TIN TỨC

Bảo Tấn – Thơ và khả năng tiềm ẩn

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-08-05 16:21:28
mail facebook google pos stwis
1710 lượt xem

Châu Hoài Thanh

Bảo Tấn tên thật là Huỳnh Tấn Bảo, khuôn mặt mới trong làng Văn nghệ tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu những năm gần đây.

Gặp Bảo Tấn, cảm xúc đầu tiên khá ấn tượng bởi mái tóc dài cột túm phía sau. Nụ cười luôn trên môi và cách nói chuyện hài hước. Ở đâu có mặt Bảo Tấn là ở đó là vui. Bạn bè thân thiết gọi anh là nhà sáng tạo ngôn ngữ bởi anh có thể nói xuôi ngược, bắt lái từ, hết đưa lên cao lại hạ xuống thấp khiến cho những ai gần anh, thật hoạt ngôn mới có thể đối đáp được.

Sinh năm Bính Thìn 1976. Bảo Tấn là người tài hoa. Vừa là họa sĩ, vừa đam mê viết. Được biết họa sĩ là nghế chính, cho anh thu nhập đủ sống. Bảo Tấn đã có nhiều cuộc triển lãm tranh nơi mình sinh sống với đầu tư khá chăm chút và tỉ mẫn.

Vào Hội Văn học Nghệ thuật chưa lâu thì anh cho ra đời tập thơ Thả trôi nổi buồn năm 2020 khá ấn tượng với chất liệu giấy tốt, nhiều bài thơ nổi bật, độ dày tới 368 trang, bao gồm thơ và nhiều bức ảnh chụp các bức tranh anh vẽ.

Và mới đây thôi, tập thơ thứ 2 của anh ra đời khiến bạn bè Văn nghệ bàn tán xôn xao. Với 109 bài thơ, Ngủ dưới chân em là bước dấn thân mạnh mẽ của Bảo Tấn với con chữ. Nếu như với “Thả trôi nổi buồn” là những cảm xúc ngồn ngộn đan xen, gồm nhiều đề tài, nhiều cách viết thì với Ngủ dưới chân em là sự chỉn chu, sự chắt lọc khá tinh tế. Nói nôm na, như thể khi ta nấu thức ăn, biết nêm nếm các dư vị sao cho vừa khẩu. Nếu so sánh thì cái chất khác người, sự nổi loạn, táo bạo trong thế giới chữ nghĩa từ tập thơ trước vẫn là sự trở lại để tạo nên một Bảo Tấn chẳng giống ai. Một Bảo Tấn đặc biệt trong tập thơ sau.

Đọc bài giới thiệu của nhà thơ Nguyễn Thánh Ngã trong mở đầu tập thơ, tôi tâm đắc nhất là ý niệm, thơ Bảo Tấn là “mùi hương đọng trên cỏ, theo gió đi vào cõi nhân gian”.

Ngủ dưới chân em, ngoài một số bài thơ về đề tài khác như “Mẹ gánh mùa Xuân”, “Mưa Thánh đường”, “Bà Rịa tháng năm”, “Chơ Ro”, “Hương đất”, “Có thể lắm”, chủ thể của tập thơ là những bài thơ tự sự về tình yêu. Những bài thơ với cảm xúc đắm đuối, say mê, sẵn sàng dâng hiến.

Sự tôn sùng Tình Yêu thành vị Thần đã thể hiện ngay từ tiêu đề và cũng là đề của bài thơ: Ngủ dưới chân em:

 “Đêm qua em về khu vườn tôi/ mùi hương đọng trên bông cỏ/ con sâu uống mật say/ sáng nay cuộn tròn nằm ngủ... Sáng nay tôi bung cánh cửa/ vén rèm/ hong ấm chiếu chăn/... xin ở cùng ngôi nhà tôi/ trên chiếc giường xinh trải hoa nguyệt quế/ cho tôi nâng niu gót hài/ ngủ dưới chân em.”

Tác giả luôn đặt chủ thể, một cái “tôi” rất riêng nhưng lại rất chung, rất đời. Anh đã coi Tình yêu là “Thiên thần”, và khi yêu thì vô cùng say đắm, “tôi yêu em/ yêu đến héo mòn”:

“Giai nhân ơi/ ta dại khờ rồi/ xin cho ta đắm/ giữa nụ cười tinh khôi... Tim ta sống lại rồi/ xin cho ta thở nhịp đời lứa đôi/ cho ta ngất giữa đất trời/ đến khi tỉnh lại đôi môi em kề...” (Giai nhân ơi. Tr 65)

Vì yêu nên anh có thể hy sinh cả cuộc đời để chờ đợi:

“Tôi ngồi đợi em/ hoàng hôn đã nhuộm cuống lá/ một chiếc vàng rơi theo gió xuống chiều... Tôi vẫn mãi đợi em, hết một ngày, một tuần, một mùa, một năm, nửa đời hay dài hơn nữa/ dẫu một lát bằng cả trăm năm.” (Mùa thu phỉnh lừa tôi. Tr 67)

Con người, thường khi đã yêu thì có thể bất chấp. Sự táo bạo trong ngôn ngữ đã tạo ra cho thơ Bảo Tấn nét riêng biệt, không lẫn vào đâu được. Có nhiều bài thơ có những câu rất gợi tình:

“Tôi bắt đầu chạm môi hôn/ nụ hoa có thể làm tươm máu cho tim tôi lần nữa/ nhưng tôi sẽ không còn sợ...”

“Cho tôi bầu vú ngọt ngào/ để tôi tìm lại nhiệm màu cuộc yêu..”

“Tôi buồn/ bẻ vụn trăm năm/ để tìm trong ấy một lần dấu yêu/... mảnh nào ráp lại tình say/ bờ môi rạo rực/ đôi tay khát tìm/ mảnh nào khắc cốt ghi tâm/ mảnh nào dang dỡ/ lỡ lần thức thao...” (Tôi buồn. Tr18)

“Em vóc xuống tim tôi ngụm nước/ suối nguồn tình ái đã hồi sinh/ tôi yêu như thể thời non dại/ cháy hết lòng cho những ngày xanh.” (Em gieo hạt thắm. Tr 73)

Có lẽ vì yêu đến thế, say đến thế, hy sinh và dâng hiến đến thế nên khi Tình yêu vỗ cánh bay đi, lại để lại cảm giác đau, buồn và thấm. Đó là  những bài thơ diễn tả cảm xúc mất mát, hụt hẫng:

 “Mùa thu rời đi/ có nhắn lại gì trên chiếc lá/ ... Mùa thu cũng như em/ đi một lần là biền biệt/ còn nhớ chi hẹn thề...” (Chong mắt. Tr 47)

Và lúc này, ngôn từ như được dịp trổ hoa trong thất vọng và đớn đau:

“Em như cây/ không chia nhựa sống cho tôi là lá/ đời như ngâu cho tôi xác lìa cành/ niềm đau cứ thốc vào tim tôi như gió/ tôi quắt queo/ tình vùi ngõ đêm sâu.” (Hàng nghìn thế kỷ. Tr 30)

“Tơ duyên sợi chỉ đã mòn/ cứ ngồi khâu mối tình son đã nhàu... Yêu một người đã xa rồi/ chỉ còn bóng dáng trong lời thơ đau” (Nghèo. Tr 49)

Cái ấn tượng của tôi với Ngủ dưới chân em không hẳn vì các bài thơ được chắt chiu, được nhân cách hóa Tình yêu với các ngôn từ mạnh mẽ, sâu sắc mà vì tôi nhận ra, sự say mê, đắm đuối của Bảo Tấn không hề đem tới sự bi lụy, buồn đau, mất phương hướng cho người đọc. Cái sự yêu đến điên cuồng, yêu hết mình không làm lu mờ cái ý chí vươn lên, sự khát khao cháy bỏng trong con người Bảo Tấn.

Anh nhận ra, thế giới Tình yêu, nếu tồn tại, nếu còn được với nhau thì như ngọn lửa, sẽ cháy bùng lên, mang lại sự hạnh phúc, hơi ấm nhưng nếu “Mùa rời đi, Nỗi buồn có “di căn” hay “Mùa thu” có “phỉnh lừa” đi nữa thì Tình yêu cũng đem đến sự ngọt ngào, yêu thương không tưởng. Theo như anh viết: “Vì những vết thương tình ái/ đều khắc dấu ngọt ngào/ trong nỗi đớn đau...”

Buồn nhưng không não, kiểu như “Đẹp và Buồn” ta thường nói:

“Tôi về úp mặt vào tôi khóc thầm/ nước mắt dẫu có đìa đầm/ nhưng khóc chỉ được vài lần rồi thôi...” (Giận. Tr 96)

“Ta ngồi chơi với nỗi buồn chút nữa/ để kể về em người muôn thuở người dưng.... Ta ngồi chơi với nỗi buồn/ rồi đi tìm kết bạn với niềm vui.” (Ta ngồi chơi với nỗi buồn. Tr 93)

 “Có hôm ngồi ngắm lá thu trên đồi/ mới hay đời cũng là đơn côi/ chiếc theo gió xoay xoay ngay trời/ chiếc theo nước xoáy trên dòng chơi vơi/... có khi ngồi nhớ tình xưa xưa rồi/ mới hay em đã nhập vào hồn tôi/ thì ra cay đắng trộn chung ngọt bùi...” (Kiếp này đơn côi. Tr 46)

Tôi còn ấn tượng bài thơ này bởi nó tựa như một bài hát. Cứ ngân lên, ngân lên làm say đắm lòng người.

Với Bảo Tấn, tình yêu luôn được chào đón, được trân trọng, được nâng niu nhưng nếu không đủ duyên, đủ chín thì khi nó rời đi, ngày vẫn đến, ánh sáng ấm áp sẽ giúp con người xua tan mọi buồn đau, giúp con người lấy lại thăng bằng:

 “Tôi đợi gì ở ban mai/ vừa mở cửa ra tiếng chim rơi trên bụi hồng/ thánh thót/ mặt trời xuyên tia nắng vào đêm/ ... ban mai/ gửi gắm cho tôi niềm hy vọng/ .../ tiếng chim bay trên những đóa hồng/ nắng lấp đầy ngõ tối.” (Mở cửa ban mai. Tr 132)

Khép lại bài thơ cuối của tập thơ Ngủ dưới chân em, có người cho rằng, thơ Bảo Tấn là sự cách tân mới mẻ, tuy nhiên về nghệ thuật, anh đặt chân và mới bắt đầu những thi ảnh mang tính nghệ thuật thơ hiện đại. Tôi đồng tình với ý kiến này và nói thêm: Những từ khơi gợi “Cách điệu” như “di căn” “Ngủ dưới chân em” “Trùng tu nỗi buồn” “Mở cửa ban mai” “Bàn tiệc đêm” “Kí ức cỏ” trong tập thơ vẫn còn dừng lại ở thi ảnh mà chưa thể chạm vào thứ nghệ thuật “tinh hoa” “siêu hình ảnh” như một số nhà thơ khác.  Phải chăng? Đó chỉ là bước khởi đầu trong sự tìm tòi, khai mở để rồi một ngày nào đó anh sẽ cho ra đời nhiều thi phẩm mang tính hiện đại hay hơn nữa.

Đọc hết “Ngủ dưới chân em”, tôi còn rất ấn tượng những bài thơ lục bát của anh với lối gieo khá “trôi” như bài “Hồ đông”, “Thôi em, tôi sợ” hay “Trăng là trăng rụng”... 

Một điều mà tôi còn muốn nói thêm về con người này. Bảo Tấn. Cái tên bút danh đảo ngược khiến ai gọi kiểu gì cũng được vừa là họa sĩ, là nhà thơ, và được biết, anh còn là người hoạt động xã hội thời gian hơn mười lăm năm trước. Những ngày tháng đã qua cho anh nhiều tư liệu về xã hội, con người, tình yêu... Anh không thể tải hết những cảm nhận bằng thơ hay tranh vẽ, nhiều khi anh dấn thân vào thể loại văn xuôi, truyện ngắn. Anh cho ra đời nhiều bài viết ngắn dưới dạng tạp bút, truyện ngắn ngắn. Dù chưa có tiếng vang nhưng cũng là một dấu mốc để mọi người nhìn nhận cái tài năng tiềm ẩn đầy tính nghệ thuật trong con người anh.

Hy vọng những năm tới, ngoài những bức tranh vẽ, anh sẽ cho ra nhiều tác phẩm thơ, truyện ngắn, tạp văn hay và giá trị hơn nữa.

Vũng Tàu 19-6-2024

C.H.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm