TIN TỨC

Văn học Đổi mới, một cách nhận diện

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-08-13 01:00:40
mail facebook google pos stwis
1157 lượt xem

Cho đến nay, cụm từ “Văn học Đổi mới" đã được sử dụng khá rộng rãi. Từ trong nhà trường đến ngoài xã hội, từ báo chí đến các các cơ quan truyền hình, đài phát thanh, trong các bài nói chuyện hay phát biểu của các nhà sáng tác, phê bình văn học, nó được xuất hiện một cách tự nhiên giống như một thuật ngữ đã được định hình.

Nhưng nếu ai đó nêu ra một câu hỏi: “Văn học Đổi mới là cái gì?", thì tất ta sẽ không tránh khỏi lúng túng. Trong sáng tác văn chương và nghiên cứu học thuật, một cụm từ khi được hiểu là một thuật ngữ hay một chuyên ngành nó phải đi vào một hệ thống nhất định.

Như đã biết, khi phân loại các tác phẩm văn học, người ta thường dựa vào lịch sử và dựa vào phương pháp sáng tác. Dựa vào lịch sử, cái đập ngay vào mắt ta là những lát cắt trên dòng lịch đại. Bởi thế, ta thường nói: Văn học cổ đại, văn học trung đại, văn học hiện đại.

Ngoài lát cắt này, người ta thường chú ý đến đề tài sáng tác mà người viết hướng tới để hình thành ra các đối lập, ví dụ: tiểu thuyết hiện đại, tiểu thuyết lịch sử, truyện dân gian, truyện ngắn hiện đại... Tại đây, cách tiếp cận khái niệm lại có những bước quanh co. Chẳng hạn, cũng viết về đề tài lịch sử, nhưng ở địa hạt thơ lại không hề có cặp phạm trù: thơ hiện đại/thơ lịch sử. Trong nghiên cứu, tình hình lại còn có những khác biệt hơn nữa. Chẳng hạn, sự đối lập giữa "Văn học hiện đại", và "Văn học sử” không được hiểu là sự đối lập của hai nền văn học phân cắt theo thời gian. Ở đây, “Văn học hiện đại" được hiểu là các tác phẩm được sáng tác trong giai đoạn từ 1920 (có người tính từ 1925) đến hết thế kỷ XX, còn “Văn học sử lại được hiểu là: văn học theo tiến trình lịch sử. Vì vậy, bộ môn văn học sử ở các trường thường chỉ có nhiệm vụ dạy lịch sử phát triển của văn học.

Cách phân loại tác phẩm văn học phổ biến hơn, được nhiều người biết đến là cách phân chia theo phương pháp sáng tác, và gắn liền với nó là trào lưu sáng tác. Theo cách này ta có các phạm trù: Văn học dân gian/Văn học tác gia; Văn học lãng mạn/Văn học hiện thực phê phán; Văn học hiện thực XHCN. Cũng theo cách phân chia này, ta lại có đối lập: Văn học hiện đại/Văn học hậu hiện đại.... Thông thường, trong tiến trình phát triển, mỗi khi có một phương pháp mới ra đời thì sớm hay muộn trong nền văn học sẽ có một trào lưu văn học mới. Chẳng hạn, vào khoảng thập niên 20-30 của thế kỷ XX, tác phẩm Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách được coi là tác phẩm hiện thực đầu tiên của Văn học hiện đại Việt Nam bởi nó có một phương pháp sáng tác hoàn toàn khác với các tác phẩm của các văn gia thuộc phái Tự lực văn đoàn sau này. Cái công thức phổ biến để định giá cho sự khác biệt đó được thể hiện: Văn học hiện thực là văn học hướng về miêu tả thực tế xã hội, còn văn học lãng mạn thì thoát ly, quay lưng với thực tế, trốn vào cái tôi cá nhân với những mối tình du dương, mộng mị. Bởi thế, khoảng từ 1986 trở về trước, nó được gắn với một mỹ từ thấm đậm chất phê phán “Đó là thứ văn học ru ngủ quần chúng", "thủ tiêu đấu tranh". Phương pháp sáng tác ở đây chủ yếu được hiểu là thái độ của nhà văn trước hiện thực, sâu xa hơn là trước vận mệnh của đất nước. Cũng với cách nhìn ấy, các nhà lí luận Mácxít lại đưa ra một đối lập mới: Văn học hiện thực phê phán và Văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa. Trong đó, Văn học hiện thực phê phán được nhìn nhận như là sự phản ảnh hiện thực mang tính tiêu cực: nhà văn đã thấy được sự đen tối của hiện thực, dám dũng cảm tố cáo hiện thực bất công nhưng không tìm ra lối thoát cho xã hội. Vì thế có nhà nghiên cứu coi nó là “tiếng thở dài chống thực dân phong kiến". Kết thúc “Tắt đèn" Ngô Tất Tố cho mẹ con chị Dậu đi loanh quanh trong đêm vắng tối đen như mực. Kết thúc "Chí Phèo", Nam Cao cho Chí Phèo tự sát trên sân nhà Bá Kiến...

Khác với Văn học hiện thực phê phán, Văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa được coi là thứ văn học tích cực nhất của thời đại vì nó biết “miêu tả hiện thực theo qui luật khách quan, tất yếu". Ảnh minh họa. Nguồn pinterest

 

Khác với Văn học hiện thực phê phánVăn học hiện thực xã hội chủ nghĩa được coi là thứ văn học tích cực nhất của thời đại vì nó biết “miêu tả hiện thực theo qui luật khách quan, tất yếu" và kết thúc tác phẩm thì bao giờ nhà văn cũng vạch ra được con đường đi đến trong tương lai. Có thể nói, cách nhìn nhận văn học theo hướng này được du nhập vào Việt Nam chủ yếu từ Văn học hiện đại Xô viết và một số các nước xã hội chủ nghĩa khác. Công thức chung của nó là: Văn học phải ca ngợi cái mới, cái tích cực đấu tranh chống cái tiêu cực. Tuyên ngôn thì như vậy, nhưng trên thực tế, nếu tác phẩm nào đấu tranh mạnh mẽ với tiêu cực thì chưa biết chừng lại bị chụp cái mũ “hiểu biết cuộc sống hời hợt, quan điểm thiếu vững vàng, nhìn nhận hiện thực phiến diện, một chiều..." Thành ra, nhiều nhà văn chỉ miêu tả hiện thực vừa phải: Có đúng, có sai, có tích cực, có tiêu cực, nhưng tích cực bao giờ cũng là số đông. Nói cho chính xác, các hiện thực thực tế thì thường bị né tránh. Văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa đề cao tính chiến đấu, nhưng nhà văn ngại “đấu tranh" vì biết “tránh đâu”. Phương pháp sáng tác thực chất được phân tích theo quan điểm triết học và chính trị học hơn là phân tích thi pháp, ngôn ngữ. Không khí chung của nền văn học là nặng về công thức, giáo điều, có khi còn nặng về giáo huấn hơn là nghệ thuật. Bởi thế, bước sang thời kỳ Đổi mới, nhiều nhà văn, nhà lý luận từng nhận được danh hiệu là tác giả tiêu biểu của Văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa lại quay lưng lại, phủ định chính mình. Nguyễn Minh Châu gọi nền văn học ông đã từng tham gia là “nền văn học cần ai điếu", Hoàng Ngọc Hiến gọi đó là thứ “văn học phải đạo" ("chủ nghĩa hiện thực phải đạo"), Trần Đình Sử và nhiều nhà nghiên cứu khác cũng có những phê phán quyết liệt. Từ các hiện tượng lẻ tẻ, nó hiện hữu trở thành quan niệm rộng rãi. Biểu hiện rõ nhất là việc Đổi mới  sách giáo khoa (SGK) văn học chương trình phổ thông trung học. Một loạt các nhà văn, nhà thơ thuộc dòng Văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa bị đưa ra khỏi chương trình, thay vào đó là tên tuổi của các nhà văn, nhà thơ một thời bị phê phán gay gắt. Đó các tác giả của Phong trào Thơ mới và văn xuôi Tự lực văn đoàn. Đã có những giai đoạn số tiết giảng về thơ Xuân Diệu bằng một nửa số tiết giảng về Phong trào Thơ mới, và hơn cả số tiết dạy về Tố Hữu cùng Hồ Chí Minh cộng lại. Sự thái quá trong chương trình Đổi mới văn học của SGK phổ thông đã dẫn đến tình trạng ngộ nhận văn chương. Có không ít người nghĩ rằng, cái thứ mà trước đây người ta gọi là văn học cách mạng đến giai đoạn này đã gần như hoàn toàn mất giá trị. Trong con mắt của nhiều thế hệ học sinh, đỉnh cao thơ ca hiện đại Việt Nam là Xuân Diệu và đỉnh cao văn xuôi là Nguyễn Tuân. Nhưng trên thực tế, tình hình lại hoàn toàn không phải như vậy. Thơ Xuân Diệu, nếu chọn lọc kỹ thử hỏi được bao nhiều bài gọi là thực sự hay? Đó là chưa nói, dạy thơ Xuân Diệu nhiều như thế sẽ giúp gì cho lớp trẻ trong nhận thức? Còn Tố Hữu, nếu ta cứ loại đi những bài có tính “ngợi ca" thì vẫn có không ít những bài có tính nghệ thuật cao, đằm thắm tình người có thể mang đến cho người đọc cả giá trị nghệ thuật lẫn nhận thức. Thế nhưng, trong chương trình SGK văn học, ông đã phải lùi ra xa để nhường chỗ cho thi sĩ tình yêu Xuân Diệu (mà ngay cả những bài thơ tình trứ danh nhất của Xuân Diệu thì so với tư duy thời đại cũng đã lạc hậu lắm rồi). Đây có thể coi là một trong những thể hiện rõ nhất về Đổi mới văn học về mặt lý luận mà ở đâu trong các Hội nghị người ta cũng oang oang tuyên bố: Lý luận văn học đang ngày càng Đổi mới, tiến kịp với bước đi của thời đại. Liệu có đúng không? Không đúng. Sau bao năm Đổi mới về kinh tế, xã hội... nền lý luận của chúng ta vẫn là một cái nền lý luận phập phù, a dua, phê bình theo bầy đàn, nếu không muốn nói là cơ hội chủ nghĩa. Nó vừa thoát khỏi giáo điều cực đoan thì lại rơi vào cảm hứng, tùy tiện.

Nhờ tư tưởng Đổi mới, nhiều tác giả của “Phong trào Nhân văn giai phẩm" đã được phục hồi. Tuy nhiên, về phương diện lý luận, chúng ta lại gặp một tình trạng đáng buồn, có nhiều sáng tác của nhóm tác giả này thực tế cũng không đến mức như ta ca ngợi nó, thổi phồng nó. Sự biện giải của nhiều nhà lý luận về một hiện tượng văn học đã làm cho người đọc thấy hẫng hụt. Thực tế, sau khi được “phục hồi", hầu hết các tác phẩm của nhóm này đã được xuất bản trở lại. Cũng hay, nghe thì ghê gớm vậy, nhưng khi tất cả được bày lên trên "giấy trắng mực đen" thì mới thấy giá trị văn học đích thực cũng không được như các nhà phê bình ca ngợi.

Như vậy, thực chất khái niệm Văn học Đổi mới chủ yếu là phương diện sáng tác. Những tác phẩm tiêu biểu nhất cho Văn học Đổi mới được nhắc đến đầu tiên là những bài ký, truyện ngắn đăng trên tuần báo Văn nghệ và một số báo khác vào những năm 1986-1989, như "Cái đêm ấy đêm gì" (Phùng Gia Lộc), “Lời khai của bị can” (Trần Huy Quang), "Người đàn bà quỳ”... Sau đó là một số truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp. Đặc điểm nổi bật nhất của những tác phẩm này là người viết dám đối mặt với sự thật, phản ánh sự thật đúng như nó hiện hữu. Cho nên, khi đọc "Cái đêm ấy đêm gì” người đọc thấy sửng sốt như không tin được. Một đêm thu thuế ở Thọ Xuân Thanh Hóa sao lại chẳng khác gì cái đêm “thuế thúc trống dồn" được miêu tả trong "Tắt đèn" của Ngô Tất Tố? Còn đọc “Lời khai của bị can" người đọc cứ ngớ ra khi chứng kiến cảnh một con người lao động chân chính, giàu óc sáng tạo lại bị tù đày bởi những lý do rất vớ vẩn. Rõ ràng, chỉ nói riêng về cách tiếp cận của người viết, ta có thể thấy một luồng sinh khí mới đang thổi vào văn học. Đó là sự không né tránh trước hiện thực nghiệt ngã. Chính thái độ này của một số nhà văn đã làm cho văn học bừng lên một bầu không khí mới. Cái mới đến khá nhanh, khiến cho không ít bạn đọc còn bị sốc khi đọc “Kiếm sắc”, “Không có vua” hay “Tướng về hưu" của Nguyễn Huy Thiệp. Khác với cách hành văn đương thời, ít nhiều bị ảnh hưởng bởi lối văn của Nga và Pháp với cách dùng các định ngữ mở rộng để miêu tả, văn Nguyễn Huy Thiệp ngắn gọn, ít miêu tả, dồn nén thông tin theo kiểu hành văn của "Hoàng Lê nhất thống chí” khiến bạn đọc bị cuốn vào các sự kiện. Hiện thực trong văn ông là hiện thực chát chúa, đôi khi đớn đau, quằn quại. Cái người ta dễ nhận thấy nhất về Văn học Đổi mới trên phương diện sáng tác là văn học lúc này đã dám xông vào những “vùng tối”, “vùng cấm", dám phản ánh những mặt trái của xã hội. Với cương vị của mình, tiếng nói của đồng chí Nguyễn Văn Linh đã có một tác động mạnh mẽ đến tư tưởng và nhận thức của nhà văn. “Hãy tự cứu mình trước khi Trời cứu". Mỗi nhà văn hãy “tự cởi trói" cho mình. Sau giai đoạn 1986-1990, cũng còn có những tìm tòi ở một số nhà văn khác. Trong thơ ca cũng như trong văn xuôi còn xuất hiện cái gọi là "yếu tố hậu hiện đại" nhưng không phải tất cả đều được độc giả đón nhận. Nói một cách khác, về mặt ý thức, mỗi nhà văn đều có những cố gắng tự làm mới mình. Nhưng xét trên tổng thể văn học thì Văn học Đổi mới chưa tạo ra được phương pháp sáng tác riêng. Và vì thế, nó chưa đủ sức tạo ra một trào lưu hay một dòng văn học. Nhận diện chung, Văn học Đổi mới mới chỉ là một phạm trù mang tính lịch sử. Nó là sản phẩm văn học được sáng tạo trong giai đoạn Đổi mới.

Theo Hữu Đạt/Báo Văn nghệ

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm