TIN TỨC

Phù sa tâm hồn qua “Ký ức bão!” của Lương Duy Cường

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-08-12 23:44:14
mail facebook google pos stwis
1116 lượt xem

Nguyên Tô

Những ngày đầu tháng Tám, tôi có chuyến đi miền Trung vào đúng dịp trời như rút ruột để nắng, đến nỗi chỉ cần thêm một giọt bỏng sẽ vỡ cả thinh không. Để mấy ngày sau trở về nhà, trong giấc mơ, quờ tay, tôi vẫn chạm vào bỏng rát. Người ta nói, trước những cơn thiên tai, nắng thường đi trước để dọn đường.

Bìa tập Bút ký "Ký ức bão" của nhà báo Lương Duy Cường

Trước đó ít bữa, tôi đã kịp chạm vào hồn bút kí “Ký ức bão” (NXB Hội Nhà văn - 2025) của luật gia, nhà báo Lương Duy Cường. Anh viết về BÃO rất BÃO, như bởi anh chính là một mảnh văng ra từ những cơn bão kí ức, để những người Quảng Bình là bạn cùng trang lứa, đọc anh, họ thấy được những ngày đã qua.

Khi những day dứt khôn nguôi về bóng ngày cũ, được hóa thân thành con chữ, Lương Duy Cường mới bớt nhức nhối. Nhưng quý hơn cả, là khi soi vào chữ của anh, lại gặp được chính mình. Chỉ điều giản dị ấy thôi đã là động lực, hối thúc người cầm bút như Lương Duy Cường.

Là cựu sinh viên Văn khóa VI - Đại học Tổng hợp Huế, kinh qua sự nghiệp báo chí nên chất văn của Lương Duy Cường riết róng, tựa máu thịt nuôi anh từng ngày. Trong tập bút kí này, tôi đã chạm tới bức tranh phong cảnh tâm hồn dữ dội của Lương Duy Cường. Ngòi bút sắc sảo của anh đã ghi lại vết xước thời gian bằng một ngôn ngữ giản dị nhưng khả năng dung chứa cảm xúc là vô biên.

Tôi dùng từ “ghi lại”, vì sự thật luôn hiển hiện trong hồn chữ - đặc trưng của thể kí, tuy nhiên anh đã có một đời sống khác, trong sự sáng tạo không giới hạn của kẻ luôn thấy mình khát thèm những phương trời viễn mộng.

Không phải ngẫu nhiên mà con sông Gianh - chứng nhân của nỗi tủi buồn phân ly và khát vọng hàn gắn trong lịch sử dân tộc, trở thành nhân vật trong “Ký ức bão!” của Lương Duy Cường. Đó là quê hương, là mẹ, là hợp lưu quá khứ, hiện tại và tương lai của anh.

Trong tiểu thuyết “Sông Hằng mẹ tôi”, tác giả người Ấn Độ B.P.Gupta (Bhairava Prasad Gupta) đã chọn sông Hằng là biểu tượng về thời gian: dòng chảy - ký ức và không gian - nhà, để nâng tầm ký ức cá nhân thành ký ức tập thể. Ở một nghĩa khác, con sông còn là dòng chảy văn hóa của một cộng đồng, một vùng miền dân cư. Sông Gianh cũng như thế, luôn thao thiết chảy trong tim đứa con Quảng Bình sống xa quê nhà.

Trong tầng diễn dịch khác, sông Gianh ẩn dụ cho dòng chìm trôi, nhưng phù sa văn hóa lại tái hiện đa thanh, đa diện, lớp lang. Sông là cội nguồn đạo lý, để cội nguồn vuột qua, ấy là sự mất và vô ơn, trở về để mặc nước sông tẩm tưới bụi bặm là một thứ nghi lễ thanh tẩy. “Ký ức bão!”giá trị ở điều này.

Ký ức bao giờ cũng thế, thường dậy lên sau lớp bụi thời gian, khi con người đã đủ đầy hoặc ở vào cảnh thanh bần. Khi đủ, người ta khoác cho ký ức cái gọi là “ôn cố tri tân”; lúc deo dắt, ký ức lại là chiếc gối êm, để úp mặt vào mà tự hờn xót hay lấy ngày xa ngái mà thấm lệ mặn.

Những cơn thiên tai đã đẩy người dân Quảng Bình vào những cơn đói - cái đói đã bứt nhiều người trong số đó phải rời khỏi mảnh đất quê nhà để bươn chãi lập nghiệp nơi xa xứ. TP.HCM - quê hương thứ 2 của anh, nơi mỗi đêm tỉnh dậy trong căn phòng ấm, anh vẫn thấy thiếu thốn một cơn gió quất chảy máu da thịt, vệt nắng nỏ khô người. TP.HCM ân tình đã cưu mang gia đình anh, nhưng vẫn không lấp đầy khoảng trống khi xa ngôi làng Lệ Sơn nhỏ bé mà quật cường.

Mỗi “cận Tết là mưa tầm tã, rét cắt da cắt thịt, như muốn trút bỏ lần cuối tất tật những gì còn lại của mùa đông”, là mỗi lần xăm vào anh một vết nhớ quê, nó như một vết thương dai dẳng, chỉ cầm miệng, khi bàn chân anh được trở về mảnh vườn cũ. Mà vườn cũ còn đâu “bao năm lũ lụt cào vét, rồi những đợt di dời… khiến vườn tược, nhà thờ tự cũng không còn”.

Nhưng nấm tròn vùi xương cha nằm lại nơi chôn nhau như một quy luật, một nhưng nhức trong lòng, 10 năm xa, chỉ cúng vọng ông bà tổ tiên và cha bằng những giọt mặn nuốt thầm - một niềm thăm thẳm khôn khuây. “Cha tôi khuất núi sớm. Cơn đột quỵ kéo dài hàng năm trời của cha khiến gia đình đang bề thế bỗng khánh kiệt. Túng bấn, mẹ tôi bán con heo cuối cùng rồi khăn gói đưa đàn con vào Nam mót thuê, lay lắt nuôi con ăn học”.

Anh vẽ chân dung mẹ sau cơn bạo bệnh và sự ra đi của cha. Tạc mẹ anh can trường trong nỗi cô đơn, lần hồi nuôi đàn con khôn lớn. Hơn cả niềm cảm phục và biết ơn. Cơn bão đời đã trao sinh mệnh cho chữ anh. Người đàn bà cặm cụi trong những đêm trường góa phụ, người đàn bà đã cùng con vượt qua cơn bão số phận. Trong đời thường, không thiếu những thân phận đàn bà éo le như thế, nhưng để lưu lại được hình ảnh người mẹ trong trang viết, hẳn không nhiều.

Rồi Tết năm ấy, gia đình anh trở về trong vòng tay người làng. “Đò cập bến, bao nhiêu là người chen nhau ùa xuống, kẻ đỡ tay dìu mẹ tôi lên bờ, người xách giúp vợ tôi mấy cái giỏ. Mấy anh trai tráng giành nhau cõng thằng bé con tôi phăm phăm chạy lên bờ khiến cu cậu cứ tít cả mắt”. Người làng Lệ Sơn đùm bọc, tặng cho gia đình anh cái Tết yêu thương, bù đủ cho 10 đêm trừ tịch dưới bầu trời lộng lẫy Sài thành mà ngóng vọng vòm quê thăm thẳm.

Xa xôi địa lý là một cơ hội để anh hiểu hơn 2 tiếng “người làng”. “Nhang khói nghi ngút trên bàn thờ. Mẹ lau vội mấy giọt nước mắt. Bao năm xa xứ, bây giờ mẹ mới có lại cảm giác của một người con dâu trước bàn thờ tiên tổ”.

Mẹ là quê hương, là tuổi thơ của Lương Duy Cường. Đứa trẻ nào không nôn nao dưới vòm trời mùa hạ? Hạ châm lửa vào những thế hệ hồn nhiên của dải đất hình chữ S thân thương này. “Những cánh hoa mịn màng, chấp chới tựa những cái đuôi dài của loài chim phượng. Tôi cứ ngây người như thế, cứ ngửa mặt lên khoảng trời ấy. Dù gió lớn quăng quật từng cành, từng nhánh, nhưng vẫn thế, vẫn không cánh hoa nào rơi xuống… Như tuổi thơ tôi đã qua lâu rồi, đã mãi trầm tích trong quá vãng”.

Vin cành phượng hồng, cứ thế anh đi trong dòng tự sự về tháng ngày chân trần bỏng rát trên những nẻo đường thơ ngây. Ngôi trường dưới chân đồi Nậm Chu, phượng cháy ngang trời, “bến phà vận hành bằng cách dùng tay kéo cáp” để mỗi lần nhớ cơm mẹ, cả lũ lại rủ nhau về, rồi bươn bả qua sông, áo mũ quấn trong túi nilon đội trên đầu cho kịp giờ học.

 Nỗi nhớ sao mà da diết, vương mắc vào khóm rong tóc tiên, chảy theo làn nước sông Gianh, treo trên tràng hoa phượng thắp đỏ ngực người bạn ra chiến trường, gieo vào con mắt biết nói của người yêu phượng tím…

Cứ thế, nhẩn nha mà kể, nhưng cuối khúc đột ngột một nỗi đau không da thịt mà sao ám ảnh khôn nguôi, trên dòng nước hiền hòa, lòng tham đã biến con người thành cát tặc, những hút xoáy sau khai thác cát đã dìm chết bao sinh mệnh vô tội. “Bỗng thấy con sông hiền hòa thơ mộng của tuổi thơ tôi ngày nào giờ đây như một nỗi ám ảnh không nguôi?

Từ nỗi nhớ tuổi thơ, đặt ra những vấn đề nhân sinh hàng ngày, ấy chính là chất văn ngào trộn trong ngòi bút sắc của nhà báo Lương Duy Cường.

Thế hệ Lương Duy Cường đã có rất nhiều những chàng trai, cô gái ra trận. Họ đi không tiếc tuổi trẻ, có người may mắn trở về, nhiều người đã mãi mãi nằm lại để thắp lên màu quê xanh đến nhức nhối trong nỗi nhớ thương của những người đang sống.

Nhà báo, Nhà văn Lương Duy Cường

Anh nhắc tới chiến tranh, đôi khi như một trò ú tim mà hiểm nguy trộn với thú vị. Thì ra, ở nơi mà thiên nhiên rất khắc nghiệt với con người, thì con người lại hóa giải bằng sự lạc quan, chắt chiu sự sống từ cái chết. “Chiến tranh ác liệt, mẹ suốt ngày đêm bám trụ ở xí nghiệp dược để sản xuất thuốc chuyển ra chiến trường. Lũ trẻ chúng tôi thì đợi con nước lên là lao ra sông Gianh, kiên nhẫn ngồi hóng hàng cứu trợ là những bao bột mì hoặc gạo, nước mắm đóng viên, thảng hoặc sẽ theo dòng nước từ ngoài cửa biển lập lờ trôi trên thượng nguồn. Thích nhất là khi vớt được bao bột mì hoặc bao gạo, vì ngoài cái ăn, chúng tôi còn có bao vải để may quần áo hoặc bao nilon đê làm áo mưa, rồi che chắn mái nhà ngay sau khi B52 tàn phá”.

Sông Gianh, nơi anh đã có chuyến đi để đời với ông Bường dân Kẻ Nôốc, để thấm vào mình phận người được con sông bao dung “họ rất hào hiệp nhưng lênh đênh sông nước, không một miếng đất dung thân”. Cũng con sông ấy, mang nước trong bão đổ, nhấn chìm bao kiếp người. “Bác tôi mất…Cả nhà anh tôi ngồi cầu nguyện mong nước rút để tiễn bác đi. Nhưng nước lên, quan tài bác nổi lên đến nóc nhà… Gia đình anh tôi cả 5 người phải phá mái nhà, dìu nhau sang ngọn cây duối còn chút ngọn vật vờ ngoài ngõ, bứt dây neo người lại với nhau để có chết thì không mất xác”.

Bên bờ sông Gianh, có bao cô gái đã tiễn những chàng trai của mình ra trận, vòm ngực trai vồng lên sau những tràng hoa phượng đỏ như máu chảy. Rồi chính các cô, chỉ vài tháng sau, đón tin chàng trai trở về trên tờ giấy báo tử. Đêm, sông Gianh đã hòa vào mình những giọt lệ nghẹn ngào của mối tình chưa dám ngỏ và trong lòng đất mẹ, có biết bao nhiêu đôi môi con trai chưa kịp biết nụ hôn có vị gì, đã mãi mãi câm lặng. Con sông đau mòn phế phủ, con sông ngọt ngào, con sông chảy trôi bao thế hệ. Sau bão là phù sa. "Ký ức Bão" của Lương Duy Cường cũng chính là một thứ phù sa chữ - phù sa tâm hồn.

Trong “Ký ức bão”, Lương Duy Cường còn là một gã pha màu năm tháng. Anh dụng công vào cặp màu đối nghịch: đỏ - năng lượng dương, tím - năng lượng âm. Nếu màu đỏ loang triền sông Gianh, cháy suốt năm tháng thơ ngây và thanh tân của anh, thì tím là một lời thì thầm rất mộng. Huế là cột mốc định danh đường về của một người con xa quê như anh, nên đến Huế là về. Hơn thế, đây cũng chính là nơi thắp lên thời thanh niên sôi nổi của anh, nơi anh gặp mối tình của mình.

Ngòi bút của anh không từ chối những gai góc, khuất lấp của cuộc đời, nhưng không vì thế mà khô cứng trong tình yêu. “Tím độ em về” là một đoản khúc vài trang trong cuốn sách, nhưng nó là trường khúc bất tận trong tim anh.

Từng qua Huế 2 lần, kịp lướt qua màu tím xứ Thần Kinh, nhưng đọc anh, tôi sâu vào tím. Màu dìu dịu loang tràn con chữ, thắm vào cái bổi hổi của phập phồng ngực trai với những ghì xiết, quấn quýt của một vùng cảm xúc tuổi trẻ. “Tôi và em đã ngồi bên nhau trong đêm chia tay, dưới một gốc xoan già ở chân cầu Trường Tiền. Ở đó, những nụ xoan theo gió lả tả bay xuống, rụng trên mái tóc trinh nữ thoảng một chút hương si mê”.

Màu tím lặn vào anh một nốt lặng trên khuông nhạc nhớ chơi vơi, rồi lớn lên theo năm tháng thành mối lương duyên vợ chồng.

Ngòi bút anh soi vào màu tím hoa xoan mỗi độ xuân nồng, đẩy thành một cơn kí ức về lịch sử Kinh Đô xứ Huế, nơi những vương triều soi bóng. Nhớ chạm dòng sông dùng dằng trong thơ Thu Bồn. Rồi diễm lệ, u huyền trong cơn phóng sinh sắc màu thiên nhiên của hoang sơ đỉnh cao Bạch Mã.

Trong một phút hưng cảm giữa đại ngàn trùng điệp, bút anh đã tỏa màu ảo diệu, đẹp thổn thức “Ngay dưới chân những luồng sáng ấy là vô số đàn bướm thoắt xanh, thoắt tím, thoắt vàng trong vũ khúc hoan mê của bất tận khói sương, bất tận hoang sơ. Và từ những bậc đá nơi dòng nước đang lao ầm ầm như ngựa chứng ấy, bỗng đột ngột khởi cả một dải lụa tím đến nao lòng của tầng tầng hoa mua, hoa bằng lăng và cả loài quyên tím”. Tôi đọc như uống, vì sợ dừng lại thì cái màu tím đẹp đến vô thực kia sẽ tan biến.

Lương Duy Cường là kẻ nặng ân tình, nên vốn liếng giàu có của anh là sự tử tế. Chữ anh Chan chứa những ân tình. Bao năm xa quê, vất vưởng gió bụi triền đời, cuối cùng gia đình anh cũng có được hộ khẩu thành phố, vì thế mà có được ngôi nhà an ấm.

Anh bùi ngùi nhớ lại cơ duyên ấy. “Nhiều dịp được tháp tùng ông Năm Xuân (Đại tướng Mai Chí Thọ) trong các chương trình từ thiện cho người nghèo hay vùng sâu vùng xa”. Câu chuyện về cha anh, đã khiến ông Năm Xuân rất cảm động, ông nói với anh “Ba cháu nhất quyết xin quay trở lại tuyến lửa. Chính bác đã dọa sẽ kỷ luật ba cháu, vì đánh giặc ở tuyến lửa không sợ mà đối đầu với cải tạo công thương thì sợ. Nhưng ổng vẫn dứt khoát xin quay về phục vụ tuyến lửa nên rốt cuộc tổ chức đồng ý”.

Ông Năm Xuân đã đề nghị lãnh đạo Công an Thành phố Hồ Chí Minh nhập hộ khẩu cho anh. “Ông dặn rất kỹ rằng số cán bộ từng vào tiếp quản miền Nam ít nhiều đều có công với thành phố này. Đặc biệt con em tuyến lửa và thì thành phố phải tạo mọi điều kiện để giúp đỡ, vì trong chiến tranh họ đã thiệt thòi nhiều”. Ký ức ấy như sự biết ơn với đấng sinh thành, với người đã giúp đỡ anh. Người không ký ức là người bất hạnh và nghèo khó.

Tôi nghĩ, mỗi ngày sống của Lương Duy Cường sẽ là mỗi đắp đổi cho đầy vơi ký ức. Chắc chắn, anh còn rất nhiều mong ước về cuốn ký ức đời mình, đó là bất ngờ của ngày mai. Nhưng hiện tại, với “Ký ức bão”, anh đã cho tôi thấy được những trải nghiệm của thế hệ anh - một thế hệ từng chứng kiến chiến tranh quét qua những người thân, người bạn và quê hương mình, đau thương, mất mát đã khiến họ chắt chiu sự sống, kiên cường bản lĩnh và chân thành.

Chữ cũng vậy, nếu không thật, sẽ chỉ lấy được những khóc cười giả tạo. Kí là thể loại hấp dẫn độc giả bằng sự thật nhưng lại mê hoặc họ bằng sự mộng mơ. Thử tưởng tượng xem, nếu một ngày kia, sự thật bị đánh cắp và tâm hồn cạn vốn liếng, bạn hay tôi, chúng ta chỉ là những kẻ nghèo khó kiệt cùng mà thôi.

Cũng như, vào đời, mong cầu bình an, ấy là cách bạn biến mình thành một kẻ nhợt nhạt. Vì suy cho cùng, vượt qua những cơn BÃO chính là cách để bạn lớn lên cuộc đời.  

N.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm