TIN TỨC

Nghiên cứu truyện Nam Cao theo góc nhìn thi pháp

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-08-16 13:40:26
mail facebook google pos stwis
2097 lượt xem

Bằng cách ghi nhận từ các bài nghiên cứu, lời giới thiệu, chắt lọc những ý kiến nho nhỏ, có khi chỉ một vài nhận xét liên quan, có thể đưa ra một cách nhìn về tình hình nghiên cứu truyện ngắn Nam Cao trên góc độ thi pháp học hiện đại.

Tác giả Trần Ngọc Tuấn

So với những nhà văn hiện thực đương thời, Nam Cao khẳng định vị trí của mình trên văn đàn muộn hơn. Thế nhưng, không đi theo lối mòn của Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan…, Nam Cao tự vạch con đường riêng cho mình. Nhà văn không biết mệt mỏi kiếm tìm những hạt ngọc tiềm ẩn trong sa mạc bạt ngàn của cuộc sống. Cuộc sống vốn đa thanh, phức điệu. Người nghệ sĩ không thể là người vĩ đại đến độ ở cuộc đời có bao nhiêu mối tơ lòng thì trong tác phẩm của họ đòi hỏi phải dung tải hết bằng bấy nhiêu cung bậc. Để tự khẳng định mình, nhà văn phải tự chọn cho riêng mình một “nốt gam”. Ở đó, độ ngân nga, sâu lắng để lột tả một khía cạnh nào đó của đời sống đạt đến độ chín muồi. Nam Cao là nhà văn làm được điều đó.

Dựa vào chủ ý và cá tính sáng tạo của nhà văn mà các tác giả khẳng định Nam Cao có một phong cách, giọng điệu riêng không thể lẫn với bất kỳ ai. GS. Hà Minh Đức nhận xét: “… Nhưng không thể chỉ vì thế mà dễ lẫn lộn hoặc mờ cá tính. Cũng có thể có người thấy ở đây có một chút gì như tàn nhẫn, khinh bạc. Nếu có thật chăng thì điều đó chỉ dành cho cả chính mình và những nhân vật mang bóng dáng mình”. Trong khi đó, PGS. Trần Hữu Tá coi một số nhân vật trong tác phẩm là bóng dáng của nhà văn. Các tác giả Vương Trí Nhàn, Phong Lê, Huỳnh Lý, Nguyễn Hoành Khung… đều đồng quan điểm. Họ cùng gặp nhau ở kết luận: “Thật ra vấn đề chính để bộc lộ ra thái độ chính là ở nội dung, Nam Cao muốn có một thái độ khách quan để miêu tả nhân vật và cảnh ngộ”.

Nhóm ý kiến nhận xét nhà văn Nam Cao có tính chất châm biếm trào lộng cao, gồm các tác giả: Hà Văn Đức, Phan Cự Đệ, Trần Thị Việt Trung… Xin trích một ít dẫn chứng làm rõ vấn đề: “Nam Cao luôn đi vào sự thực của đời sống. Sự thực có bao nhiêu điều chua chát đau lòng… Ngòi bút của tác giả không khỏi có lúc chua chát, giận hờn, mỉa mai, trào lộng và chi phối đến chiều sâu của cảm hứng sáng tạo”. Hà Văn Đức nhấn mạnh: “Bên cạnh cái đôn hậu của Nguyên Hồng, cái thâm trầm sắc sảo của Ngô Tất Tố, Nam Cao đã góp thêm vào dòng văn học thực hiện phê phán một phong cách mới… lối văn mới, sâu xa, chua chát, và tàn nhẫn, thứ tàn nhẫn của con  người biết tin ở tài mình, ở thiên chức mình”.

Các tác giả Phan Cự Đệ, Hà Văn Đức, Hà Minh Đức, Nguyễn Hoành Khung, Nguyễn Đăng Mạnh, Phan Diễm Hương… đều cho rằng văn Nam Cao đầy những trang khái quát triết lý. “Nhà văn miêu tả một việc, một ý nhỏ mà nói đi nói lại vài lần là chuyện bình thường… Thế rồi khảm được vào trong tâm trí người đọc thật nhiều những chi tiết có vẻ vụn vặt về các số phận, cảnh đời rồi ông nhẹ nhàng đưa ra những câu khái quát triết lý”.

Loại ý kiến xung quanh vấn đề nhân đạo trong truyện ngắn Nam Cao khá lý thú. Trong truyện ngắn của mình, Nam Cao không phơi bày rõ tinh thần nhân đạo mà nó vẫn tiềm ẩn, chìm khuất sau những cung bậc, sắc thái tình cảm khá đặc biệt. Vương Trí Nhàn cho rằng “không hề vuốt ve an ủi, nhằm đánh vào tình thương người đọc – Chủ nghĩa nhân đạo hướng vào toàn bộ đời sống tinh thần nơi người đọc ấy, thức tỉnh suy nghĩ rồi để mỗi người tự xác định lấy thái độ, tình cảm của mình”. Còn Phan Cự Đệ, Hà Văn Đức thì cho rằng dường như cái giọng mỉa mai, chua chát chỉ là vẻ tỉnh táo bên ngoài của một tâm hồn đôn hậu, một chủ nghĩa nhân đạo sâu lắng bên trong…

Loại ý kiến xem xét mặt giọng điệu riêng biệt của Nam Cao dựa trên cấu trúc câu văn có tác giả Trần Đình Sử, Phương Lựu, Nguyễn Xuân Nam, Lê Thị Đức Hạnh, Vũ Tuấn Anh… Tất cả ý kiến cho rằng chính vì câu văn gọn, dồn dập, chồng chất các hiện tượng đã thể hiện “cảm giác ghê tởm, khủng khiếp trước hiện thực quá tồi tệ, quá mức chịu đựng của con người”. Chúng chẳng những làm cho cái hiện thực buồn thảm hiện lên mồn một, đầy ứa, mà còn vang mãi lên, đau đớn ở trong lòng. Dường như không phải Nam Cao viết mà ông đang “sống” cùng mỗi câu chuyện được viết ra. “Câu văn Nam Cao chỉ là thứ câu văn “bị xé rách” về ngữ điệu, chúng nhắm nhẳng, đứt rối, cắn rứt, chì chiết, nghẹn ngào đầy kịch tính”.

Bên cạnh cấu trúc câu văn có liên quan giọng điệu là tên gọi nhân vật. Nam Cao là nhà văn mà những đại từ có tính chất miệt thị được dùng cho nhân vật có tầng số cao nhất. Các tác giả Huỳnh Lý, Nguyễn Hoành Khung, Trương Thị Nhàn… đều cho rằng: “Đừng lầm khi nhà văn có vẻ đồng tình với những “cụ Bá” “bà Phó”… và dửng dưng khi nói đến những con người nghèo khổ thường bị gọi là “hắn”, là “y”, là “thị”, là “mụ”… Chính giọng văn bình thản lạnh lùng khi cảm xúc nén lại đó khiến cho sự phẩn uất, xót thương càng tăng lên trong lòng người đọc”.

Trương Thị Nhàn đi sâu vào tên gọi “hắn”: chung quy những cái mất – cái được, những cái giận – đáng thương vào trong một tên gọi “hắn”, Nam Cao đã bộc lộ một cái nhìn hiện thực hết sức khách quan và nhân đạo. Nhưng đồng thời vẫn có một cái gì đó rất riêng trong thái độ của tác giả, như là lạnh lùng, xa cách, tách biệt hẳn cái phần “tôi” của tác giả trong cách gọi những nhân vật là “hắn”.

Nhìn chung, các ý kiến phần lớn đều gặp nhau một điểm là tính chất đa giọng của Nam Cao. Tác giả Phan Diễm Phương trong bài viết “Ngôn ngữ người kể chuyện trong truyện ngắn Nam Cao” nhận xét: “Văn Nam Cao giàu chất biểu lộ và biểu cảm. Điều này được tác giả lý giải qua nhiều mặt, với tư cách vừa kể chuyện vừa kể tâm trạng, truyện ngắn Nam Cao có thể ôm vào mình những cặp đối nghịch: sắc lạnh và tình cảm; tỉnh táo, nghiêm ngặt và chan chứa trữ tình. Những sự việc bé nhỏ, người thừa, hầu như suốt đời bị gắn chặt vào những bi kịch nhân sinh nho nhỏ, tụ vào trang sách của Nam Cao và ông rủ rỉ kể về nó một cách kỹ càng không biết nản. Lối kể chuyện của Nam Cao là lối kể nhiều giọng: nghiêm nghị và hài hước, trân trọng nâng niu và nhạo báng đay mỉa”. Cùng với loại ý kiến này có Phan Cự Đệ, Nguyễn Tri Niên, Vũ Tuấn Anh, Nguyễn Thị Dư Khánh… Đặc biệt là tác giả Phong Lê trong bài tổng kết “Nam Cao, năm 1991” đã khái quát đầy đủ: “Văn Nam Cao hầu như có đầy đủ chất liệu: hài và bi, trào phúng và chính luận, triết lí và trữ tình, nghịch dị và nhàm tẻ, thô thám và chất thơ… Mỗi khía cạnh có thể tách riêng ra mà bàn, và hứa hẹn không ít những điều thú vị”.

Chính ở sự đan xen nhiều chất giọng như vậy đã tạo ra thế giằng co và đối lập trong giọng điệu. Các tác giả Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Thị Việt Trung… đều phát hiện ra thế “cheo leo” về tư tưởng của tác giả. Nam Cao tự thách thức mình “trên này là chủ nghĩa nhân đạo, dưới kia là thái độ nhục mạ con người, trên này là chủ nghĩa hiện thực vinh quang, dưới kia là chủ nghĩa tự nhiên đồi bại”. Ngoài ra còn một số tác giả khi đi vào khai thác mặt giọng điệu trong truyện ngắn Nam Cao có đôi chỗ đối chiếu, so sánh với tác giả khác, trào lưu văn học khác như Lại Nguyên Ân, Đào Tuấn Ảnh, Vũ Tuấn Anh, Trần Đình Sử…

Gần đây hơn, ngày 25-03-2013, trên Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ, tác giả Pham Thi Luong (tên không dấu) đã vận dụng lý thuyết điểm nhìn trong tự sự học để nghiên cứu truyện ngắn của Nam Cao trước năm 1945. Người viết đã chỉ ra bốn kiểu điểm nhìn chính của chủ thể trần thuật, đó là: điểm nhìn bên trong, điểm nhìn bên ngoài, điểm nhìn phức hợp và điểm nhìn đơn tuyến. Sự đa dạng, linh hoạt các điểm nhìn trần thuật ấy đã tạo ra sự đa thanh, đa giọng điệu, sắc thái thẩm mỹ và giá trị nghệ thuật cho truyện ngắn của Nam Cao.

Trên Tạp chí VHNT, số 401, tháng 11-2017, tác giả Nguyễn Văn Tùng cũng đã nêu quan điểm: “Muốn có những nhận thức sâu sắc hơn, điều tất yếu là không thể bỏ qua những đặc điểm thi pháp thể loại của mỗi một nhà văn để tiếp nhận tác phẩm của họ. Bởi thế, qua bài viết này, chúng tôi muốn nhấn mạnh hơn nữa đến việc cần dành một sự quan tâm thỏa đáng hơn nữa tới việc tìm hiểu nghiên cứu những đặc điểm thi pháp thể loại của mỗi nhà văn”. Về văn xuôi Nam Cao, tác giả Nguyễn Văn Tùng nhận xét khái quát thi pháp về phương diện như giọng điệu lời văn trần thuật; cách cấu tứ độc đáo; đóng góp vào sự trưởng thành của thể loại truyện ngắn ở năng lực phân tích tâm lý nhân vật tinh tế, tài tình; cách khai thác hiện thực xã hội; và tạo dựng một hệ thống các chủ đề tư tưởng mang nhiều ý nghĩa khái quát lớn... của Nam Cao.

Hiện nay, theo Chương trình GDPT mới - 2018, học sinh THPT được tiếp cận truyện ngắn Nam Cao ở phương diện thể loại. Đó cũng là một cách tìm hiểu theo thi pháp học hiện đại.

Chính những nghiên cứu, đánh giá trên, có thể coi Nam Cao đại diện tiêu biểu xuất sắc cho trào lưu văn học hiện thực phê phán giai đoạn 1930-1945. Và là nhà văn hiện đại với biệt tài biết “đào sâu”, biết “khơi những nguồn” sâu thẳm nhất ở mỗi con người, ở cuộc sống. Vì vậy, thế giới truyện ngắn của Nam Cao luôn là mảnh đất phì nhiêu cho bao thế hệ độc giả, cho các nhà nghiên cứu yêu mến tìm hiểu, khám phá.

(Viết năm 1997, bổ sung ý tháng 8-2025)

T.N.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm