TIN TỨC

Vẻ đẹp tình người và nỗi niềm ưu tư trong thơ Phạm Nguyên Thạch

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-08-17 14:58:52
mail facebook google pos stwis
711 lượt xem

Trần Quang Khanh

Một trong những cánh én đầu đàn của văn học An Giang - nhà thơ Phạm Nguyên Thạch, anh sinh năm 1948, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, nguyên Phó Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật An Giang và hiện là Chi hội trưởng Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh An Giang. Anh sáng tác từ trước năm 1975. Từ đó đến nay, nhà thơ đã có những tác phẩm tạo tiếng vang được xuất bản: “Ngôi nhà lợp ngói âm dương” (Văn Nghệ AG, 1986); “Theo tình” (VNAG, 1994); “Gió” (NXB Trẻ, 1999); “Thị trấn đá” (VNAG, 2002); “Cỏ lá quẩn quanh” (VNAG, 2006); “Mưa ảo” (NXB Hội Nhà văn, 2019).

Nhà thơ Phạm Nguyên Thạch

Gần đây, tôi tình cờ đọc được chùm thơ của anh được in trong “Tuyển tập kỷ niệm 10 năm thành lập - Diễn đàn VHNT Bông Tràm” do nhà thơ, nhạc sĩ Phan Võ Hoàng Nam gửi tặng. Giữa nhiều tác phẩm hay, đặc sắc của các gương mặt ở khắp mọi miền đất nước, dừng lại trước chùm thơ của Phạm Nguyên Thạch, tôi bỗng lặng đi trước những câu chữ trở trăn, đầy sâu lắng tình người. Với nhan đề “Vật vã cơn hè”, bài thơ toát lên bao cảm xúc của một mảnh hồn luôn đau đáu với nhiều kỷ niệm “khô”, đầy sự trải, gợi lên nơi người đọc nhiều suy nghiệm: “Mặc nhễ nhại mùa nắng cứ lửa trải dài/Nơm nớp kỷ niệm khô trong hộp giữ lâu năm mất nắp…”

Mùa hè như chợt “mắc cạn” trong không gian oi ả của niềm riêng u ẩn, lắng sâu bên trong cái lò lửa của không gian. Xa rời kỷ niệm hay muốn níu giữ hồi ức? Cả một vùng trời kỷ niệm… Nên nhớ hay nên quên?

Vẫn còn mãi nỗi phân vân, day dứt. Chưa an lòng. Chủ thể trữ tình đang trong tâm trạng khắc khoải, ôm ấp một hoài bão đẹp như đang chờ phía tương lai.

“Chẳng cách gì bỏ được của tặng cho hết nhiệm mầu

Tôi gánh quen thuộc còng lưng đi vào mùa phía trước

Nơi đây mọi điều cứ như điều ước…”
                                                                   (Phía trước)

Niềm đau đáu trong bài thơ “Phía trước” bàng bạc khắc tô điều kỳ vọng ấy. Tất nhiên nhân vật trữ tình chẳng trông chờ vào “chủ nghĩa thần bí”. Ở đây, nhãn tự “cố” đã điểm chỉ cho một cuộc “cách mạng” - thay cũ đổi mới thực tại, với niềm ao ước cái mới phải thăng hoa hơn cái cũ (“Tôi cố ngớp khỏi nồng oi gay gắt/Trông chờ quan tâm hồi tỉnh những mê man…”).

Thế rồi, nhân vật “tôi” tiếp tục cuộc hành trình. Đó là dòng hồi tưởng khoảnh khắc đẹp, hạnh phúc.

“Tôi dắt tôi quen lại chỗ từng gần

Từng giữ ghế hạnh phúc lặn vào khoảng mát

Phía đó là chỗ ngồi hả hê chim rối rít

Tin tưởng vai nhờ…”

Chỗ dựa vững chãi với lòng tin của “bờ vai”, giữ vai trò neo giữ bình yên… Một thoáng an yên, tĩnh lặng. Một cảm giác êm dịu. Thật dễ chịu, “hạnh phúc lặn vào khoảng mát”.

Tôi bất chợt nhớ những câu thơ trong bài “Mùa trống đầy tự tình, sâu lắng trong tập thơ “Mưa ảo” của anh:

“Những cánh hoa hoàng hậu nở mông mênh
Mộng mơ con gái
Em mơ làm hoa ấy
Vàng sắc vô ưu
         
Mùa xưa nay đã biệt mù
Nồng nàn chỉ trong kí ức”

Phương thức chuyển nghĩa ẩn dụ, bố cục các bài thơ của anh luôn gắn với bút pháp đối lập. Phần đầu là chặng đường hạnh phúc thật hoan hỉ, tương phản với phần sau là tấn bi kịch đời thường mà biết bao người từng đã đi qua…

“Sóng chạy túa vòng số không trùng điệp
Thân yêu vuột mất tăm
Biết làm gì trước rác rến ngập mắt mình!”

Nhân vật “tôi” ngỡ ngàng bởi như nhìn thấu cái vòng lặp ý nghĩa đời người là những “vòng số không trùng điệp”, khi sóng gió đã giăng giăng, bủa kín tâm hồn. Các quan hệ thân thiết ngày xưa như đã mờ nhạt, biến mất nhiều phần trong tỉ lệ thẩm định tình cảm con người. Chợt nhớ câu: “Sông có khúc, người có lúc”. Con người khi đi qua từng giai đoạn của đời mình sẽ bắt đầu với sự chuyển đổi khác? Những câu thơ theo cách nói ẩn dụ, đa chiều liên tưởng. Có thể cảm hiểu ở đây là một lời nhắn gửi ý nhị của tác giả về tình người, cần giữ lấy lẽ sống nhân nghĩa trước thời gian…

Tất cả mạch nguồn ngẫm suy dẫn về khổ thơ cuối với bao nỗi trăn trở:

“Nắng lóa tối tăm ảo ảnh đâu đâu
Tôi chúi xuống ký ức vốc cũ càng hôn cho sặc sụa
Đâu đó tiếng giễu cười như dao cứa
Có mưa đâu mắt mũi ướt ròng”

Với thể thơ tự do, mỗi dòng thơ đều được chắt lọc bởi vốn sống từng trải của một cây bút đậm chất trữ tình, luôn ôm ấp khát vọng về chân lý “nhân - quả” vốn công bằng và khát khao những niềm nhân ái. Không theo những quy ước thông lệ, bài thơ thật giàu hình ảnh và dạt dào cảm xúc, nhà thơ đã gửi đến bạn đọc niềm rung cảm thiết tha về lý tưởng sống đẹp, sống trọng ân tình để những kỷ niệm đẹp luôn được bảo tồn trường cửu, “không phải cái hộp đã bị mất nắp” để rồi rơi vào bi kịch lụy phiền “lãng quên quá khứ nghĩa tình”… Phải chăng anh muốn nhắn nhủ chúng ta, hãy nuôi dưỡng lòng yêu thương, gìn giữ lấy những giá trị nhân bản. Giữ cho nhau tình đời, tình người bền vững, nhất quán trong mọi quan hệ?

T.Q.K

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm