TIN TỨC

Cảm thức quê hương, từ những tản văn đậm hồn quê

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-08-09 23:05:53
mail facebook google pos stwis
606 lượt xem

Trần Quang Khanh

Ai đó từng nói: “Trong vũ trụ có nhiều kỳ quan, nhưng kỳ quan tuyệt phẩm nhất đó là trái tim người mẹ”. Tình yêu của mẹ đẹp đẽ, thiêng liêng và bao la chẳng có bến bờ. Có mẹ, ta như có tất cả. Khi mẹ vắng xa cuộc sống sẽ đầy nỗi buồn thương, chán chường, tiếc nuối… Thời gian có chờ đợi ai bao giờ…

Bìa tập tản văn “Trong sương thương má” của Nhà văn Trương Chí Hùng

 

Cảm giác mất mát sâu lắng ấy bất chợt rung lên khi tôi đọc quyển tản văn “Trong sương thương má” của Trương Chí Hùng – hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, giảng viên trường Đại học An Giang. Trương Chí Hùng từng gây chú ý khi đoạt giải nhất bút ký của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long năm 2017 và sau đó được trao Tặng thưởng bút ký hay nhất năm 2022 của Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Tập sách do NXB Kim Đồng ấn hành, cảm hứng chủ đạo là những tâm tư, cảm xúc sâu lắng, những giãi bày trên chuyến hành trình ngược thời gian về với những ngày thơ, bên gia đình có người mẹ dấu yêu. Tất cả lung linh, bàng bạc những trăn trở, yêu thương, hoài niệm…

Giọng văn đậm nét miền Tây Nam Bộ, hòa quyện với những từ ngữ đậm đặc hương vị bản xứ. Những con người, câu chuyện, từ ngữ địa phương của vùng biên giới An Giang hiện lên chân thật, gần gũi, sinh động.

Đọc “Những nghề hạ bạc”, ắt hẳn độc giả đã thấy rõ nét tâm hồn “chân quê” của tác giả. Nhiều từ, cụm từ đậm màu sắc dân gian được lồng ghép, diễn giải, kể lại dễ hiểu, dễ tạo nên sự đồng cảm. Những hình ảnh đậm hồn Nam Bộ được tác giả tái hiện như: “Thả xuồng xuôi dòng nước mênh mông…”, “đến mùa nước nổi, tôi thích nhất là được bơi xuồng đi bẻ cà na, đi câu cá, hay đi hái điên điển, rau muống… Tháng nước mà, ở nhà buồn chết!”, “Tôi muốn tìm lại những hình ảnh thân thuộc trước kia. Nhưng hôm nay đồng quê sao vắng vẻ… Chiếc xuồng của tôi dường như lạc lõng giữa biển nước bao la”… Với bút pháp đối lập, tác giả đã tạo nên nỗi cô đơn quạnh quẽ, lạc lõng của “tâm hồn tôi” với cả một vùng biển nước mênh mông. Tác giả cảm thấy mình nhỏ bé như tuổi ấu thơ ngày nào, và giờ sao quá đỗi cô liêu và quạnh vắng. Một nỗi niềm tiếc nuối trong đêm, “một mình tôi thả xuồng xuôi theo dòng nước mênh mông…”. Những cảnh vật xưa nay còn đâu… Những cố nhân… đã đi xa biền biệt. Cách dẫn dắt bạn đọc vào chuyện kể cũng rất nhẹ nhàng, khéo léo: “Mỗi năm, khi cơn gió Nam đưa nước lớn về, cánh đồng tôi lại trổ vàng bông điên điển… Cứ việc hái rổ bông vàng tươi vô nấu canh chua cá lóc là tôi khoái” (Khúc ca trên sông vắng)

Đọc Trương Chí Hùng, như bị cuốn hút về một vùng trời bình yên xa thẳm của hồi ức. Đong đầy những kỷ niệm sống lại trong tâm trí. Nhiều chi tiết thật sâu lắng, cảm động: “Má đong mấy lon gạo về nấu cơm. Mà cũng không quên mua cho tôi một cái bánh in, bánh da lợn hay vài cục kẹo… Cả nhà tôi lại quây quần bên bữa cơm chiều đạm bạc, trong căn nhà chật hẹp nhìn nhau ngao ngán. Lon gạo cuối cùng cũng nấu hết. Cả nhà lại ăn độn rau muống, bông súng trừ cơm…”. Sự hy sinh tảo tần của người mẹ kiếm sống trên mạn thuyền như nỗi ám ảnh ăn sâu vào tiềm thức của  “tôi”. Đó là dòng hồi tưởng miên man, thấm đẫm niềm hoài cảm ngậm ngùi: “Lâu lắm rồi tôi không còn được nghe tiếng rao của má văng vẳng cả một khúc sông quê. Và mãi mãi, tiếng rao ấy chỉ còn trong ký ức. Ngày má về trời, mưa rơi trắng cả một dòng sông…”. Nhiều đoạn văn dung dị mà đẹp đến nao lòng: “Quanh ngôi mộ má tôi, ba cũng trồng mấy hàng điên điển. Có lẽ ba không muốn sóng vỗ làm má trở giấc”.

Hầu hết tác phẩm trong tập sách đều mang đến cảm xúc chân thành và sâu lắng. Cảm xúc đẹp, lắng đọng lại khi chạm vào những dòng cuối: “Thèm cái không gian yên ắng và một câu vọng cổ biết chừng nào!”, “Bất giác, tôi nghe như tiếng rao của má còn lanh lảnh đâu đây”… Hay với những cái kết giàu triết lý nhân sinh: “Đất không chỉ quý giá như bạc vàng mà còn hơn thế nữa. Bởi đất rất thiêng liêng…”

Vượt thoát lên trên tất cả là tình cảm gia đình, tình yêu thương thiết tha dành cho người mẹ thân yêu đã mất. Ta sẽ bắt gặp những dòng viết đầy rung cảm, với bao nỗi niềm luôn bị giấu kín. Như trong “Bữa nay có tôm ngon lắm”, từng con chữ bỗng cứ thế nghẹn ngào: “Ba ơi, má ơi vể ăn cơm với con nè. Bữa nay có tôm ngon lắm! Khấn xong nước mắt chực trào ra…”. Lời kể và lời thoại như không hề có sự tách bạch rõ ràng. Ai đã đọc qua sẽ khó kìm nén được nỗi xúc động.

Cách hành văn mạch lạc, khúc chiết, gãy gọn của tác giả Trương Chí Hùng cứ thế truyền cảm xúc đi thẳng vào trái tim bạn đọc, hơn là những phô diễn ý tưởng, kỹ thuật hành văn. Tôi có cảm giác như anh viết cực nhanh. Về mặt ngữ pháp, cách diễn đạt khá chỉn chu, sắp xếp ý tưởng trình bày trong các đoạn văn liền mạch, tạo cảm giác tự nhiên, chân thật dù đôi khi có sự đan xen giữa quá khứ lẫn hiện tại. Cái kết của mỗi tác phẩm nhẹ nhàng, giàu chất thơ và đầy lắng đọng. “Trong sương thương má” bình dị, thân thuộc như chính góc quê thân thuộc của mỗi người. Tác phẩm truyền cảm hứng cho những yêu thương chân thành và giàu tính giáo dục.

Đi qua hết các tác phẩm nơi tập sách, tác giả như vẫn luôn hướng về những vẻ đẹp của con người và tạo vật thiên nhiên, về những hồn hậu đặc trưng của vùng đất miền Tây Nam Bộ. Anh nhận định: “Miền Tây vẫn đọng lại trong tôi biết bao điều tốt đẹp. Cái đẹp của tình đất tình người”. Chúng ta như được sống cùng với tác giả, cảm thấy mình như người bạn thân thiết với tác giả, như hòa nhập vào các chi tiết, hình ảnh, được sống với dòng hồi ức đẹp, thấm đậm chất thi vị của tình mẫu tử thiêng liêng, tình người chân thật cao quý, giữa bao đổi thay, mất mát… Đồng thời là bao cảm xúc mãnh liệt, tràn đầy về tình cảm gia đình, tình quê hương luôn thiết tha, sâu nặng.

Đọc văn của Trương Chí Hùng chúng ta thấy những gì thân thiết nhất của tuổi thơ đều có sức bừng tỏa, dịu dàng nâng đỡ ta suốt cả cuộc đời. Tình yêu thương, lòng biết ơn là biểu hiện của tình cảm gắn bó sâu sắc của con người với gia đình, quê hương xứ sở… Bông điên điển, chiếc xuồng nhỏ, dòng sông… là quê hương, nguồn cội của nhà văn.

Và mẹ cũng chính là quê hương…

T.Q.K

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm