mẹ, về với vòng tay ôm ấp của gia đình, người thân và quê hương xứ sở.
Xem thêm
Sắc tím bàng vuông - Tản văn Nguyễn Thu Hà SG
Tháng sáu, hoa bàng vuông nhà mình năm nay nở đặc bông. Thứ hoa chẳng được bày trưng bao giờ, cứ bung rực ra sắc tím tươi như những lời hẹn ước. Đôi khi em bắt gặp con đứng cạnh lồng chim và đăm đăm ngắm chùm hoa đang rộ. Tiếng con nhồng kêu lanh lảnh “ Cha về! Cha về!” làm thằng bé chợt giật mình…
Xem thêm
Cuộc gặp gỡ kỳ lạ - Bút ký của Vũ Minh Phúc
Năm ấy, tôi được cử lên Điện Biên Phủ để tường thuật về sự kiện 1.000 anh hùng thời đại Hồ Chí Minh. Những con người anh hùng nhất, dũng cảm nhất, hôm ấy giữa Hội trường khang trang rộng lớn, ai cũng thổn thức kể chuyện đời mình. Những tấm huân, huy chương lấp lánh và cao quý nhất trên ngực những người lính già, nó được dành để trao tặng cho những con người đã hy sinh cả cuộc đời mình cho sự nghiệp vĩ đại của Tổ quốc. Cuộc gặp gỡ qua đi, tôi về nhà, nhưng những câu chuyện ấy chẳng bao giờ qua đi, nó như cứ trở đi trở lại trong những giấc mơ.
Xem thêm
Nhà tù Sơn La và cây đào Tô Hiệu
Mỗi lần trở lại nhà tù Sơn La, gót chân tôi như bị níu chặt trước cây đào mang tên người chiến sĩ cộng sản Tô Hiệu. Giống như lần trước, tôi lại trông thấy rất nhiều người vây quanh và lặng yên chụp ảnh bên tấm biển nhỏ cắm ở dưới gốc cây đào. Cội đào cổ thụ kiêu hãnh bên nền móng cổ xưa như thể tựa mình vào vách đá của tù ngục; sừng sững ngay bên lối vào với cành lá tươi xanh, tán xoè rộng khắp như thể đang che chở cho những miền ký ức.
Xem thêm
Trên những nẻo đường tri ân - Ký của Nguyên Hùng
Dọc dải đất miền Trung, nơi từng rung chuyển bởi đạn bom và nước mắt, vẫn còn đó những địa danh đã đi vào tâm thức dân tộc: Trường Sơn, Khe Sanh, Thành cổ Quảng Trị, sông Thạch Hãn, địa đạo Vĩnh Mốc... Mỗi tấc đất, mỗi dòng sông là một trang sử được viết bằng máu của những người lính tuổi hai mươi.
Xem thêm
Em đợi anh về
Dòng sông Vàm Cỏ vẫn miệt mài chảy, nước vẫn trôi đi, thời gian vẫn luân hồi qua từng mùa lá rụng. Nhưng bên bờ sông ấy, có những nỗi nhớ đã hóa đá, có những tình yêu đã vượt thoát khỏi ranh giới của sự sống và cái chết, để trở thành một biểu tượng bất tử. Câu chuyện về người chiến sĩ - liệt sĩ Huỳnh Văn Quên và người con gái Nguyễn Thị Lệ là một minh chứng sâu sắc – một câu chuyện được viết bằng máu, nước mắt và tấm lòng sắt son của người phụ nữ Việt Nam trong khói lửa chiến tranh.
Xem thêm
Nghĩa tình với liệt sĩ
Những ngày này, cả nước cùng tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ, chúng ta lại càng thấm thía hơn về hai chữ “tri ân”. Tri ân không chỉ là những vòng hoa, những nén tâm hương thành kính dâng trên đài tưởng niệm, mà đôi khi còn là những câu chuyện lặng thầm, bền bỉ được thắp sáng từ nghĩa đồng bào, tình đồng đội sâu nặng giữa thời bình.
Xem thêm
Tiếng ghi - ta rung lên ngày ấy - Tản văn Văn Lê Tám
Có những chuyến đi là để trở về, nhưng cũng có những lần trở về chỉ để nhận ra mình đã vĩnh viễn đánh rơi một phần hồn ở lại. Ba mươi năm, một chớp mắt của đất trời, nhưng là hơn nửa đời người đối với nhóm bạn lớp 8A2 ngày ấy trên quê hương Minh Hải.
Xem thêm
Một đêm Bến Hải - Bút ký của Nguyễn Thị Việt Nga
Đặt trong bối cảnh quốc tế hôm nay, khi nhiều nơi trên thế giới vẫn còn tiếng súng, vẫn còn những dòng người rời bỏ quê hương, vẫn còn những đứa trẻ lớn lên giữa đổ vỡ, vẫn còn những đường biên bị biến thành vết thương, một đêm Bến Hải càng trở nên thấm thía. Từ một dòng sông từng là giới tuyến, Việt Nam gửi đi một lời nhắn không ồn ào nhưng bền bỉ: hòa bình không phải là một trạng thái tự nhiên, mà là thành quả của lương tri, của đối thoại, của sự kiềm chế, của lòng nhân ái và của trách nhiệm với tương lai.
Xem thêm
A Pa Chải, một lần đến cả đời thương nhớ
Chúng tôi muốn lưu lại với miền đất ba biên A Pa Chải lắm, nhưng để kịp cho hành trình trở về vào ngày hôm sau nên cũng đành phải chia tay với Sín Thầu trong những luyến tiếc. Tạm biệt “vùng đất bằng phẳng rộng lớn”, nghĩa của từ A Pa Chải theo tiếng địa phương của đồng bào Hà Nhì, chúng tôi khép lại một hành trình khám phá miền cực Tây thân thương của Tổ quốc và mang theo về cả một khoảng trời biên viễn cùng với tâm nguyện sẽ có một ngày được trở lại. Thế đấy, có những vùng đất, có những chuyến đi, dù chỉ một lần chạm mặt mà trong lòng đã thầm gửi lại cả một đời thương nhớ. Có lẽ từ đây, A Pa Chải trong tôi cũng vậy. Nó đã gieo vào lòng tôi những thanh âm bâng khuâng của một miền biên thuỳ, trong niềm thương bản quán chẳng thể nào quên.
Xem thêm
Rạng rỡ tên người
Không chỉ bởi hàng nghìn ánh đèn, những màn hình khổng lồ, những chùm pháo hoa sẽ bừng nở cuối chương trình, mà còn bởi một cái tên đã trở thành ánh sáng dẫn đường cho cả dân tộc suốt hơn một thế kỷ qua.
Xem thêm
Một kết nối nhân văn
Chiều ngày 26 tháng 6 năm 2026, tại Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh diễn ra cuộc gặp mặt, giao lưu giữa lãnh đạo Quân đội với đội ngũ văn nghệ sĩ khu vực phía Nam.
Xem thêm
Nhà văn Sơn Nam: Người chép sử bằng hương rừng, mật đất
Sơn Nam, tên thật Phạm Minh Tài, sinh năm 1926 tại huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang (nay là An Giang) – vùng đất Miệt Thứ với rừng tràm, bưng biền và sông rạch đan xen. Không gian khắc nghiệt ấy sớm hình thành trong ông cảm thức văn hóa đặc biệt về đất đai, lịch sử mở cõi và thân phận con người phương Nam.
Xem thêm
Đừng tiếc lời khen khi dạy trẻ nhỏ
Khi đời sống của mỗi gia đình ngày càng được nâng cao, nhiều gia đình có điều kiện chăm sóc và nuôi dạy con cái được tốt hơn. Giáo dục thời hội nhập hiện nay có nhiều cơ hội được tiếp cận, học hỏi phương pháp giáo dục tiên tiến, khoa học, nhiều bậc phụ huynh đã chú trọng giáo dục cho con nhỏ rất tích cực. Từ cách ứng xử hàng ngày cho đến lời nói, cử chỉ đều được người lớn ý thức khi giao tiếp với con trẻ. Trong quá trình giao tiếp đó, lời nói và đặc biệt là lời khen lại có tác động lớn tới nhận thức và hành vi, tình cảm của trẻ con.
Xem thêm
Trái tim rỉ máu! - Tạp bút Nguyễn Xuân Hương
Năm nay mùa mưa lại đến. Những cơn giông lốc gió cuốn kèm theo những cơn mưa nghe ràn rạt trên đường phố. Giờ đây, gã đã nghỉ hưu không phải bon chen lặn lội trên đường như thuở trước nữa. Trái tim gã đã trả lại nhịp đập bình thường như trước ngày bị bệnh. Và trong những giấc mơ về đêm không còn cảnh trái tim rỉ máu nữa. Cuộc sống cứ bình thản trôi đi mặc cho bão táp phong ba. Mong rằng trái tim gã cứ hoạt động bình thường đến ga cuối cuộc đời gã. Như vậy là mãn nguyện lắm rồi. Xin cảm ơn tất cả mọi người, xin cảm ơn cuộc đời, thật đáng quý biết bao.
Xem thêm
Chuyện về một thương binh nặng – Bút ký Trần Trọng Trung
Nhắc đến thương binh Nguyễn Văn Hữu ngụ xã Bến Lức, tỉnh Tây Ninh là gợi nhớ đến những ký ức hào hùng, cuộc hành trình không giới hạn của Sống đẹp! Ông đã cống hiến cả một thời tuổi trẻ, không quản ngại gian khổ, hy sinh xương trắng, máu đào của bản thân mình chiến đấu chống kẻ thù, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
Xem thêm