TIN TỨC

Phù sa tâm hồn qua “Ký ức bão!” của Lương Duy Cường

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-08-12 23:44:14
mail facebook google pos stwis
920 lượt xem

Nguyên Tô

Những ngày đầu tháng Tám, tôi có chuyến đi miền Trung vào đúng dịp trời như rút ruột để nắng, đến nỗi chỉ cần thêm một giọt bỏng sẽ vỡ cả thinh không. Để mấy ngày sau trở về nhà, trong giấc mơ, quờ tay, tôi vẫn chạm vào bỏng rát. Người ta nói, trước những cơn thiên tai, nắng thường đi trước để dọn đường.

Bìa tập Bút ký "Ký ức bão" của nhà báo Lương Duy Cường

Trước đó ít bữa, tôi đã kịp chạm vào hồn bút kí “Ký ức bão” (NXB Hội Nhà văn - 2025) của luật gia, nhà báo Lương Duy Cường. Anh viết về BÃO rất BÃO, như bởi anh chính là một mảnh văng ra từ những cơn bão kí ức, để những người Quảng Bình là bạn cùng trang lứa, đọc anh, họ thấy được những ngày đã qua.

Khi những day dứt khôn nguôi về bóng ngày cũ, được hóa thân thành con chữ, Lương Duy Cường mới bớt nhức nhối. Nhưng quý hơn cả, là khi soi vào chữ của anh, lại gặp được chính mình. Chỉ điều giản dị ấy thôi đã là động lực, hối thúc người cầm bút như Lương Duy Cường.

Là cựu sinh viên Văn khóa VI - Đại học Tổng hợp Huế, kinh qua sự nghiệp báo chí nên chất văn của Lương Duy Cường riết róng, tựa máu thịt nuôi anh từng ngày. Trong tập bút kí này, tôi đã chạm tới bức tranh phong cảnh tâm hồn dữ dội của Lương Duy Cường. Ngòi bút sắc sảo của anh đã ghi lại vết xước thời gian bằng một ngôn ngữ giản dị nhưng khả năng dung chứa cảm xúc là vô biên.

Tôi dùng từ “ghi lại”, vì sự thật luôn hiển hiện trong hồn chữ - đặc trưng của thể kí, tuy nhiên anh đã có một đời sống khác, trong sự sáng tạo không giới hạn của kẻ luôn thấy mình khát thèm những phương trời viễn mộng.

Không phải ngẫu nhiên mà con sông Gianh - chứng nhân của nỗi tủi buồn phân ly và khát vọng hàn gắn trong lịch sử dân tộc, trở thành nhân vật trong “Ký ức bão!” của Lương Duy Cường. Đó là quê hương, là mẹ, là hợp lưu quá khứ, hiện tại và tương lai của anh.

Trong tiểu thuyết “Sông Hằng mẹ tôi”, tác giả người Ấn Độ B.P.Gupta (Bhairava Prasad Gupta) đã chọn sông Hằng là biểu tượng về thời gian: dòng chảy - ký ức và không gian - nhà, để nâng tầm ký ức cá nhân thành ký ức tập thể. Ở một nghĩa khác, con sông còn là dòng chảy văn hóa của một cộng đồng, một vùng miền dân cư. Sông Gianh cũng như thế, luôn thao thiết chảy trong tim đứa con Quảng Bình sống xa quê nhà.

Trong tầng diễn dịch khác, sông Gianh ẩn dụ cho dòng chìm trôi, nhưng phù sa văn hóa lại tái hiện đa thanh, đa diện, lớp lang. Sông là cội nguồn đạo lý, để cội nguồn vuột qua, ấy là sự mất và vô ơn, trở về để mặc nước sông tẩm tưới bụi bặm là một thứ nghi lễ thanh tẩy. “Ký ức bão!”giá trị ở điều này.

Ký ức bao giờ cũng thế, thường dậy lên sau lớp bụi thời gian, khi con người đã đủ đầy hoặc ở vào cảnh thanh bần. Khi đủ, người ta khoác cho ký ức cái gọi là “ôn cố tri tân”; lúc deo dắt, ký ức lại là chiếc gối êm, để úp mặt vào mà tự hờn xót hay lấy ngày xa ngái mà thấm lệ mặn.

Những cơn thiên tai đã đẩy người dân Quảng Bình vào những cơn đói - cái đói đã bứt nhiều người trong số đó phải rời khỏi mảnh đất quê nhà để bươn chãi lập nghiệp nơi xa xứ. TP.HCM - quê hương thứ 2 của anh, nơi mỗi đêm tỉnh dậy trong căn phòng ấm, anh vẫn thấy thiếu thốn một cơn gió quất chảy máu da thịt, vệt nắng nỏ khô người. TP.HCM ân tình đã cưu mang gia đình anh, nhưng vẫn không lấp đầy khoảng trống khi xa ngôi làng Lệ Sơn nhỏ bé mà quật cường.

Mỗi “cận Tết là mưa tầm tã, rét cắt da cắt thịt, như muốn trút bỏ lần cuối tất tật những gì còn lại của mùa đông”, là mỗi lần xăm vào anh một vết nhớ quê, nó như một vết thương dai dẳng, chỉ cầm miệng, khi bàn chân anh được trở về mảnh vườn cũ. Mà vườn cũ còn đâu “bao năm lũ lụt cào vét, rồi những đợt di dời… khiến vườn tược, nhà thờ tự cũng không còn”.

Nhưng nấm tròn vùi xương cha nằm lại nơi chôn nhau như một quy luật, một nhưng nhức trong lòng, 10 năm xa, chỉ cúng vọng ông bà tổ tiên và cha bằng những giọt mặn nuốt thầm - một niềm thăm thẳm khôn khuây. “Cha tôi khuất núi sớm. Cơn đột quỵ kéo dài hàng năm trời của cha khiến gia đình đang bề thế bỗng khánh kiệt. Túng bấn, mẹ tôi bán con heo cuối cùng rồi khăn gói đưa đàn con vào Nam mót thuê, lay lắt nuôi con ăn học”.

Anh vẽ chân dung mẹ sau cơn bạo bệnh và sự ra đi của cha. Tạc mẹ anh can trường trong nỗi cô đơn, lần hồi nuôi đàn con khôn lớn. Hơn cả niềm cảm phục và biết ơn. Cơn bão đời đã trao sinh mệnh cho chữ anh. Người đàn bà cặm cụi trong những đêm trường góa phụ, người đàn bà đã cùng con vượt qua cơn bão số phận. Trong đời thường, không thiếu những thân phận đàn bà éo le như thế, nhưng để lưu lại được hình ảnh người mẹ trong trang viết, hẳn không nhiều.

Rồi Tết năm ấy, gia đình anh trở về trong vòng tay người làng. “Đò cập bến, bao nhiêu là người chen nhau ùa xuống, kẻ đỡ tay dìu mẹ tôi lên bờ, người xách giúp vợ tôi mấy cái giỏ. Mấy anh trai tráng giành nhau cõng thằng bé con tôi phăm phăm chạy lên bờ khiến cu cậu cứ tít cả mắt”. Người làng Lệ Sơn đùm bọc, tặng cho gia đình anh cái Tết yêu thương, bù đủ cho 10 đêm trừ tịch dưới bầu trời lộng lẫy Sài thành mà ngóng vọng vòm quê thăm thẳm.

Xa xôi địa lý là một cơ hội để anh hiểu hơn 2 tiếng “người làng”. “Nhang khói nghi ngút trên bàn thờ. Mẹ lau vội mấy giọt nước mắt. Bao năm xa xứ, bây giờ mẹ mới có lại cảm giác của một người con dâu trước bàn thờ tiên tổ”.

Mẹ là quê hương, là tuổi thơ của Lương Duy Cường. Đứa trẻ nào không nôn nao dưới vòm trời mùa hạ? Hạ châm lửa vào những thế hệ hồn nhiên của dải đất hình chữ S thân thương này. “Những cánh hoa mịn màng, chấp chới tựa những cái đuôi dài của loài chim phượng. Tôi cứ ngây người như thế, cứ ngửa mặt lên khoảng trời ấy. Dù gió lớn quăng quật từng cành, từng nhánh, nhưng vẫn thế, vẫn không cánh hoa nào rơi xuống… Như tuổi thơ tôi đã qua lâu rồi, đã mãi trầm tích trong quá vãng”.

Vin cành phượng hồng, cứ thế anh đi trong dòng tự sự về tháng ngày chân trần bỏng rát trên những nẻo đường thơ ngây. Ngôi trường dưới chân đồi Nậm Chu, phượng cháy ngang trời, “bến phà vận hành bằng cách dùng tay kéo cáp” để mỗi lần nhớ cơm mẹ, cả lũ lại rủ nhau về, rồi bươn bả qua sông, áo mũ quấn trong túi nilon đội trên đầu cho kịp giờ học.

 Nỗi nhớ sao mà da diết, vương mắc vào khóm rong tóc tiên, chảy theo làn nước sông Gianh, treo trên tràng hoa phượng thắp đỏ ngực người bạn ra chiến trường, gieo vào con mắt biết nói của người yêu phượng tím…

Cứ thế, nhẩn nha mà kể, nhưng cuối khúc đột ngột một nỗi đau không da thịt mà sao ám ảnh khôn nguôi, trên dòng nước hiền hòa, lòng tham đã biến con người thành cát tặc, những hút xoáy sau khai thác cát đã dìm chết bao sinh mệnh vô tội. “Bỗng thấy con sông hiền hòa thơ mộng của tuổi thơ tôi ngày nào giờ đây như một nỗi ám ảnh không nguôi?

Từ nỗi nhớ tuổi thơ, đặt ra những vấn đề nhân sinh hàng ngày, ấy chính là chất văn ngào trộn trong ngòi bút sắc của nhà báo Lương Duy Cường.

Thế hệ Lương Duy Cường đã có rất nhiều những chàng trai, cô gái ra trận. Họ đi không tiếc tuổi trẻ, có người may mắn trở về, nhiều người đã mãi mãi nằm lại để thắp lên màu quê xanh đến nhức nhối trong nỗi nhớ thương của những người đang sống.

Nhà báo, Nhà văn Lương Duy Cường

Anh nhắc tới chiến tranh, đôi khi như một trò ú tim mà hiểm nguy trộn với thú vị. Thì ra, ở nơi mà thiên nhiên rất khắc nghiệt với con người, thì con người lại hóa giải bằng sự lạc quan, chắt chiu sự sống từ cái chết. “Chiến tranh ác liệt, mẹ suốt ngày đêm bám trụ ở xí nghiệp dược để sản xuất thuốc chuyển ra chiến trường. Lũ trẻ chúng tôi thì đợi con nước lên là lao ra sông Gianh, kiên nhẫn ngồi hóng hàng cứu trợ là những bao bột mì hoặc gạo, nước mắm đóng viên, thảng hoặc sẽ theo dòng nước từ ngoài cửa biển lập lờ trôi trên thượng nguồn. Thích nhất là khi vớt được bao bột mì hoặc bao gạo, vì ngoài cái ăn, chúng tôi còn có bao vải để may quần áo hoặc bao nilon đê làm áo mưa, rồi che chắn mái nhà ngay sau khi B52 tàn phá”.

Sông Gianh, nơi anh đã có chuyến đi để đời với ông Bường dân Kẻ Nôốc, để thấm vào mình phận người được con sông bao dung “họ rất hào hiệp nhưng lênh đênh sông nước, không một miếng đất dung thân”. Cũng con sông ấy, mang nước trong bão đổ, nhấn chìm bao kiếp người. “Bác tôi mất…Cả nhà anh tôi ngồi cầu nguyện mong nước rút để tiễn bác đi. Nhưng nước lên, quan tài bác nổi lên đến nóc nhà… Gia đình anh tôi cả 5 người phải phá mái nhà, dìu nhau sang ngọn cây duối còn chút ngọn vật vờ ngoài ngõ, bứt dây neo người lại với nhau để có chết thì không mất xác”.

Bên bờ sông Gianh, có bao cô gái đã tiễn những chàng trai của mình ra trận, vòm ngực trai vồng lên sau những tràng hoa phượng đỏ như máu chảy. Rồi chính các cô, chỉ vài tháng sau, đón tin chàng trai trở về trên tờ giấy báo tử. Đêm, sông Gianh đã hòa vào mình những giọt lệ nghẹn ngào của mối tình chưa dám ngỏ và trong lòng đất mẹ, có biết bao nhiêu đôi môi con trai chưa kịp biết nụ hôn có vị gì, đã mãi mãi câm lặng. Con sông đau mòn phế phủ, con sông ngọt ngào, con sông chảy trôi bao thế hệ. Sau bão là phù sa. "Ký ức Bão" của Lương Duy Cường cũng chính là một thứ phù sa chữ - phù sa tâm hồn.

Trong “Ký ức bão”, Lương Duy Cường còn là một gã pha màu năm tháng. Anh dụng công vào cặp màu đối nghịch: đỏ - năng lượng dương, tím - năng lượng âm. Nếu màu đỏ loang triền sông Gianh, cháy suốt năm tháng thơ ngây và thanh tân của anh, thì tím là một lời thì thầm rất mộng. Huế là cột mốc định danh đường về của một người con xa quê như anh, nên đến Huế là về. Hơn thế, đây cũng chính là nơi thắp lên thời thanh niên sôi nổi của anh, nơi anh gặp mối tình của mình.

Ngòi bút của anh không từ chối những gai góc, khuất lấp của cuộc đời, nhưng không vì thế mà khô cứng trong tình yêu. “Tím độ em về” là một đoản khúc vài trang trong cuốn sách, nhưng nó là trường khúc bất tận trong tim anh.

Từng qua Huế 2 lần, kịp lướt qua màu tím xứ Thần Kinh, nhưng đọc anh, tôi sâu vào tím. Màu dìu dịu loang tràn con chữ, thắm vào cái bổi hổi của phập phồng ngực trai với những ghì xiết, quấn quýt của một vùng cảm xúc tuổi trẻ. “Tôi và em đã ngồi bên nhau trong đêm chia tay, dưới một gốc xoan già ở chân cầu Trường Tiền. Ở đó, những nụ xoan theo gió lả tả bay xuống, rụng trên mái tóc trinh nữ thoảng một chút hương si mê”.

Màu tím lặn vào anh một nốt lặng trên khuông nhạc nhớ chơi vơi, rồi lớn lên theo năm tháng thành mối lương duyên vợ chồng.

Ngòi bút anh soi vào màu tím hoa xoan mỗi độ xuân nồng, đẩy thành một cơn kí ức về lịch sử Kinh Đô xứ Huế, nơi những vương triều soi bóng. Nhớ chạm dòng sông dùng dằng trong thơ Thu Bồn. Rồi diễm lệ, u huyền trong cơn phóng sinh sắc màu thiên nhiên của hoang sơ đỉnh cao Bạch Mã.

Trong một phút hưng cảm giữa đại ngàn trùng điệp, bút anh đã tỏa màu ảo diệu, đẹp thổn thức “Ngay dưới chân những luồng sáng ấy là vô số đàn bướm thoắt xanh, thoắt tím, thoắt vàng trong vũ khúc hoan mê của bất tận khói sương, bất tận hoang sơ. Và từ những bậc đá nơi dòng nước đang lao ầm ầm như ngựa chứng ấy, bỗng đột ngột khởi cả một dải lụa tím đến nao lòng của tầng tầng hoa mua, hoa bằng lăng và cả loài quyên tím”. Tôi đọc như uống, vì sợ dừng lại thì cái màu tím đẹp đến vô thực kia sẽ tan biến.

Lương Duy Cường là kẻ nặng ân tình, nên vốn liếng giàu có của anh là sự tử tế. Chữ anh Chan chứa những ân tình. Bao năm xa quê, vất vưởng gió bụi triền đời, cuối cùng gia đình anh cũng có được hộ khẩu thành phố, vì thế mà có được ngôi nhà an ấm.

Anh bùi ngùi nhớ lại cơ duyên ấy. “Nhiều dịp được tháp tùng ông Năm Xuân (Đại tướng Mai Chí Thọ) trong các chương trình từ thiện cho người nghèo hay vùng sâu vùng xa”. Câu chuyện về cha anh, đã khiến ông Năm Xuân rất cảm động, ông nói với anh “Ba cháu nhất quyết xin quay trở lại tuyến lửa. Chính bác đã dọa sẽ kỷ luật ba cháu, vì đánh giặc ở tuyến lửa không sợ mà đối đầu với cải tạo công thương thì sợ. Nhưng ổng vẫn dứt khoát xin quay về phục vụ tuyến lửa nên rốt cuộc tổ chức đồng ý”.

Ông Năm Xuân đã đề nghị lãnh đạo Công an Thành phố Hồ Chí Minh nhập hộ khẩu cho anh. “Ông dặn rất kỹ rằng số cán bộ từng vào tiếp quản miền Nam ít nhiều đều có công với thành phố này. Đặc biệt con em tuyến lửa và thì thành phố phải tạo mọi điều kiện để giúp đỡ, vì trong chiến tranh họ đã thiệt thòi nhiều”. Ký ức ấy như sự biết ơn với đấng sinh thành, với người đã giúp đỡ anh. Người không ký ức là người bất hạnh và nghèo khó.

Tôi nghĩ, mỗi ngày sống của Lương Duy Cường sẽ là mỗi đắp đổi cho đầy vơi ký ức. Chắc chắn, anh còn rất nhiều mong ước về cuốn ký ức đời mình, đó là bất ngờ của ngày mai. Nhưng hiện tại, với “Ký ức bão”, anh đã cho tôi thấy được những trải nghiệm của thế hệ anh - một thế hệ từng chứng kiến chiến tranh quét qua những người thân, người bạn và quê hương mình, đau thương, mất mát đã khiến họ chắt chiu sự sống, kiên cường bản lĩnh và chân thành.

Chữ cũng vậy, nếu không thật, sẽ chỉ lấy được những khóc cười giả tạo. Kí là thể loại hấp dẫn độc giả bằng sự thật nhưng lại mê hoặc họ bằng sự mộng mơ. Thử tưởng tượng xem, nếu một ngày kia, sự thật bị đánh cắp và tâm hồn cạn vốn liếng, bạn hay tôi, chúng ta chỉ là những kẻ nghèo khó kiệt cùng mà thôi.

Cũng như, vào đời, mong cầu bình an, ấy là cách bạn biến mình thành một kẻ nhợt nhạt. Vì suy cho cùng, vượt qua những cơn BÃO chính là cách để bạn lớn lên cuộc đời.  

N.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm