TIN TỨC

Miền ký ức giữa rừng đước Cần Giờ

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-07-21 18:19:26
mail facebook google pos stwis
2116 lượt xem


Hướng tới ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7,
Văn chương TP. Hồ Chí Minh xin giới thiệu bài viết của nhà văn Đậu Thanh Sơn về vùng đất Cần Giờ – nơi từng là căn cứ địa của Trung đoàn 10 Đặc công Rừng Sác. Qua những dòng ký sự nhẹ nhàng nhưng lắng sâu, tác giả đã tái hiện một cách chân thực không khí thiêng liêng nơi đền tưởng niệm, những con số chiến công lẫy lừng, và cả sự trăn trở về những ngôi mộ chưa có tên. Một bài viết chan chứa lòng biết ơn, khơi gợi niềm tự hào và cũng là lời nhắc nhở thế hệ hôm nay về trách nhiệm gìn giữ ký ức thiêng liêng của dân tộc.


Nhà văn ĐẬU THANH SƠN

Tôi trong đoàn nhà văn thành phố Hồ Chí Minh đi thực tế sáng tác tại Cần Giờ vào một buổi sáng đầy nắng. Ngồi trên mạn phà, những làn gió từ sông Nhà Bè thổi qua những ô cửa sổ mát rượi, gió mang theo hương vị của miệt vườn ngoại thành và hơi thở của những rặng dừa nước xanh ngắt đang soi bóng bên bờ sông. Đây là tháng cuối của mùa mưa phương Nam, nên thời tiết Sài Gòn dễ chịu hơn hẳn so với mấy các tháng trước đó. Người ta ví von mùa mưa Sài Gòn đỏng đảnh, thất thường như một cô gái mới lớn “sáng nắng chiều mưa” rất khó chiều. Thế nhưng, vào thời gian này thành phố Hồ Chí Minh đã ít mưa và nắng nhiều, không khí, cảnh vật mang một nét đẹp rất riêng, không thể tìm thấy ở một vùng quê nào khác.

Đoàn nhà văn dâng hoa, dâng hương tại Đền thờ Anh hùng Liệt sĩ Cần Giờ.

Qua khỏi phà Bình Khánh trên sông Nhà Bè, chúng tôi đặt chân lên đất Cần Giờ, các thành viên trong đoàn lên xe tiếp tục hành trình về một miền đất có nhiều huyền thoại. Cần Giờ là huyện ngoại thành của thành phố Hồ Chí Minh, nằm ở phía Đông Nam thành phố, cách trung tâm thành phố khoảng khoảng 60 kilomet. Trong buổi sáng ngày đầu tiên của chuyến đi, chúng tôi đến dâng hương, tri ân các anh hùng liệt sĩ tại Đền thờ Anh hùng liệt sĩ Rừng Sác tại thị trấn Cần Thạnh. Công trình khởi công từ tháng 12 năm 2023 và hoàn thành sau gần một năm thi công. Đây là ngôi nhà chung quy tụ hồn thiêng các bậc tiền nhân, anh hùng liệt sỹ có công với quê hương đất nước, là công trình thể hiện đạo lý và truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” của cán bộ, đảng viên, nhân dân và cả hệ thống chính trị, trong việc tiếp tục bảo tồn và phát huy các giá trị lịch sử, truyền thống cách mạng vẻ vang của Đảng, của dân tộc, khơi dậy lòng yêu nước, tự hào và tự tôn dân tộc cho các thế hệ hôm nay và mai sau. Nghĩa trang Liệt sỹ Rừng Sác, quy tập mộ của 1.221 liệt đã hy sinh trên mảnh đất này qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.

Trước làn khói hương nghi ngút, trong tôi dâng lên niềm xúc động mãnh liệt, tưởng nhớ đến các anh, những người con đã hi sinh thân mình cho Tổ quốc, cho đất nước hòa bình, để nhân dân hôm nay có cuộc sống phồn vinh. Tôi cảm nhận và hiểu rõ hơn về những năm tháng chiến đấu vô cùng gian khổ của bộ đội đặc công tại mảnh đất này.

Đoàn nhà văn TP. HCM chụp hình lưu niệm trước Đền thờ Anh hùng Liệt sĩ Cần Giờ

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, quân và dân Cần Giờ đã góp phần to lớn trong việc tiếp nhận và vận chuyển vũ khí, đạn dược và hàng hóa từ miền Bắc gửi vào Nam, góp phần quan trọng trong việc đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Đế quốc Mỹ, góp phần to lớn vào thắng lợi trong đợt tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 và Đại thắng mùa xuân năm 1975, mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Nhà thơ Huệ Triệu thay mặt Đoàn nhà văn TP. HCM viết lưu niệm trong Sổ lưu niệm tại Đền thờ

Căn cứ Rừng Sác giờ là di tích lịch sử cấp quốc gia, là căn cứ địa cách mạng quan trọng của bộ đội ta trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Hôm nay về đây tôi được xem, được tận mắt chứng kiến những hình ảnh, hiện vật và nghe những câu chuyện kể về sự hy sinh anh dũng của các chiến sĩ năm xưa, với những trận chiến đấu ngoan cường, anh dũng của bộ đội Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác, là đơn vị đã bám trụ tại vùng đất này để đánh giặc từ năm 1966 cho đến ngày giải phóng miền Nam năm 1975.

Nhà thơ Nguyên Hùng thắp nhang trước tấm bia ghi tên các Anh sùng Liệt sĩ

Trong gần 9 năm đó, Trung đoàn 10 đặc công Rừng Sác đã đánh 595 trận lớn nhỏ, loại khỏi vòng chiến đấu 6.200 tên Mỹ - ngụy, đánh chìm và cháy 356 tàu, thuyền chiến đấu; đánh đắm 133 tàu vận tải từ 8.000 - 13.000 tấn và bắn cháy 145 tàu vận tải khác; bắn rơi 29 máy bay trực thăng; phá hủy một trận địa pháo, nhiều cầu, sở chỉ huy của địch… Trong gần 600 trăm trận đánh đó, có những trận đánh đi vào trang sử hào hùng của quân đội ta, điển hình trận đánh chìm tàu Victory trọng tải 10.000 tấn, chở 100 xe tăng, 3 máy bay, hàng trăm khẩu pháo, hàng nghìn tấn lương thực, thực phẩm; hai lần đánh kho bom Thành Tuy Hạ, đã phá hủy trên 110.000 tấn bom đạn, chất nổ. Trong lần đột nhập Tổng kho xăng Nhà Bè, đã thiêu hủy 250 triệu lít xăng dầu và khí đốt gaz… góp phần làm tiêu hao và chia cắt nguồn cung ứng vũ khí, khí tài và xăng dầu của Mỹ cho quân ngụy Sài Gòn. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, Trung đoàn 10 đặc công Rừng Sác đã đánh chiếm và tiếp quản Quân cảng Nhà Bè, thu hàng trăm tàu, bắt hàng ngàn tên lính ngụy… Đây là điển hình của nghệ thuật quân sự Việt Nam mà lịch sử quân sự thế giới chưa bao giờ đúc kết được. Có vinh quang nào mà chẳng đổi bằng những hy sinh mất mát, có chiến thắng nào mà chẳng tổn thất máu xương. Hơn 560 anh hùng liệt sĩ, những người con ưu tú đã ngã xuống mảnh đất này để giành lại hòa bình, độc lập cho Tổ quốc. Thân xác các anh đã vĩnh viễn nằm lại nơi mảnh đất này, giữa rừng đước xanh tươi, trong lòng sông Lòng Tàu... Mong các anh hãy yên nghỉ đâu đâu cũng là quê hương đất mẹ Việt Nam. Với những chiến công oanh liệt và xuất sắc đó, ngày 23/9/1973, Trung đoàn 10 Đặc công Rừng Sác, đã được Đảng và Nhà nước phong tăng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân.

Đoàn nhà văn trong rừng đước Cần Giờ

Năm tháng sẽ đi qua, cuộc chiến tranh cũng đã lùi về quá khứ, đất nước thay da đổi thịt từng ngày. Rừng Sác là vùng đất chết, bởi chất độc da cam khai quang và bom đạn của Mỹ - ngụy cày xới năm xưa, hôm nay đã trở thành khu du lịch sinh quyển. Ngắm nhìn những cánh rừng đước bạt ngàn, xanh mướt chúng ta thấy được sức sống thần kỳ của thiên nhiên và con người Việt Nam. Tuy nhiên, hình ảnh đau thương và những hy sinh mất mát bởi bom đạn của Mỹ - ngụy, như còn nguyên trên nét mặt, trong khóe mắt và trong trái tim của bao người đã từng gắn bó tuổi trẻ của mình cho mảnh đất này của một thời lửa đạn. Trong lòng họ vẫn đau đáu một điều day dứt bởi còn rất nhiều mộ liệt sĩ trong các nghĩa trang, với tấm bia đề “Liệt sĩ chưa xác định được danh tính”, và nhiều đồng đội của các anh hi sinh đến nay vẫn chưa tìm được hài cốt. Có lẽ tất cả điều đó đã minh chứng cho sự hy sinh to lớn, vô cùng anh dũng của một dân tộc. Nó nhắc nhở thế hệ hôm nay phải có những hành động thiết thực, ý nghĩa để xoa dịu nỗi đau, sự mất mát to lớn của các gia đình liệt sỹ, thương binh, bệnh binh và thành kính tri ân các anh hùng liệt sỹ, những người con thân yêu từ hơn 40 tỉnh thành trên cả nước.

Chúng tôi đi trên những con đường giữa cánh rừng đước và trà xanh năm xưa, nay đã trở thành đường du lịch cho du khách trong và ngoài nước ngắm cảnh. Với tôi, đi trên những con đường này, trong lòng tôi càng thấy yêu quê hương hơn, và càng tự hào về truyền thống hào hùng của quân đội ta, trong đó có các chiến công lừng lẫy của cán bộ chiến sĩ Trung đoàn 10 Đặc công Rừng Sác. Cũng trong sáng hôm nay có vài chiếc xe đưa học sinh, sinh viên chạy trên con đường này. Tôi thầm nghĩ rằng: Thế hệ trẻ hôm nay và mai sau họ sẽ tiếp tục đến địa chỉ đỏ này và sẽ khắc sâu trong tim, trong tâm trí họ về những chiến công huyền thoại của các anh - Bộ đội đặc công Rừng Sác.

TP. HCM, tháng 7 năm 2025
Đ.T.S

Bài viết liên quan

Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm
Những con đường ký ức - Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Những con đường của Hội An là những sợi máu trong tôi. Chúng đã đi qua thời gian, chịu đựng bao thác ghềnh, nhiều lúc ngỡ tan biến như những bào ảnh của lãng quên để rồi cuối cùng vẫn lặng lẽ cất lên tiếng nói mơ hồ của ký ức, nhắc rằng đó là một phần không thể thiếu trong tôi.
Xem thêm
Làm du lịch từ lò gạch Sa Đéc xưa
Vào dịp tết Nguyên đán hàng năm, cứ từ 20 tháng chạp đổ lên, người miền Nam lại lũ lượt tìm về vãn cảnh nhà vườn hoa kiểng Tân Quy Đông (Sa Đéc- Đồng Tháp). Cạnh bên Tân Quy Đông là vùng đất Tân Quy Tây bạt ngàn vườn ruộng được bồi đắp phù sa quanh năm bởi con sông Tiền hiền hoà quê kiểng. Lớp phù sa dày dặn bám trên đồng ruộng lâu năm trở thành lớp đất nâu non (đất sét) dẻo quẹo, là loại nguyên liệu rất tốt để người địa phương nung gạch xây dựng các công trình.
Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm
Viết cho tuổi hai mươi: giữa chênh vênh và hoài bão – Tản văn Phạm Phúc Vinh
“Tuổi hai mươi giống như một cơn mưa rào mùa hạ. Người ta vừa sợ ướt áo, lại vừa muốn đằm mình vào cái mát lạnh của đất trời. Chênh vênh đó, nhưng cũng rực rỡ vô cùng.”
Xem thêm
Thấy gì sau những chiếc xe hút đinh tự nguyện – Tạp bút Trần Đôn
Trong dòng chảy hối hả của giao thông đô thị, đôi khi ta bắt gặp hình ảnh những chiếc xe tự chế gắn thanh nam châm miệt mài rà sát mặt đường để “giải cứu” người đi đường khỏi nạn “đinh tặc”. Hình ảnh ấy đã trở nên quen thuộc ở nhiều nơi.
Xem thêm
Sắc hoa tháng Ba ở Điện Biên - Tản văn Phan Anh
Thời bây giờ, hoa ban không còn là loài hoa độc quyền của Tây Bắc nữa. Người ta đã nhân giống và đưa cây ban về trồng ở khắp mọi nơi. Chỉ riêng ở Hà Nội, cứ mỗi độ xuân về, trong hơi ấm của nắng mới tháng ba, trên đường Điện Biên Phủ, Hoàng Diệu, Thanh Niên, Bắc Sơn, công viên Cầu Giấy, hồ Gươm, hồ Thiền Quang, hồ Tân Xã … người ta thấy nàng công chúa của xứ sở Tây Bắc tưng bừng bung nở trên các vòm cây, đua nhau khoe sắc ngập trời, rồi thoang thoảng gửi hương vào trong không gian êm dịu của mùa xuân; khiến cho chị em không khỏi xốn xang, quên cả cái tiết trời còn chưa hết gió lạnh lẫn mưa bụi mà nô nức sửa soạn áo váy, rủ nhau đi sống ảo làm cho phố phường những nơi ấy cũng trở nên vui tươi, náo nhiệt.
Xem thêm
​Đám rau mùi già tháng Giêng của mẹ - Tạp bút Lê Thị Hiệp
Là một người rất thích rau mùi(người miền Nam gọi là ngò rí) nên mẹ tôi ngay từ lúc còn trẻ cho tận tới nay khi đã về già, bà vẫn luôn duy trì thói quen gieo trồng loại rau gia vị cực kỳ ngon và có mùi thơm vô cùng hấp dẫn này. Mẹ tôi kể rằng, từ khi lấy bố về làm dâu nhà ông bà nội tôi, thì mảnh vườn sau nhà rộng rãi, dẫu có trồng loại rau gì đi chăng nữa thì mẹ vẫn luôn dành ra một khoảng đất màu mỡ gần ngay khu vực cầu ao để gieo trồng rau mùi.
Xem thêm