TIN TỨC

KHÁT để biển khơi và CHÁY để mặt trời!

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-07-22 18:53:05
mail facebook google pos stwis
1442 lượt xem

NGUYÊN BÌNH
 

Tự ngẫm rồi thương mình từng múa may theo tiếng kèn hư danh

Tâm biển khơi hóa ao tù, thi tài mặt trời thành đom đóm.

(Nguyễn Đức Hạnh).

Tác giả tập thơ Khát cháyNguyễn Đức Hạnh, Phó Giáo sư, Tiến sĩ ngành Ngữ văn, Nhà giáo Ưu tú. Ông là nhà nghiên cứu - phê bình văn học với nhiều công trình có giá trị.

Tôi đọc Khát cháy chậm rãi – theo lời khuyên của nhà thơ Nguyên Hùng – và dành thời gian chiêm nghiệm từng thi ảnh, từng trường liên tưởng đầy thách thức. Có thể xem Khát cháy là biểu hiện dũng khí của một cây bút trí thức sau bao năm chiêm nghiệm về triết lý và học thuật xã hội đương đại. Nền học thuật đã và đang trải qua thời kỳ sóng gió, xáo động tận gốc rễ nền tảng tư tưởng, phương pháp luận. Trong môi trường đó, ông âm thầm và kiên quyết định hình một phong cách sáng tác thơ của riêng mình.

1. Trong Khát cháy, thi tứ, thi ảnh, ngôn ngữ thơ có sự giao thoa rất lạ: vừa mộc mạc chân thực vừa siêu thực. Sự giản dị đồng hành cùng ánh sáng soi chiếu vào chiều sâu đối tượng

Sự chân thật và giản dị trong ngữ ngôn Khát cháy là những viên gạch rắn rỏi, thô ráp mà vững chắc tạo nên sự bứt phá cho nền tảng thơ mới mẻ đầy cá tính mà anh đang cách tân. NĐH mạnh dạn gạt bỏ hình thức tu từ cổ điển, xóa nhoà miền tâm thức ao tù cũ kỹ, xây dựng một phong cách sáng tác tự do, độc lập, ở đó ông thỏa sức sáng tạọ. Có thể nói, Khát cháy làm nên một NĐH, một tác giả mới, người luôn nuôi dưỡng trong trái tim nguồn cảm hứng từ hình ảnh gần gủi, dân tộc và đậm sâu, xa lánh những khoa trương đao to búa lớn. Với học hàm của mình, ông dư thừa những kiến văn kinh điển nay đã sáo mòn. Ông đã chọn hình ảnh và ngôn ngữ bình dân nhất: Nhà dột mang hết xoong nồi ra hứng / Mẹ hứng bằng đôi mắt trũng sâu / Mưa đong đầy rồi tràn ra ngoài mắt mẹ / Ướt sũng con đang ngắm ngọn đèn dầu. (Mẹ ơi con nhóm lửa rồi). Giản dị như nhà nhà đem xoong nồi hứng khi mưa dột, mỗi câu thơ nhìn đơn sơ mà đấy ắp những khám phá bất ngờ. Những khám phá này đâu lại trong từng mảng không gian hiện thực lẫn siêu thực, tạo độ nén và ám gợi mạnh mẽ người đọc trong suốt tác phẩm. Ông dễ dàng phát hiện và nắm bắt động thái bên trong của dòng ý thức. Đơn giản mà không dễ dãi để kiến tạo những câu thơ sâu lắng thoát thai từ tâm hồn nhạy cảm và đôn hậu: Mưa đong đầy rồi tràn ra ngoài mắt mẹ trong khi Ướt sũng con đang ngắm ngọn đèn dầu. NĐH thong thả lấp đầy không gian thơ đối xứng xoay quanh cơn mưa bằng quan sát tinh tế, bằng cảm xúc, bằng chính biểu hiện hy sinh thầm lặng của Mẹ và niềm ngây ngô của chú gà Con trong đôi cánh thiên thần.

2. Miền suy tưởng chứa đựng thiền triết phương Đông đã ngấm sâu vào bản nguồn tư tưởng học thuật đồng hành cùng sự ngưỡng vọng tâm linh

Mời các bạn thưởng chén Trà Tân Cương của nhà thơ Nguyễn Đức Hạnh. Xin nói thêm một chút, điều thú vị là ông lớn lên và thành danh tại xứ Trà huyền thoại này:

Trà thơm làm em thơm hay ngược lại?

Nhắm hờ mắt chạm môi vào trầm tích

Những ban mai vỗ cánh gọi mời

Tựa mặt trăng nhìn trời

Nghe trà kể trăm năm hừng hực

Những phận người lá rách

Chụm về đây thành rừng

(Trà Tân Cương)

Chúng ta hãy thử làm một phép tích phân về nghệ thuật, tính triết luận và sự ám gợi trùng điệp trong thơ NĐH, (dù thơ luôn là đối tượng chỉ để cảm): “Trà thơm làm em thơm hay ngược lại?” Một câu hỏi tưởng chừng đơn sơ, nhưng lại chứa đựng quá trình chiêm nghiệm về bản thể và tác động hổ tương giữa con người và sự vật. Trà thơm vì người thưởng thức? Hay người trở nên thơm nhờ trà? Câu hỏi gợi mở một nghịch lý vừa mang màu sắc triết học phương Đông, vừa gợi nhắc đến sự hòa quyện giữa người và vật, giữa cảm và cảnh – không tách rời, như cụ Nguyễn Du đã từng “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ. Tôi ngỡ ngàng đến bàng hoàng với “Nhắm hờ mắt chạm môi vào trầm tích”. Theo tôi đây là một câu thơ đẹp, cả tứ lẫn từ. Việc thưởng trà được NĐH miêu tả bằng một sát na thiền định, một tâm thế tiếp cận sâu lắng hài hòa với dòng chảy thời gian ("trầm tích"). Nó hàm ẩn triết lý về việc sống chậm, lắng sâu, chạm đến tầng đáy lịch sử, ký ức, văn hóa của một tách trà – một thứ tưởng như đơn giản nhưng ẩn giấu cả "trăm năm" của “Những phận người lá rách” đổ mồ hôi và nước mắt cho tách trà thơm hôm nay. Trong câu thơ “Những ban mai vỗ cánh gọi mời” nhà thơ dùng thủ pháp nhân hoá, ẩn dụ cho những khởi đầu, thúc đẩy tinh khôi vỗ cánh, mở ra khả năng liên tưởng vô biên, nơi con người tìm về sự trong trẻo nguyên sơ. Trong trẻo là một khát vọng của nhà thơ. Ông đã dùng từ này với tấn suất rất cao. Qua thơ NĐH, Trà không còn là một vật thể nữa, mà trở thành biểu tượng của văn hoá, của thời gian, của thiền, và của con người trong trạng thái tĩnh tại và sâu lắng. Ngưỡng vọng tâm linh kín đáo cũng được tác giả chạm đến trong một số bài với hình ảnh cháo Lú, canh Mạnh Bà, cầu Nại Hà v.v.

Bốn câu thơ nói trên là một ví dụ đặc sắc cho thơ thiền hiện đại – nơi triết lý sống tối giản, sâu sắc. Tác giả không giải thích, không lý luận, mà gợi, để người đọc tự chiêm nghiệm. Mặc dù gợi mở như thế nào cũng không hề là chuyện dễ dàng trong sáng tác thơ

3.  Tâm thế hụt hẫng đớn đau và chất ngất hoài nghi khi cọ xát với nghịch cảnh giũa đời thường được giải mã bằng tình yêu

Thôi đừng tìm chìa khóa nữa em

Mưa như ngàn dây câu thả xuống sông thổn thức

Đắng cay và ngọt ngào có thực

Như gạo trong nồi như lửa bếp chiều nay.

….

Những đứa con hóa thân làm khóa

Khóa cửa căn nhà gặp bão lung lay

(Những chiếc khóa trên cầu tình yêu)

“Thôi đừng tìm chìa khóa nữa em” Một tiếng thở dài. buông xuôi, như lời cuối cho một cuộc tình, chất chứa nỗi mỏi mệt của một người đã cố gắng triền miên để “mở khóa” tìm đến sự hướng thiện tốt lành: tình yêu, cuộc đời, hay chân lý. Chiếc khóa mang tính biểu tượng của niềm tin bị giam cầm, là quá khứ bị đóng kín, hay là cách con người cố níu giữ điều không thể. “Thôi đừng tìm nữa” – Ôi! con người vỡ mộng nhẹ hẫng nhưng đau đớn lắm thay. NĐH và chúng ta đã từng hy vọng, từng tin yêu, nhưng nay đã mỏi gối vi bộ mặt xã hội biến đổi, đen trắng nhập nhòa. Khiến ta Khát. Ta muốn mưa, ta muốn “Tâm biển khơi” nghìn trùng sóng vỗ. Thế mà “Mưa như ngàn dây câu thả xuống sông thổn thức”. Có thể nói đây là ẩn dụ tinh tế về những niềm luyến tiếc, níu giũ, tìm kiếm điều gì đó sâu kín – nhưng lại thả xuống một “ sông thổn thức”, thả xuống bờ vực nội tâm không yên bình. Dòng đời cuộn trôi, giằng xé. Màn mưa trở thành chiếc lưới hiện sinh bủa vây, úp chụp cả bầu trời, gợi cảm giác nhân gian bị nhấn chìm trong nỗi đau không thể gọi tên. Tuy vậy, chúng ta sẽ bất ngờ khi đọc câu cuối. Sự độc đáo, đặc sắc nhất nằn ở kết bài: Những đứa con lại là những chiếc khoá tình yêu kì diệu nhất. Sự khác biệt là ở đây.

Có nhiều điều bay theo khói

Rừng như Mẹ bao dung mà tội nghiệp

Đất như Cha khắc khổ kiệt cùng

Cha Mẹ không nói

Chỉ nỗi buồn đá tảng lăn xuống suối thật trong

Vậng, trên thế gian này có nhiều khát vọng tan thành mây khói. Câu thơ như một sự thở dài nhẹ tênh mà đầy hoài nghi và bất lực: Rừng như Mẹ bao dung mà tội nghiệp / Đất như Cha khắc khổ kiệt cùng”. Cảm thức đồng hóa thiên nhiên – rừng – đất với đấng sinh thành, gợi lên tình cảm nguyên sơ, thiêng liêng. Nhưng ở đó, những từ ngữ “tội nghiệp”, “kiệt cùng” lại thể hiện sự tổn thương tận gốc rễ, không chỉ ở cá nhân tác giả mà còn là nỗi đau văn hóa của nhân loại, khi môi sinh bị tàn phá tàn nhẫn. Tác giả không chỉ đau cho mình, mà còn đau cho đất – cho Mẹ thiên nhiên.  Nhà thơ thảng thốt buông lời phản tỉnh mang tầm vóc thời đại. “Cha Mẹ không nói / Chỉ nỗi buồn đá tảng lăn xuống suối thật trong”

Phải chăng, một trí thức từng tin tưởng, từng khao khát, nhưng hạt gạo đã giần sàng qua bao trải nghiệm sống – đã an vị ở một điểm lặng của suy tư. Họ không còn gào thét hay than vãn, mà chấp nhận sự đắng cay – ngọt ngào, sự tan biến – vô thường.

4. Khát để biển khơi và Cháy lên để mặt trời

Từng giây cháy kiệt cùng kệ mai tan nát

Ghì kiệt cùng như thuỷ triều lên

Thả bài thơ đắm vào đáy nhớ

Nghìn năm sau Dã Tràng khóc đi tìm.

(Trước biển)

Theo tôi nghĩ, NĐH đã sống trọn từng khoảnh khắc bằng tất cả nội tâm, đam mê và khát vọng, tự “cháy” lên không chừa lại điều gì cho bản thân. Anh đã “Ghì kiệt cùng như thủy triều lên” bằng thức tỉnh nội tâm mạnh mẽ. Đây là sự “khát”: khát sống, khát yêu, khát biểu đạt, khát đến mức dồn nén và dâng trào. Cho dù chỉ để “Nghìn năm sau Dã Tràng khóc đi tìm”: phải chăng là nỗi khát khao vô vọng. Nhưng ngay cả khi vô vọng, tâm thức khát và cháy vẫn không ngừng hiện diện lấp lánh đâu đó trong thơ anh. Anh “cháy” đến tận cùng để tìm đến mặt trời và “khát” để tâm thức hóa thành biển khơi.

Chúng ta tiếp tực hành trình khám phá thơ NĐH trong khổ thơ dưới đây. Dĩ nhiên không để làm rõ luận chứng của tiêu đề mà cảm thụ chân thực thơ anh.

Người cũng tự chữa lành như cây
Khúc ca trắng trên đầu, sần trên tay, đỏ tươi trong ngực
Cúi xuống nâng bầm dập sợi tóc trắng rơi vào Hướng dương cháy rực
Em đi chợ về. Nụ cười nở thành đóa hồng nhung.

Tôi thực sự tâm đắc với “Sợi tóc trắng rơi vào Hướng dương cháy rực”: đó là tàn phai và bung lụa, quá khứ và hiện tại đan kết thành một bức tranh sáng rực. Hướng dương tìm ánh sáng suốt ngày hướng về phía mặt trời, Đó là niền hy vọng, là vẻ đẹp của chân lý. Để “Nụ cười nở thành đóa hồng nhung”. Phải chăng thơ là hành trình đi qua đau thương để hồi sinh.

Nguyễn Đức Hạnh khá thành công khi gieo vào lòng người đọc một ngọn lửa tâm hồn vừa âm ỉ vừa bùng cháy, một nỗi khát không bao giờ dừng lại. Bởi, Khát là tiếng gọi từ sâu thẳm tâm hồn và Cháy là bản chất sống mãnh liệt.

Để kết thúc bài viết, tôi (NB) xin mượn lời nhà thơ, cũng là nhà phê bình văn học Mai Văn Phấn đúc kết tác phẩm này trong bài viết Nguyễn Đức Hạnh - Phân mảnh để tỏa sáng: "Khát cháy" là minh chứng rõ nét cho khả năng dung hợp giữa trực giác nghệ sĩ và chiều sâu tư duy học thuật – sự kết tinh của kinh nghiệm sống, khả năng chiêm nghiệm và tinh thần sáng tạo không thỏa hiệp”.

5. Những khổ thơ hay Nguyên Bình chọn lọc và giới thiệu

Còn lửa không? Cố nhóm lửa

Hòn đá yêu thương đập vào sỏi hi vọng

Thắp lên ngọn đuốc cuối cùng

May còn lệ em bốc cháy

Bỏng âm thầm trong im lặng mênh mông.

(Giấc mơ chiều)

 

Không có ai đợi vẫn muốn về Khau Vai

Lệ đã chảy thành sông tiếng gọi

Thơ là loài cây uống nước mắt mà xanh

Là ống sáo câm chờ người thổi...

(Tháng ba này ai có về Khâu Vai)

 

Mây Phú Yên toàn mang hình thiếu nữ

Sóng biển xanh mặn đến kiệt cùng

Nhúng mình vào trong ướp mình vào mặn

Gọi tên em rừng biển hát ngập ngừng

(Tạm biệt Phú Yên)

 

Quang Dũng trên sông. Thác thành tóc sóng thành râu loã xoã

Bài thơ Tây Tiến thành áo khoác vai. Bước từ hoàng hôn đến ban mai

Những vụn thơ rơi hoá cá Anh Vũ

Cắn bóng thi nhân ngậm ngùi

(Gặp Quang Dũng hát trên sông Mã)

 

Có những đêm rực bờ xưa sao sáng

Trẻ con nhốt vào lọ đem chơi

Những mảnh vỡ của bao mơ ước

Nhớ hay quên? Nhoi nhói những mắt người.

(Đom đóm)

 

Sông ôm người bằng sóng. Người ôm sông bằng mắt

Sóng tan rồi sao mắt không tan?

Mắt nhuộm sông. Thay màu từng khoảnh khắc

Em nhuộm tôi.  Biền biệt gió - hoa vàng...

(Thơ tình cho ai nói ít ngẫm nhiều)

 

Thơ nói to và thơ nói thầm

Quảng trường thích thét gào. Ai là người lặng lẽ?

Quá nửa đời đi giữa hai trang viết

Gặp hai nhà phê bình một tai thính một tai điếc

Cả hai cười vu vơ…

(Những loài nói thầm thường đau sâu)

 

Tháng ba mắt nâu

Em đi về đâu?

Còn một ngụm trong lành không nỡ uống

Ngậm trong ngực. Chẳng biết được bao lâu?!

(Tháng ba mắt nâu)

 

Khu vườn ru căn nhà ngủ

Bao loài cây vẫn thức đợi chờ

Những quả chín như mặt trời xấu hổ

Sưởi môi nhau ngọt đến sững sờ.

(Nói với em khi tóc bạc)

 

Thi sĩ là con cá dị biệt biết hát

Làm sao không cô đơn?

Mắt không chớp suốt trăm năm

Cát đâm vào nên hay khóc

(Ngắm bầy cá mà nghĩ)

 

Bà Rịa, ngày 22 tháng 7 năm 2025

N. B.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm