TIN TỨC

Bảo Tấn – Thơ và khả năng tiềm ẩn

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-08-05 16:21:28
mail facebook google pos stwis
1536 lượt xem

Châu Hoài Thanh

Bảo Tấn tên thật là Huỳnh Tấn Bảo, khuôn mặt mới trong làng Văn nghệ tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu những năm gần đây.

Gặp Bảo Tấn, cảm xúc đầu tiên khá ấn tượng bởi mái tóc dài cột túm phía sau. Nụ cười luôn trên môi và cách nói chuyện hài hước. Ở đâu có mặt Bảo Tấn là ở đó là vui. Bạn bè thân thiết gọi anh là nhà sáng tạo ngôn ngữ bởi anh có thể nói xuôi ngược, bắt lái từ, hết đưa lên cao lại hạ xuống thấp khiến cho những ai gần anh, thật hoạt ngôn mới có thể đối đáp được.

Sinh năm Bính Thìn 1976. Bảo Tấn là người tài hoa. Vừa là họa sĩ, vừa đam mê viết. Được biết họa sĩ là nghế chính, cho anh thu nhập đủ sống. Bảo Tấn đã có nhiều cuộc triển lãm tranh nơi mình sinh sống với đầu tư khá chăm chút và tỉ mẫn.

Vào Hội Văn học Nghệ thuật chưa lâu thì anh cho ra đời tập thơ Thả trôi nổi buồn năm 2020 khá ấn tượng với chất liệu giấy tốt, nhiều bài thơ nổi bật, độ dày tới 368 trang, bao gồm thơ và nhiều bức ảnh chụp các bức tranh anh vẽ.

Và mới đây thôi, tập thơ thứ 2 của anh ra đời khiến bạn bè Văn nghệ bàn tán xôn xao. Với 109 bài thơ, Ngủ dưới chân em là bước dấn thân mạnh mẽ của Bảo Tấn với con chữ. Nếu như với “Thả trôi nổi buồn” là những cảm xúc ngồn ngộn đan xen, gồm nhiều đề tài, nhiều cách viết thì với Ngủ dưới chân em là sự chỉn chu, sự chắt lọc khá tinh tế. Nói nôm na, như thể khi ta nấu thức ăn, biết nêm nếm các dư vị sao cho vừa khẩu. Nếu so sánh thì cái chất khác người, sự nổi loạn, táo bạo trong thế giới chữ nghĩa từ tập thơ trước vẫn là sự trở lại để tạo nên một Bảo Tấn chẳng giống ai. Một Bảo Tấn đặc biệt trong tập thơ sau.

Đọc bài giới thiệu của nhà thơ Nguyễn Thánh Ngã trong mở đầu tập thơ, tôi tâm đắc nhất là ý niệm, thơ Bảo Tấn là “mùi hương đọng trên cỏ, theo gió đi vào cõi nhân gian”.

Ngủ dưới chân em, ngoài một số bài thơ về đề tài khác như “Mẹ gánh mùa Xuân”, “Mưa Thánh đường”, “Bà Rịa tháng năm”, “Chơ Ro”, “Hương đất”, “Có thể lắm”, chủ thể của tập thơ là những bài thơ tự sự về tình yêu. Những bài thơ với cảm xúc đắm đuối, say mê, sẵn sàng dâng hiến.

Sự tôn sùng Tình Yêu thành vị Thần đã thể hiện ngay từ tiêu đề và cũng là đề của bài thơ: Ngủ dưới chân em:

 “Đêm qua em về khu vườn tôi/ mùi hương đọng trên bông cỏ/ con sâu uống mật say/ sáng nay cuộn tròn nằm ngủ... Sáng nay tôi bung cánh cửa/ vén rèm/ hong ấm chiếu chăn/... xin ở cùng ngôi nhà tôi/ trên chiếc giường xinh trải hoa nguyệt quế/ cho tôi nâng niu gót hài/ ngủ dưới chân em.”

Tác giả luôn đặt chủ thể, một cái “tôi” rất riêng nhưng lại rất chung, rất đời. Anh đã coi Tình yêu là “Thiên thần”, và khi yêu thì vô cùng say đắm, “tôi yêu em/ yêu đến héo mòn”:

“Giai nhân ơi/ ta dại khờ rồi/ xin cho ta đắm/ giữa nụ cười tinh khôi... Tim ta sống lại rồi/ xin cho ta thở nhịp đời lứa đôi/ cho ta ngất giữa đất trời/ đến khi tỉnh lại đôi môi em kề...” (Giai nhân ơi. Tr 65)

Vì yêu nên anh có thể hy sinh cả cuộc đời để chờ đợi:

“Tôi ngồi đợi em/ hoàng hôn đã nhuộm cuống lá/ một chiếc vàng rơi theo gió xuống chiều... Tôi vẫn mãi đợi em, hết một ngày, một tuần, một mùa, một năm, nửa đời hay dài hơn nữa/ dẫu một lát bằng cả trăm năm.” (Mùa thu phỉnh lừa tôi. Tr 67)

Con người, thường khi đã yêu thì có thể bất chấp. Sự táo bạo trong ngôn ngữ đã tạo ra cho thơ Bảo Tấn nét riêng biệt, không lẫn vào đâu được. Có nhiều bài thơ có những câu rất gợi tình:

“Tôi bắt đầu chạm môi hôn/ nụ hoa có thể làm tươm máu cho tim tôi lần nữa/ nhưng tôi sẽ không còn sợ...”

“Cho tôi bầu vú ngọt ngào/ để tôi tìm lại nhiệm màu cuộc yêu..”

“Tôi buồn/ bẻ vụn trăm năm/ để tìm trong ấy một lần dấu yêu/... mảnh nào ráp lại tình say/ bờ môi rạo rực/ đôi tay khát tìm/ mảnh nào khắc cốt ghi tâm/ mảnh nào dang dỡ/ lỡ lần thức thao...” (Tôi buồn. Tr18)

“Em vóc xuống tim tôi ngụm nước/ suối nguồn tình ái đã hồi sinh/ tôi yêu như thể thời non dại/ cháy hết lòng cho những ngày xanh.” (Em gieo hạt thắm. Tr 73)

Có lẽ vì yêu đến thế, say đến thế, hy sinh và dâng hiến đến thế nên khi Tình yêu vỗ cánh bay đi, lại để lại cảm giác đau, buồn và thấm. Đó là  những bài thơ diễn tả cảm xúc mất mát, hụt hẫng:

 “Mùa thu rời đi/ có nhắn lại gì trên chiếc lá/ ... Mùa thu cũng như em/ đi một lần là biền biệt/ còn nhớ chi hẹn thề...” (Chong mắt. Tr 47)

Và lúc này, ngôn từ như được dịp trổ hoa trong thất vọng và đớn đau:

“Em như cây/ không chia nhựa sống cho tôi là lá/ đời như ngâu cho tôi xác lìa cành/ niềm đau cứ thốc vào tim tôi như gió/ tôi quắt queo/ tình vùi ngõ đêm sâu.” (Hàng nghìn thế kỷ. Tr 30)

“Tơ duyên sợi chỉ đã mòn/ cứ ngồi khâu mối tình son đã nhàu... Yêu một người đã xa rồi/ chỉ còn bóng dáng trong lời thơ đau” (Nghèo. Tr 49)

Cái ấn tượng của tôi với Ngủ dưới chân em không hẳn vì các bài thơ được chắt chiu, được nhân cách hóa Tình yêu với các ngôn từ mạnh mẽ, sâu sắc mà vì tôi nhận ra, sự say mê, đắm đuối của Bảo Tấn không hề đem tới sự bi lụy, buồn đau, mất phương hướng cho người đọc. Cái sự yêu đến điên cuồng, yêu hết mình không làm lu mờ cái ý chí vươn lên, sự khát khao cháy bỏng trong con người Bảo Tấn.

Anh nhận ra, thế giới Tình yêu, nếu tồn tại, nếu còn được với nhau thì như ngọn lửa, sẽ cháy bùng lên, mang lại sự hạnh phúc, hơi ấm nhưng nếu “Mùa rời đi, Nỗi buồn có “di căn” hay “Mùa thu” có “phỉnh lừa” đi nữa thì Tình yêu cũng đem đến sự ngọt ngào, yêu thương không tưởng. Theo như anh viết: “Vì những vết thương tình ái/ đều khắc dấu ngọt ngào/ trong nỗi đớn đau...”

Buồn nhưng không não, kiểu như “Đẹp và Buồn” ta thường nói:

“Tôi về úp mặt vào tôi khóc thầm/ nước mắt dẫu có đìa đầm/ nhưng khóc chỉ được vài lần rồi thôi...” (Giận. Tr 96)

“Ta ngồi chơi với nỗi buồn chút nữa/ để kể về em người muôn thuở người dưng.... Ta ngồi chơi với nỗi buồn/ rồi đi tìm kết bạn với niềm vui.” (Ta ngồi chơi với nỗi buồn. Tr 93)

 “Có hôm ngồi ngắm lá thu trên đồi/ mới hay đời cũng là đơn côi/ chiếc theo gió xoay xoay ngay trời/ chiếc theo nước xoáy trên dòng chơi vơi/... có khi ngồi nhớ tình xưa xưa rồi/ mới hay em đã nhập vào hồn tôi/ thì ra cay đắng trộn chung ngọt bùi...” (Kiếp này đơn côi. Tr 46)

Tôi còn ấn tượng bài thơ này bởi nó tựa như một bài hát. Cứ ngân lên, ngân lên làm say đắm lòng người.

Với Bảo Tấn, tình yêu luôn được chào đón, được trân trọng, được nâng niu nhưng nếu không đủ duyên, đủ chín thì khi nó rời đi, ngày vẫn đến, ánh sáng ấm áp sẽ giúp con người xua tan mọi buồn đau, giúp con người lấy lại thăng bằng:

 “Tôi đợi gì ở ban mai/ vừa mở cửa ra tiếng chim rơi trên bụi hồng/ thánh thót/ mặt trời xuyên tia nắng vào đêm/ ... ban mai/ gửi gắm cho tôi niềm hy vọng/ .../ tiếng chim bay trên những đóa hồng/ nắng lấp đầy ngõ tối.” (Mở cửa ban mai. Tr 132)

Khép lại bài thơ cuối của tập thơ Ngủ dưới chân em, có người cho rằng, thơ Bảo Tấn là sự cách tân mới mẻ, tuy nhiên về nghệ thuật, anh đặt chân và mới bắt đầu những thi ảnh mang tính nghệ thuật thơ hiện đại. Tôi đồng tình với ý kiến này và nói thêm: Những từ khơi gợi “Cách điệu” như “di căn” “Ngủ dưới chân em” “Trùng tu nỗi buồn” “Mở cửa ban mai” “Bàn tiệc đêm” “Kí ức cỏ” trong tập thơ vẫn còn dừng lại ở thi ảnh mà chưa thể chạm vào thứ nghệ thuật “tinh hoa” “siêu hình ảnh” như một số nhà thơ khác.  Phải chăng? Đó chỉ là bước khởi đầu trong sự tìm tòi, khai mở để rồi một ngày nào đó anh sẽ cho ra đời nhiều thi phẩm mang tính hiện đại hay hơn nữa.

Đọc hết “Ngủ dưới chân em”, tôi còn rất ấn tượng những bài thơ lục bát của anh với lối gieo khá “trôi” như bài “Hồ đông”, “Thôi em, tôi sợ” hay “Trăng là trăng rụng”... 

Một điều mà tôi còn muốn nói thêm về con người này. Bảo Tấn. Cái tên bút danh đảo ngược khiến ai gọi kiểu gì cũng được vừa là họa sĩ, là nhà thơ, và được biết, anh còn là người hoạt động xã hội thời gian hơn mười lăm năm trước. Những ngày tháng đã qua cho anh nhiều tư liệu về xã hội, con người, tình yêu... Anh không thể tải hết những cảm nhận bằng thơ hay tranh vẽ, nhiều khi anh dấn thân vào thể loại văn xuôi, truyện ngắn. Anh cho ra đời nhiều bài viết ngắn dưới dạng tạp bút, truyện ngắn ngắn. Dù chưa có tiếng vang nhưng cũng là một dấu mốc để mọi người nhìn nhận cái tài năng tiềm ẩn đầy tính nghệ thuật trong con người anh.

Hy vọng những năm tới, ngoài những bức tranh vẽ, anh sẽ cho ra nhiều tác phẩm thơ, truyện ngắn, tạp văn hay và giá trị hơn nữa.

Vũng Tàu 19-6-2024

C.H.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm
Triết lý nhân sinh trong tập thơ “Nghe mùa thay lá” của Hoàng Thân
Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ra mắt tập thơ “Nghe mùa thay lá” của nhà thơ, bác sĩ Hoàng Thân (Trịnh Quang Thân), Hội viên Hội VHNT Quảng Ngãi, Bác sĩ CK II Nội tim mạch, đúng vào dịp kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/2026). Tập thơ là kết quả của một quá trình chiêm nghiệm về thời gian, ký ức và thân phận con người trong dòng chảy biến thiên của đời sống.
Xem thêm
Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân
Đọc những trang viết của Trương Văn Dân, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận của nhà văn với con người và cuộc đời này. Đối thoại là khát vọng được sẻ chia, được thấu hiểu; đồng thời, đó còn là khát vọng tự vấn, tự nhìn lại chính mình của người viết. Từ đối thoại, những ngổn ngang của đời sống, những day dứt của lòng người được mở ra… hun hút cảm xúc nhưng có khi khô khốc “như viên sỏi rơi vào lòng giếng cạn”. Chúng ta đang ở đâu? Chúng ta đã làm gì chính mình? Chúng ta sẽ trở nên thế nào? Chúng ta để lại gì cho mai sau?... Những trăn trở đó uốn vặn trong từng con chữ với vô số câu hỏi khó bề giải đáp. Đó chính là tâm tình, tâm tưởng của Trương Văn Dân gửi gắm với đời.
Xem thêm
Khi lương tri không thể ngủ yên trước thiên nhiên
“Thơ mất ngủ”, bài thơ của TS, nhà thơ, nhạc sĩ Ngọc Lê Ninh, không đến như một tác phẩm mang tính thời sự nhất thời, mà như một nỗi niềm đã được ấp ủ âm thầm suốt nhiều năm, nay trở lại với sức nặng của một lời cảnh tỉnh.
Xem thêm
Thông điệp của nhà văn Vũ Quốc Khánh qua tiểu thuyết Seo Sơn
Quyền lực nếu được trao cho những người có đức có tài sẽ tạo lập nên biết bao điều tốt đẹp. Ngược lại nó lọt vào tay kẻ xấu, thì sẽ gây ra biết bao tội ác và thảm hoạ cho con người.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ
Bài viết của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm đăng Văn nghệ TPHCM số mới nhất, ra ngày 29/1/2
Xem thêm
Vì có em nên đã sinh ra...
Bài viết của nhà thơ Đặng Huy Giang về tập thơ “Khói bụi và cỏ” của Đinh Nho Tuấn, NXB Hội Nhà văn 2026
Xem thêm
Những con chữ cháy đỏ tỏa hương
Bài đăng báo Văn nghệ số 4, ngày 24/1/2026.
Xem thêm
Nghe sóng giữa trùng khơi
Nhắc đến Trương Anh Quốc, những ai quan tâm đến văn chương biển đảo hẳn không còn xa lạ bởi anh đã sớm tạo dấu ấn với đề tài này và nhiều lần được vinh danh ở các cuộc thi.Suốt hơn hai mươi năm bôn ba theo tàu khắp các đại dương, Trương Anh Quốc có được trải nghiệm, nguồn sống và kho tư liệu biển đảo đồ sộ. Điều đó không phải ai đi nhiều như anh cũng viết được nếu không nặng lòng với biển và yêu mến con chữ. Không dừng lại ở những trang viết về những con tàu lênh đênh trên các đại dương, anh quyết thâm nhập thực tế để khai thác đề tài giàn khoan dầu khí. Anh từng thổ lộ rằng đã dành gần bảy năm làm việc trên giàn khoan để ấp ủ chất liệu cho hướng đi mới. Và rồi mới đây, trong quý III năm nay, anh ra mắt tiểu thuyết Trùng khơi nghe sóng, một lần nữa khẳng định sở trường kể chuyện về biển hóm hỉnh, tươi vui, đôi khi nghịch ngợm, tạo sắc thái riêng biệt và cuốn hút.
Xem thêm
Đọc truyện ngắn “Rừng Mắm” của Bình Nguyên Lộc, nhớ thuở cha ông đi mở cõi
Bình Nguyên Lộc (1914 - 1987) là người con của Tân Uyên, vùng đất giàu truyền thống cách mạng của tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông là nhà văn lớn, nhà văn hóa Nam Bộ trong giai đoạn 1945 - 1975. Ông viết hàng trăm cuốn sách, có 30 cuốn đã được xuất bản. Trong gia tài văn chương đồ sộ của ông, truyện ngắn Rừng Mắm là một trong những tác phẩm đặc sắc.
Xem thêm
“Lời đồng vọng” với những áng văn hay
Lời đồng vọng 2 là tập sách mới nhất của nhà phê bình Lê Xuân trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của anh. Có thể nói Lê Xuân là một cây bút đa năng, nhưng thế mạnh của anh vẫn là lĩnh vực phê bình.
Xem thêm