TIN TỨC

Inrasara: Tác phẩm văn chương, từ tốt & hay đến lớn

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-08-13 05:19:51
mail facebook google pos stwis
1081 lượt xem

Tác phẩm hay – không phải là sản phẩm một chiều của người viết hay người đọc, mà là kết quả của một cuộc đối thoại liên tục.

Tại tọa đàm “Tác phẩm hay – Từ tiếp nhận và sáng tác do Hội Nhà văn TPHCM tổ chức, nhà thơ – nhà phê bình Inrasara đã mang đến những luận điểm sắc sảo, giàu trải nghiệm, mở ra cách nhìn mới về sự cộng hưởng giữa sáng tác và tiếp nhận, để văn chương thực sự chạm tới và ở lại lâu dài trong lòng người đọc.

INRASARA

[Vài ghi chú về văn học Việt Nam đương đại]


Nhà thơ Inrasara phát biểu tại cuộc tọa đàm 
“Tác phẩm hay – Từ tiếp nhận và sáng tác” - Đà Lạt, 11/8/2025
 

Lâu nay ta ưa bàn về tác phẩm hay, hoặc thấp hơn một bậc: tác phẩm tốt, chớ ít khi nâng tầm lên thành: tác phẩm lớn, để qua đó có được tác gia lớn.

Có thể gọi Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư là hay, độc đáo, chứ không lớn. Mẫu Thượng ngàn của Nguyễn Xuân Khánh, Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác hay Gia đình Thibault của Martin du Gard dày dặn, [dung lượng] lớn, chứ không là tác phẩm lớn. Ngược lại, Hóa thân của Franz Kafka, Kẻ xa lạ của Albert Camus hay Trong khi chờ Godot của Samuel Beckett là lớn, lớn thực sự, dù chúng khá mỏng.

Hôm nay ta thử bàn về nỗi này.

 

1. Thế nào là thơ hay?

Thơ dẫu là loài vô bằng, không phải là không thể [lôi nhau ra tòa] phân xử. Cứ truy sáu thành tố: Cấu trúc bài thơ kia khác lạ tới đâu; Thơ ca là nghệ thuật của ngôn từ, vậy ngôn từ bài thơ ấy độc sáng thế nào; Thi ảnh mới mẻ chỗ mô; Tứ thơ độc đáo ra sao; nữa, đâu là nhịp điệu sáng giá của bài thơ; và cuối cùng toàn bài thơ có làm lay động mạnh [con tim/ khối óc] bạn không?

Vẫn là các chuẩn cũ. Hay mà không cũ, không sáo, không sến mới là hay thứ thiệt. Dĩ nhiên muốn cảm nhận được một bài thơ hay, và biết nó hay tới mức nào, bạn cũng cần đọc thật nhiều thơ… hay, cả cũ lẫn mới. Vậy mà ta cứ mãi mê mẩn với cái hay cũ. Thơ Việt hôm nay đa phần dừng lại ở Lãng mạn hậu thời, và phần nào Tượng trưng với một ít Hiện đại.

 

Thời đại khác, thơ khác, cách đọc thơ cũng phải khác.

Sao cứ phải chạy theo trào lưu này nọ, ta ưa hỏi thế. Thơ Mới đã làm cuộc cách mạng lay chuyển nền thơ ca Việt Nam thế kỉ XX, các nhà thơ Tiền chiến học lại từ Hiện thực, Lãng mạn và Tượng trưng Pháp “lạc hậu” non thế kỉ, thì sao? Tại sao sợ ảnh hưởng? Nếu không “lai căng” thì làm gì có tiếp biến? Ôm khư khư cái mình có, có phải là đậm đà bản sắc? Hãy thử ngó ra ngoài.

Thơ chỉ có thể bình, chứ không phê, thêm ý kiến quen thuộc khác. Trên các chuẩn trên, vẫn có thể phê, và rất cần phê. Bởi phê bình không chỉ đi sau sáng tác, mà còn có thể song hành, thậm chí đi trước sáng tác.

 

2. … đến truyện ngắn hay

Tạm tóm mấy ý.

Chủ đề truyện ngắn ấy mới lạ không? Nội dung tư tưởng có gì độc đáo? Nếu chủ đề cũ, hãy xét cách xử lí nghệ thuật. Người viết có tạo được mô-típ mới lạ nào không? Xét thêm về khả năng quan sát của tác giả, nó có tinh tế không, phát hiện điều chưa có nhà văn nào thấy trước đó. Cách kết truyện: mở hay đóng, và hướng giải quyết “vấn đề” đặt ra trong truyện có là “đầu tiên” không?

Yếu tố quan trọng nhất là chi tiết. Truyện ngắn chứa không nhiều chi tiết, thậm chí chỉ vài, nhưng đó phải là chi tiết đắc địa để có thể neo lại trong lòng người đọc. Người đọc có thể quên cốt truyện, mà vẫn nhớ chi tiết, nếu nó độc, lạ.

Cuối cùng là nhân vật, nó có làm nên điển hình hay lẫn lộn với vô số nhân vật khác từng xuất hiện trong văn chương?

 

Nhìn theo lối cũ là vậy, đến hậu hiện đại, truyện ngắn không cần cốt truyện hay nhân vật nữa. Vậy hãy xem cách kể của tác giả tạo không khí truyện ra sao, để qua đó nó có thể thức tỉnh người đọc, khiến họ bị ám ảnh và buộc họ suy nghĩ lại vấn đề.

 

3. … đến tiểu thuyết lớn

“Nhà văn Việt Nam không muốn lớn”, tôi cố ý nói to thế ở vài diễn đàn. Tại một Hội VHNT, bàn về “Làm thế nào có bút kí hay?”, tôi cố tình đi xa đề. Giờ giải lao, có bạn hỏi hà cớ, tôi đùa: Ai muốn viết bút kí hay, cứ lật Từ điển Văn học bộ mới hay đọc báo Văn nghệ, chứ ở đây tôi gợi mở về bút kí khác lạ, và lớn. Bút kí cần gì?

Sự thật, và chỉ sự thật. Không né tránh, không bẻ cong. Riêng phần phỏng vấn, đối tượng có thể kể sai do trí nhớ suy tàn hay kí ức tự hư cấu, nhà văn vẫn ghi ‘sự thật’ ấy. Nữa, cần nhìn toàn cảnh lẫn chi tiết, xa và gần từ nhiều góc cạnh và quan điểm khác nhau. Ở đó, nhà văn phát hiện điều người khác chưa thấy, chuyện nhà văn khác chưa nói. Cuối cùng, là kết cấu hấp dẫn, giọng điệu đa phức càng tốt.

 

[1] Svetlana Alexievich, Nobel 2015.

Lời cầu nguyện từ Chernobyl động cập đến một trong những vấn đề nóng nhất của thế giới hôm nay. Là nạn nhân của thảm họa, sau 10 năm rời đi, bà trở lại làm 500 cuộc phỏng vấn người trong cuộc để làm nên tác phẩm - không như sử gia mà như một nhà văn. Bà nói: “Tôi chọn một thể loại [báo chí] mà tiếng nói con người được lên tiếng cho chính họ”.

Chiến tranh không mang khuôn mặt một người phụ nữ - hồi kí về thế chiến thứ II với cách nhìn mới, khác về vấn đề rất cũ, điều chưa nhà văn nào nhìn như thế trước đó. Bà lí giải:

“Phụ nữ là tù nhân của hình ảnh “đàn ông” và xúc cảm “đàn ông” về chiến tranh. Chúng ta vẫn mãi náu mình trong im lặng, thi thoảng có quyết định nói, chúng ta cũng không kể về cuộc chiến của mình, mà là của những ai khác.”

Tất cả được thể hiện bằng “lối viết phức điệu”.

 

[2] Gần hơn, Việt Nam - Ngô Thế Vinh với Cửu Long cạn dòng, Biển Đông dậy sóng mang tính đánh động, dự báo nhiều năm trước khi sự kiện Biển Đông nổ ra. Ông không gọi tác phẩm của mình là fiction, mà là “faction” - thứ tiểu thuyết sự kiện.

Tác phẩm lớn ra đời không tiếng vang, do xuất hiện ở ngoại vi - có lẽ. Mãi khi tôi viết giới thiệu: “Giải thưởng cho Cửu Long cạn dòng Biển Đông dậy sóng, cơ quan hay tổ chức nào sẽ trao cho nó?” thì faction này mới được một tổ chức trao giải ngay năm sau đó. Buồn không?

 

[3] Nguyễn Thanh Việt, nhà văn người Mỹ gốc Việt, hiện là Giáo sư tại Đại học Nam California. Là cây bút bình luận trên The New York Times, thời gian dạy học và viết báo, ông đã bỏ ra bao nhiêu năm vào các thư viện, đọc vô số tư liệu ở cả hai bên: Bắc và Nam, Việt và Mỹ… để làm tác phẩm đầu tay: Sympathizer (Kẻ nằm vùng hay Cảm tình viên) giật ngay Giải thưởng Pulitzer của Hoa Kỳ.

Chưa bàn đến hay, chỉ cần “lớn” thôi, ta cũng không dám.

 

[4] Ở Hội VHNT Quảng Bình, tôi hỏi: Vùng đất này nơi các bạn đang sống, đâu là cái độc nhất không nơi nào có khả dĩ làm đề tài lớn cho tác phẩm văn chương? Không gì cả! Tôi nói: Đây chính là ranh giới, vùng độn ngàn năm lịch sử giữa Champa với Đại Việt, trăm năm Trịnh Nguyễn phân tranh, 20 năm đất nước chia cắt. Có vô số điều để nói, tại đây. Ai, trong các bạn - nhà văn của hôm nay dám ném tất cả sau lưng, hết mình và tới cùng với nó?

 

[5] Thời hiện đại, chiến tranh biên giới Tây nam, biên giới phía Bắc là chủ đề lớn. Ai nhà văn Việt Nam dám bỏ cả đời mình cho nó, để dựng lên một lâu đài đồ sộ? Không phải viết như sử gia mà như một nhà văn? Ở đó không chỉ có chiến tranh, mà nhiều thứ khác: văn hóa, sắc tộc, chính trị…

 

[6] Bộ Sử thi Tây Nguyên 62 tập đã có, mươi năm qua vẫn nằm yên trong thư viện. Ở buổi tổng kết Hội VHNT các DTTS Việt Nam, tôi hỏi các nhà văn Tây Nguyên, và khích: Có ai chịu bỏ ra  dăm năm ăn nằm cùng kho tàng vô giá ấy, từ đó sản sinh tác phẩm văn chương lớn? Không ai cả! Chúng ta tiêu lãng tháng ngày làm mấy chuyện cỏn con đâu đâu, lẻ tẻ, vụn vặt ngoài lề văn chương.

Với văn học Cham, trước đó vài nhà vẫn cứ lẻ tẻ, rời rạc, tôi ngược lại. “Từ con số không, từ con số âm”, lãng phí 24 năm tuổi trẻ đi và tìm, để dựng nên bộ Văn học Cham đồ sộ!

 

4. Tạm lấy Nobel làm chuẩn, để vươn đến “tầm Nobel”, Việt Nam chuẩn bị gì? - Rất ít, nếu không nói là chưa gì cả! Thử nhìn quanh, từ gia đình đến xã hội, vẫn là giáo dục theo-ism. Theo-ism từ “thuật nhi bất tác”, “Tử viết” suốt ngàn năm, vẫn là theo-ism ấy bám ta đến tận hôm nay. Sẽ không bao giờ có sự phá cách, nói chi đến hi vọng một phiêu lưu [tư tưởng] mang tính đột phá táo bạo sẽ xảy ra, ở đó. Còn lối nghĩ lớn tiếng như kiểu Italo Calvino:

Những dự án mang tham vọng quá trớn có thể bị chối từ trong nhiều lĩnh vực nhưng không thể bị chối từ trong lĩnh vực văn chương. Văn chương chỉ còn sức sống nếu chúng ta tự đặt ra cho chính mình những mục tiêu bất khả lượng đạt, vượt quá tất cả những hi vọng về sự thành tựu. Chỉ chừng nào các nhà thơ và nhà văn tự đề ra cho chính mình những công tác không có bất cứ ai dám tưởng tượng đến, thì văn chương mới đạt được tác dụng của nó(1)

thì - hãy đi chỗ khác chơi.

Nữa, nhà văn chỉ có thể khai triển tối đa công lực, mở rộng tối đa tiềm năng sáng tạo khi được sống và viết trong thể chế chính trị mở. Nơi đó, tự do ngôn luận được tôn trọng. Ở đó, viết - in ấn - đọc - thảo luận được khuyến khích, hay ít ra không bị kiềm hãm, áp chế. Đành rằng, một tư tưởng lớn khai sinh luôn làm bùng vỡ hay đảo lộn lối sống và tư duy đương thời, khó lòng được cộng đồng đón nhận và chấp nhận ngay. W. Whitman, F. Nietzsche hay gần hơn: Henry Miller, Allen Ginsberg đã chịu sự kì thị. Dẫu sao tiếng nói thiên tài phi thời đó không bị cả một cơ chế áp chế hay dập tắt.

 

Câu hỏi đặt ra cho cá nhân nhà văn, có ai trong chúng ta đã sẵn sàng để… lớn? - Rất ít! Thiếu triết học, ta có thể đổ lỗi cho bác cơ chế với ngài khách quan, dẫu sao - theo quan sát của tôi - nhà văn ta còn chưa nắm bắt đầy đủ thực tế cuộc sống sôi động ngoài kia, nắm bắt và suy tư đủ sâu về nó. Đi thực tế, ta từng đi nhiều nhưng vẫn chưa đủ: chưa đủ cô đơn trước trang viết.

Thêm, bao nhiêu là nỗi sợ hãi bủa vây. Dưới hay trên, ngoài và trong, xa và gần. Sợ bị soi mói, bị chụp mũ, sợ tác phẩm không được in hay bị thu hồi sau khi phát hành. Sợ cho mình, sợ cho nhau và sợ nhau, thế nên ta rất sợ mình không giống ai. Ta vừa viết vừa liếc nhìn người bên cạnh, người đi trước, đàn anh chị hay bạn đồng hành cùng trang lứa. Ta sợ đi một mình. Là nỗi chưa đủ cô đơn cho sáng tạo. Cô đơn đầu tiên và cuối cùng, cần thiết để tạo nên tác phẩm chiều sâu(2).

 

Rào cản cuối cùng, là nhà văn chưa đủ ý thức về nghề. Ch. Fredriksson: “Ý tưởng dường như có tính tiên quyết, xem nghệ sĩ làm gì và làm như thế nào với tác phẩm của mình, để làm sao cho tác phẩm ấy có hiệu quả nhất khi đến với công chúng. Dường ở Việt Nam các nghệ sĩ thích làm tác phẩm hơn là nói về các tác phẩm của mình”(3).

Không bàn, không muốn bàn, không dám bàn vì, không khả năng bàn, thậm chí, dị ứng với lí luận. Nhà văn Việt Nam thiếu chuyên nghiệp, là vậy.

 

Trường hợp Nguyễn Huy Thiệp là một. Ông thành công, một thành công lớn ở truyện ngắn, ngoài ra không gì khác. Tiểu luận và phê bình của ông không đáng kể, trong khi thành tựu của một nhà văn chủ yếu được đánh giá qua tiểu thuyết. Thể loại này, ông có thử qua rồi tất cả chỉ ngưng ở hạng trung bình.

Nguyễn Huy Thiệp chưa có gì gọi là tác động đến thời đại ông sống mang tính toàn cầu như Jean-Paul Sartre được coi là kẻ mở màn phong trào hiện sinh lan tỏa khắp thế giới. Bên cạnh là triết gia cùng tác phẩm kịch và tiểu thuyết để triển khai tư tưởng, Sartre còn là một nhà trí thức hàng đầu. Cứ xem bộ Situations do nhà Gallimard xuất bản 7 tập, cũng đủ thấy sức làm việc ghê gớm và tầm hoạt động bao quát của ông.

Kẻ tư tưởng, nghệ sĩ sáng tạo và con người dấn thân hội tụ trong một cây bút xuất chúng, chưa một nhà văn Việt Nam nào đạt tới tầm đó. Xét từ góc độ nhà văn “thuần túy”, Nguyễn Huy Thiệp cũng chưa. Ông chưa phát kiến nghệ thuật độc đáo ảnh hưởng lan rộng như William Faulkner, Márques.

Hơn nữa, một nhà văn tầm Nobel đòi hỏi độ dày của trang sách, thậm chí rất dày, Nguyễn Huy Thiệp càng chưa. Faulkner từ thi sĩ hụt “failed poet” trở thành một tiểu thuyết gia lớn. Cả hai đều chuyên trị một vùng đất. Thiệp là nông thôn miền Bắc Việt Nam, Faulkner: miền Nam Hoa Kỳ. Tuy thế thay vì bó gọn trong 700-800 trang truyện ngắn như nhà văn Việt Nam, văn hào Mỹ có đến 20 tiểu thuyết. Nghĩa là độ dày gấp chục lần hơn.

Và điều không thể không nói lên là Nguyễn Huy Thiệp không trường sức, thành tựu của ông vẫn còn khá mỏng. Ông “hưu” sớm, mà đỉnh cao nằm ở quãng 10 năm: 1986-1996, sau đó một phần tư thế kỉ ông không vượt qua chính mình, nếu không muốn nói là tụt xuống.

Nhìn từ góc độ nghệ thuật, Faulkner đã đẩy kĩ thuật dòng ý thức, và… lên cấp độ siêu đẳng, đến nhiều nhà văn lớn trên thế giới học tập và xài lại(4).

 

5. Cuối cùng mặt bằng độc giả là yếu tố không thể thiếu góp phần kích thích sự phát triển văn học. Ở điểm này, Việt Nam vẫn chưa có bộ phận độc giả văn chương đúng nghĩa, cả độc giả được cho là chuyên nghiệp: nhà phê bình(5).

Khủng hoảng và tê liệt phê bình ảnh hưởng không nhỏ đến sáng tác. Ta có đủ kiểu phê bình, từ phê bình hũ nút đến phê bình hàng hai, từ phê bình quan phương đến phê bình du kích, phê bình bè phái hay phê bình chỉ điểm…(6).

Thử nêu ba điển hình tiên tiến:

 

[1] Chuyện “lục bát hóa thơ Tự do”, Đỗ Kh đã làm vào năm 1996, qua năm 2007 Inrasara làm Bàn tròn Văn chương về Lê Vĩnh Tài bàn về tự lục bát hóa thơ tự do của anh. Vậy mà bốn năm sau, Đỗ Hoàng lặp lại, để Lê Quang Đạo tụng ca trên báo Sinh viên Việt Nam, rằng là sáng tạo, vô cùng độc đáo(7).

Người làm lạc hậu đã đành, người bình cũng lạc hậu nốt. Lạc hậu không biết lạc hậu chính là lạc hậu bình phương!

 

[2] Nhà thơ Trần Mạnh Hảo chê thơ Nguyễn Quang Thiều là loài “thơ Tây giả cầy”. Đâu phải đọc vài chục tập thơ Tây dịch là nắm được hồn vía thơ Tây! Mình chưa biết thơ Tây thế nào, thì làm sao biết nó giả hay không giả cầy ra sao. Ngoài kia đâu phải Tây nào cũng giống Tây nào, mà có ngàn loài khác nhau. Thơ Pháp thôi, thế kỉ XIX, Lamartine khác Baudelaire khác Rimbaud; thế kỉ XX S-J-Perse khác René Char khác J. Prévert.

Vài nhà ta ưa nói bừa kiểu ấy. Nói bừa nhỏ đến nói bừa to bự, dễ làm vẩn đục khí quyển văn chương(8).

 

[3] Thụy Khuê trả lời phỏng vấn báo Tuổi trẻ, kêu: “Người Mỹ đã hiểu sai khi tiếp cận hậu hiện đại của Pháp, và họ mang cái sai đó về bên kia châu lục, người Nga lấy lại cái sai đó của Mỹ, và cuối cùng người Việt lại lấy cái sai đó từ Nga, cộng với việc dịch thuật không chuẩn, thành ra méo mó hết cả.”(9)

Chưa kể lối nhìn hậu hiện đại đơn tuyến từ Pháp sang Mỹ đến Nga qua Việt Nam, đã là phi hậu hiện đại; còn chuyện cho người Việt học hậu hiện đại từ Nga, mới liều toàn phần.

Người Việt - từ đầu thế kỉ XXI đến nay, viết nhiều về hậu hiện đại, ở ngoài nước có: Nguyễn Hưng Quốc, Hoàng-Ngọc Tuấn, Nguyễn Minh Quân; trong nước: Bùi Văn Nam Sơn, Nhật Chiêu và Inrasara. Họ biết tiếng Anh, Pháp để đọc hậu hiện đại từ nguồn, chớ ai dại dột đi “học” hớt lớp váng cái sai về hậu hiện đại từ Nga!

 

Phê bình văn chương đang ở đâu?

Cứ ngoái lại Hoài Thanh ứng xử kịp thời và tài tình với Thơ Mới thế nào ngay khi phong trào thơ này đang diễn ra, cũng đủ hiểu. Còn hôm nay, sau 20 năm - có nhà phê bình nào làm được thao tác tương tự với Thơ Đổi mới? - Không ai cả! Ngay ý định làm một cuốn sách như thế, đến hôm nay - vẫn chưa(10).

Ta tranh thủ viết tản văn, tạp ghi theo kiểu… tản mạn; ta làm hội hè, hội thảo đủ loại; rồi thì rẽ sang làm công tác nghiên cứu, giảng dạy hoặc nhanh nhẩu nhảy vào cuộc cãi cọ nhảm nhí bằng phản ứng nhếch nhác chỉ bởi vài quy kết, xuyên tạc ngoài lề nào đó. Ta có đủ lí do chính đáng cho các sự vụ ấy. Trong khi tập trung vào công việc chính là phê bình thì, vẫn cứ là chưa.

Đành rằng, với nỗi “dồi dào” và “phong phú đa dạng” các tác giả, trào lưu, khuynh hướng văn chương xuất hiện trên đủ loại phương tiện thông tin, không nhà phê bình nào tự nhận quán xuyến tất cả. Ít ra người làm phê bình vẫn có thể chọn một/ một vài trào lưu nhất định để làm phê bình. Vậy mà mãi tận hôm nay, giới phê bình Việt Nam vẫn chưa cho ra đời tác phẩm như thế.

 

6. Ý hướng tính của viết

Viết, đâu là điều thôi thúc bạn? Thôi thúc đến bạn không thể rời bỏ nó, để đi đến quyết định: tôi phải viết! Thử nêu ba tên tuổi lớn:

[1] Tolstoi, văn hào Nga - đó là tinh thần công chính và sự công bằng xã hội. Mang danh bá tước đồng thời là một nhà văn nổi tiếng nhất thế giới ở thế kỉ XIX, ông sở hữu mấy trăm mẫu đất cùng hàng trăm người làm công.

Từ đâu có sự chênh lệch này, ông đặt câu hỏi. Và ông muốn giải quyết nó, bằng đấu tranh - từ ngoài xã hội đến trong chính gia đình ông, quyết liệt đến vợ con chống lại ông. Cuối cùng, 82 tuổi ông bỏ nhà lang thang rồi chết ở ga xép nơi thị trấn nhỏ.

 

[2] Pasternak nhà văn Nga, là: Con người sinh ra để sống chứ không phải để chuẩn bị sống.

Quan niệm khác hẳn lối nghĩ của đại bộ phận người nơi đất nước ông đang sống, rằng cần hi sinh hiện tại cho tương lai tươi sáng.

Ông có lí tưởng sống, lặng lẽ gây phản tỉnh nhân quần bằng văn chương cho lí tưởng ấy, và ông chấp nhận tai ương khi nó xảy tới, ở đó Bác sĩ Zivago đoạt Giải thưởng Nobel Văn chương không được Nhà nước Liên Xô cho phép đến nhận, là một.

 

[3] Camus, nhà văn Pháp: sự phi lí của đời người.

Con người sinh ra, sống, quanh đi quẩn lại làm mấy việc nhàm chán, thứ Hai, thứ Ba, thứ Bảy… rồi chết đi. Sự thể cứ lặp lại, thế hệ này sang thế hệ khác, đã thế rồi con người mãi chém giết nhau, thế kỉ này sang thế kỉ khác, đổ thêm dòng sông đau khổ vào biển khổ cuộc đời.

Camus viết tiểu thuyết, kịch, tiểu luận, triết lí… để chống lại sự phi lí đó. Với hi vọng mang đến niềm hạnh phúc nhỏ nhoi cho con người, tìm ý nghĩa trong vô nghĩa của nỗi phi lí kia.

Đến thời điểm ấy, ông là nhà văn trẻ nhất đoạt Nobel Văn chương.

 

Kết

Để kết “vài ghi chú” này, xin được trở về nhà mình qua câu hỏi: Inrasara thế nào, với tư cách một nhà văn?

Đứng vững trên bốn chân kiềng: [1] Tâm thế giải sân hận của Ariya Glơng Anak; [2] Tư tưởng Phi tâm hóa hậu hiện đại: Phá bỏ bức tường ngăn trung tâm ngoại vi, qua đó giải mặc cảm thiểu số, tỉnh lẻ; Tinh thần tôn trọng sự khác biệt, và Hành động theo châm ngôn “Suy tư toàn cầu, hành động cục bộ”; [3] Tinh thần Hóa giải & hòa giải của Pô Rômê và [4] Thái độ Nhập cuộc về hướng mở, tôi dấn mình vào thế giới chữ nghĩa.

Sáng tác, là các tập thơ, tiểu thuyết, cùng bút kí dài kể câu chuyện Cham: Đường về Chàm; nghiên cứu, đó là bộ Văn học Cham, Hải sử & văn hóa biển, Minh triết Cham; cạnh đó tôi còn sắm cả vai nhà phê bình. Tại đây tôi bày ra bảy phụ lưu nền Văn học ngoại vi – khu vực đang bị bỏ quên, bị phân biệt đối xử. Phê bình mang ý hướng gom vào chứ không tâm thế đẩy ra, tránh gây thiệt thòi cho độc giả, cả thiệt hại cho nền văn học Việt Nam đa dân tộc và đa vùng miền.

Là những mới lạ, góp phần mình vào tư tưởng và chữ nghĩa Việt Nam.

Và gì nữa?...
 

Chakleng, 5-8-2025

Chú thích

(1) Italo Calvino, “Tính cách bội trương trong văn chương tương lai”, trong Six Memos for the Next Millennium, bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn; dẫn lại từ Văn học hiện đại và hậu hiện đại qua thực tiễn sáng tác và góc nhìn lí thuyết, NXB Văn nghệ, California, Hoa Kì, 2002, tr. 593

(2) Xem thêm: Inrasara, “Chưa đủ cô đơn cho sáng tạo”, Song thoại với cái mới, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2008, tr. 17-28.

(3) Ch. Fredriksson trả lời báo Thể thao & Văn hóa, số 142, 28-11-2006.

(4) “Nguyễn Huy Thiệp chưa thể với tới Nobel, tại sao?”, báo Văn nghệ TPHCM, 17-3-2022.

Về phát kiến kĩ thuật mới, thời gian gần đây, lối “Thơ 1-2-3” do Phan Hoàng chủ xướng được vài bạn thơ làm theo. Mạng Vanchuong Phuongnam giới thiệu: “Nhằm tìm một hình thức thơ mới để thể hiện, nhà thơ Phan Hoàng đã thử nghiệm cách viết Thơ 1-2-3. Mỗi bài thơ gồm 3 đoạn, 6 câu”. Là loài thơ thuần “kĩ thuật” chứ không đặt trên nền tảng tư tưởng nào bất kì, thế nên nó chỉ là “trò trẻ nhỏ” [chữ của Xuân Diệu] không hơn không kém.

Cũng thuần kĩ thuật, Tân hình thức khác hơn. Phản ứng nỗi khó hiểu của thơ Tự do, phong trào này quyết trở lại với truyền thống, và lập thuyết. Tiếc là, 4 trụ cột kĩ thuật là: tính truyện, ngôn ngữ đời thường, vắt dòng và lặp lại, không xa lạ với truyền thống thơ Việt. Thế nên cho dù nhà thơ Khế Iêm - người khởi xướng và xiển dương có nhiệt tình tới đâu, Tân hình thức Việt vẫn chưa thể nẩy ra tác phẩm lớn.

Hậu hiện đại hoàn toàn khác, đây là trào lưu văn hóa mang tính toàn cầu ảnh hưởng đến nhiều mặt của cuộc sống con người đương thời, trong đó có văn học. Để qua 30 năm, thế giới cho ra đời nhiều tác phẩm hậu hiện đại lớn.

(5) Xem thêm: Vương Trí Nhàn, “Vì sao người Việt không mê đọc sách?”, Chungta.com, 22-9-2008

(6) “Đỗ Hoàng đã gây sự chú ý, ngỡ ngàng trong làng văn chương nước nhà”, Trần Quang Đạo viết trên báo Sinh viên Việt Nam, xuân Mậu Tý.

(7) “Điểm danh căn bệnh phê bình hôm nay”, website Hội Nhà văn, 24-10-2008.

(8) Trần Mạnh Hảo, Thơ - phản thơ, NXB Văn học, H., 1995, tr. 66-83.

(9) “Nhà phê bình Thụy Khuê: Phê bình văn học thế kỷ XX là cuốn sách quan trọng nhất trong đời tôi”, Diệu Thủy thực hiện tháng 1-2018, Vanviet.info đăng.

(10) Thực tế là có một: Nguyễn Việt Chiến, Thơ Việt Nam tìm tòi và cách tân, NXB Hội Nhà văn, 2007, nhưng thất bại. Bởi tác giả đã không xác định được nội hàm một thuật ngữ “cách tân” ở phần dẫn nhập, từ đó hỏng từ bình mỗi tác giả cho đến cách tuyển thơ.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm