TIN TỨC

KHÁT để biển khơi và CHÁY để mặt trời!

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-07-22 18:53:05
mail facebook google pos stwis
1667 lượt xem

NGUYÊN BÌNH
 

Tự ngẫm rồi thương mình từng múa may theo tiếng kèn hư danh

Tâm biển khơi hóa ao tù, thi tài mặt trời thành đom đóm.

(Nguyễn Đức Hạnh).

Tác giả tập thơ Khát cháyNguyễn Đức Hạnh, Phó Giáo sư, Tiến sĩ ngành Ngữ văn, Nhà giáo Ưu tú. Ông là nhà nghiên cứu - phê bình văn học với nhiều công trình có giá trị.

Tôi đọc Khát cháy chậm rãi – theo lời khuyên của nhà thơ Nguyên Hùng – và dành thời gian chiêm nghiệm từng thi ảnh, từng trường liên tưởng đầy thách thức. Có thể xem Khát cháy là biểu hiện dũng khí của một cây bút trí thức sau bao năm chiêm nghiệm về triết lý và học thuật xã hội đương đại. Nền học thuật đã và đang trải qua thời kỳ sóng gió, xáo động tận gốc rễ nền tảng tư tưởng, phương pháp luận. Trong môi trường đó, ông âm thầm và kiên quyết định hình một phong cách sáng tác thơ của riêng mình.

1. Trong Khát cháy, thi tứ, thi ảnh, ngôn ngữ thơ có sự giao thoa rất lạ: vừa mộc mạc chân thực vừa siêu thực. Sự giản dị đồng hành cùng ánh sáng soi chiếu vào chiều sâu đối tượng

Sự chân thật và giản dị trong ngữ ngôn Khát cháy là những viên gạch rắn rỏi, thô ráp mà vững chắc tạo nên sự bứt phá cho nền tảng thơ mới mẻ đầy cá tính mà anh đang cách tân. NĐH mạnh dạn gạt bỏ hình thức tu từ cổ điển, xóa nhoà miền tâm thức ao tù cũ kỹ, xây dựng một phong cách sáng tác tự do, độc lập, ở đó ông thỏa sức sáng tạọ. Có thể nói, Khát cháy làm nên một NĐH, một tác giả mới, người luôn nuôi dưỡng trong trái tim nguồn cảm hứng từ hình ảnh gần gủi, dân tộc và đậm sâu, xa lánh những khoa trương đao to búa lớn. Với học hàm của mình, ông dư thừa những kiến văn kinh điển nay đã sáo mòn. Ông đã chọn hình ảnh và ngôn ngữ bình dân nhất: Nhà dột mang hết xoong nồi ra hứng / Mẹ hứng bằng đôi mắt trũng sâu / Mưa đong đầy rồi tràn ra ngoài mắt mẹ / Ướt sũng con đang ngắm ngọn đèn dầu. (Mẹ ơi con nhóm lửa rồi). Giản dị như nhà nhà đem xoong nồi hứng khi mưa dột, mỗi câu thơ nhìn đơn sơ mà đấy ắp những khám phá bất ngờ. Những khám phá này đâu lại trong từng mảng không gian hiện thực lẫn siêu thực, tạo độ nén và ám gợi mạnh mẽ người đọc trong suốt tác phẩm. Ông dễ dàng phát hiện và nắm bắt động thái bên trong của dòng ý thức. Đơn giản mà không dễ dãi để kiến tạo những câu thơ sâu lắng thoát thai từ tâm hồn nhạy cảm và đôn hậu: Mưa đong đầy rồi tràn ra ngoài mắt mẹ trong khi Ướt sũng con đang ngắm ngọn đèn dầu. NĐH thong thả lấp đầy không gian thơ đối xứng xoay quanh cơn mưa bằng quan sát tinh tế, bằng cảm xúc, bằng chính biểu hiện hy sinh thầm lặng của Mẹ và niềm ngây ngô của chú gà Con trong đôi cánh thiên thần.

2. Miền suy tưởng chứa đựng thiền triết phương Đông đã ngấm sâu vào bản nguồn tư tưởng học thuật đồng hành cùng sự ngưỡng vọng tâm linh

Mời các bạn thưởng chén Trà Tân Cương của nhà thơ Nguyễn Đức Hạnh. Xin nói thêm một chút, điều thú vị là ông lớn lên và thành danh tại xứ Trà huyền thoại này:

Trà thơm làm em thơm hay ngược lại?

Nhắm hờ mắt chạm môi vào trầm tích

Những ban mai vỗ cánh gọi mời

Tựa mặt trăng nhìn trời

Nghe trà kể trăm năm hừng hực

Những phận người lá rách

Chụm về đây thành rừng

(Trà Tân Cương)

Chúng ta hãy thử làm một phép tích phân về nghệ thuật, tính triết luận và sự ám gợi trùng điệp trong thơ NĐH, (dù thơ luôn là đối tượng chỉ để cảm): “Trà thơm làm em thơm hay ngược lại?” Một câu hỏi tưởng chừng đơn sơ, nhưng lại chứa đựng quá trình chiêm nghiệm về bản thể và tác động hổ tương giữa con người và sự vật. Trà thơm vì người thưởng thức? Hay người trở nên thơm nhờ trà? Câu hỏi gợi mở một nghịch lý vừa mang màu sắc triết học phương Đông, vừa gợi nhắc đến sự hòa quyện giữa người và vật, giữa cảm và cảnh – không tách rời, như cụ Nguyễn Du đã từng “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ. Tôi ngỡ ngàng đến bàng hoàng với “Nhắm hờ mắt chạm môi vào trầm tích”. Theo tôi đây là một câu thơ đẹp, cả tứ lẫn từ. Việc thưởng trà được NĐH miêu tả bằng một sát na thiền định, một tâm thế tiếp cận sâu lắng hài hòa với dòng chảy thời gian ("trầm tích"). Nó hàm ẩn triết lý về việc sống chậm, lắng sâu, chạm đến tầng đáy lịch sử, ký ức, văn hóa của một tách trà – một thứ tưởng như đơn giản nhưng ẩn giấu cả "trăm năm" của “Những phận người lá rách” đổ mồ hôi và nước mắt cho tách trà thơm hôm nay. Trong câu thơ “Những ban mai vỗ cánh gọi mời” nhà thơ dùng thủ pháp nhân hoá, ẩn dụ cho những khởi đầu, thúc đẩy tinh khôi vỗ cánh, mở ra khả năng liên tưởng vô biên, nơi con người tìm về sự trong trẻo nguyên sơ. Trong trẻo là một khát vọng của nhà thơ. Ông đã dùng từ này với tấn suất rất cao. Qua thơ NĐH, Trà không còn là một vật thể nữa, mà trở thành biểu tượng của văn hoá, của thời gian, của thiền, và của con người trong trạng thái tĩnh tại và sâu lắng. Ngưỡng vọng tâm linh kín đáo cũng được tác giả chạm đến trong một số bài với hình ảnh cháo Lú, canh Mạnh Bà, cầu Nại Hà v.v.

Bốn câu thơ nói trên là một ví dụ đặc sắc cho thơ thiền hiện đại – nơi triết lý sống tối giản, sâu sắc. Tác giả không giải thích, không lý luận, mà gợi, để người đọc tự chiêm nghiệm. Mặc dù gợi mở như thế nào cũng không hề là chuyện dễ dàng trong sáng tác thơ

3.  Tâm thế hụt hẫng đớn đau và chất ngất hoài nghi khi cọ xát với nghịch cảnh giũa đời thường được giải mã bằng tình yêu

Thôi đừng tìm chìa khóa nữa em

Mưa như ngàn dây câu thả xuống sông thổn thức

Đắng cay và ngọt ngào có thực

Như gạo trong nồi như lửa bếp chiều nay.

….

Những đứa con hóa thân làm khóa

Khóa cửa căn nhà gặp bão lung lay

(Những chiếc khóa trên cầu tình yêu)

“Thôi đừng tìm chìa khóa nữa em” Một tiếng thở dài. buông xuôi, như lời cuối cho một cuộc tình, chất chứa nỗi mỏi mệt của một người đã cố gắng triền miên để “mở khóa” tìm đến sự hướng thiện tốt lành: tình yêu, cuộc đời, hay chân lý. Chiếc khóa mang tính biểu tượng của niềm tin bị giam cầm, là quá khứ bị đóng kín, hay là cách con người cố níu giữ điều không thể. “Thôi đừng tìm nữa” – Ôi! con người vỡ mộng nhẹ hẫng nhưng đau đớn lắm thay. NĐH và chúng ta đã từng hy vọng, từng tin yêu, nhưng nay đã mỏi gối vi bộ mặt xã hội biến đổi, đen trắng nhập nhòa. Khiến ta Khát. Ta muốn mưa, ta muốn “Tâm biển khơi” nghìn trùng sóng vỗ. Thế mà “Mưa như ngàn dây câu thả xuống sông thổn thức”. Có thể nói đây là ẩn dụ tinh tế về những niềm luyến tiếc, níu giũ, tìm kiếm điều gì đó sâu kín – nhưng lại thả xuống một “ sông thổn thức”, thả xuống bờ vực nội tâm không yên bình. Dòng đời cuộn trôi, giằng xé. Màn mưa trở thành chiếc lưới hiện sinh bủa vây, úp chụp cả bầu trời, gợi cảm giác nhân gian bị nhấn chìm trong nỗi đau không thể gọi tên. Tuy vậy, chúng ta sẽ bất ngờ khi đọc câu cuối. Sự độc đáo, đặc sắc nhất nằn ở kết bài: Những đứa con lại là những chiếc khoá tình yêu kì diệu nhất. Sự khác biệt là ở đây.

Có nhiều điều bay theo khói

Rừng như Mẹ bao dung mà tội nghiệp

Đất như Cha khắc khổ kiệt cùng

Cha Mẹ không nói

Chỉ nỗi buồn đá tảng lăn xuống suối thật trong

Vậng, trên thế gian này có nhiều khát vọng tan thành mây khói. Câu thơ như một sự thở dài nhẹ tênh mà đầy hoài nghi và bất lực: Rừng như Mẹ bao dung mà tội nghiệp / Đất như Cha khắc khổ kiệt cùng”. Cảm thức đồng hóa thiên nhiên – rừng – đất với đấng sinh thành, gợi lên tình cảm nguyên sơ, thiêng liêng. Nhưng ở đó, những từ ngữ “tội nghiệp”, “kiệt cùng” lại thể hiện sự tổn thương tận gốc rễ, không chỉ ở cá nhân tác giả mà còn là nỗi đau văn hóa của nhân loại, khi môi sinh bị tàn phá tàn nhẫn. Tác giả không chỉ đau cho mình, mà còn đau cho đất – cho Mẹ thiên nhiên.  Nhà thơ thảng thốt buông lời phản tỉnh mang tầm vóc thời đại. “Cha Mẹ không nói / Chỉ nỗi buồn đá tảng lăn xuống suối thật trong”

Phải chăng, một trí thức từng tin tưởng, từng khao khát, nhưng hạt gạo đã giần sàng qua bao trải nghiệm sống – đã an vị ở một điểm lặng của suy tư. Họ không còn gào thét hay than vãn, mà chấp nhận sự đắng cay – ngọt ngào, sự tan biến – vô thường.

4. Khát để biển khơi và Cháy lên để mặt trời

Từng giây cháy kiệt cùng kệ mai tan nát

Ghì kiệt cùng như thuỷ triều lên

Thả bài thơ đắm vào đáy nhớ

Nghìn năm sau Dã Tràng khóc đi tìm.

(Trước biển)

Theo tôi nghĩ, NĐH đã sống trọn từng khoảnh khắc bằng tất cả nội tâm, đam mê và khát vọng, tự “cháy” lên không chừa lại điều gì cho bản thân. Anh đã “Ghì kiệt cùng như thủy triều lên” bằng thức tỉnh nội tâm mạnh mẽ. Đây là sự “khát”: khát sống, khát yêu, khát biểu đạt, khát đến mức dồn nén và dâng trào. Cho dù chỉ để “Nghìn năm sau Dã Tràng khóc đi tìm”: phải chăng là nỗi khát khao vô vọng. Nhưng ngay cả khi vô vọng, tâm thức khát và cháy vẫn không ngừng hiện diện lấp lánh đâu đó trong thơ anh. Anh “cháy” đến tận cùng để tìm đến mặt trời và “khát” để tâm thức hóa thành biển khơi.

Chúng ta tiếp tực hành trình khám phá thơ NĐH trong khổ thơ dưới đây. Dĩ nhiên không để làm rõ luận chứng của tiêu đề mà cảm thụ chân thực thơ anh.

Người cũng tự chữa lành như cây
Khúc ca trắng trên đầu, sần trên tay, đỏ tươi trong ngực
Cúi xuống nâng bầm dập sợi tóc trắng rơi vào Hướng dương cháy rực
Em đi chợ về. Nụ cười nở thành đóa hồng nhung.

Tôi thực sự tâm đắc với “Sợi tóc trắng rơi vào Hướng dương cháy rực”: đó là tàn phai và bung lụa, quá khứ và hiện tại đan kết thành một bức tranh sáng rực. Hướng dương tìm ánh sáng suốt ngày hướng về phía mặt trời, Đó là niền hy vọng, là vẻ đẹp của chân lý. Để “Nụ cười nở thành đóa hồng nhung”. Phải chăng thơ là hành trình đi qua đau thương để hồi sinh.

Nguyễn Đức Hạnh khá thành công khi gieo vào lòng người đọc một ngọn lửa tâm hồn vừa âm ỉ vừa bùng cháy, một nỗi khát không bao giờ dừng lại. Bởi, Khát là tiếng gọi từ sâu thẳm tâm hồn và Cháy là bản chất sống mãnh liệt.

Để kết thúc bài viết, tôi (NB) xin mượn lời nhà thơ, cũng là nhà phê bình văn học Mai Văn Phấn đúc kết tác phẩm này trong bài viết Nguyễn Đức Hạnh - Phân mảnh để tỏa sáng: "Khát cháy" là minh chứng rõ nét cho khả năng dung hợp giữa trực giác nghệ sĩ và chiều sâu tư duy học thuật – sự kết tinh của kinh nghiệm sống, khả năng chiêm nghiệm và tinh thần sáng tạo không thỏa hiệp”.

5. Những khổ thơ hay Nguyên Bình chọn lọc và giới thiệu

Còn lửa không? Cố nhóm lửa

Hòn đá yêu thương đập vào sỏi hi vọng

Thắp lên ngọn đuốc cuối cùng

May còn lệ em bốc cháy

Bỏng âm thầm trong im lặng mênh mông.

(Giấc mơ chiều)

 

Không có ai đợi vẫn muốn về Khau Vai

Lệ đã chảy thành sông tiếng gọi

Thơ là loài cây uống nước mắt mà xanh

Là ống sáo câm chờ người thổi...

(Tháng ba này ai có về Khâu Vai)

 

Mây Phú Yên toàn mang hình thiếu nữ

Sóng biển xanh mặn đến kiệt cùng

Nhúng mình vào trong ướp mình vào mặn

Gọi tên em rừng biển hát ngập ngừng

(Tạm biệt Phú Yên)

 

Quang Dũng trên sông. Thác thành tóc sóng thành râu loã xoã

Bài thơ Tây Tiến thành áo khoác vai. Bước từ hoàng hôn đến ban mai

Những vụn thơ rơi hoá cá Anh Vũ

Cắn bóng thi nhân ngậm ngùi

(Gặp Quang Dũng hát trên sông Mã)

 

Có những đêm rực bờ xưa sao sáng

Trẻ con nhốt vào lọ đem chơi

Những mảnh vỡ của bao mơ ước

Nhớ hay quên? Nhoi nhói những mắt người.

(Đom đóm)

 

Sông ôm người bằng sóng. Người ôm sông bằng mắt

Sóng tan rồi sao mắt không tan?

Mắt nhuộm sông. Thay màu từng khoảnh khắc

Em nhuộm tôi.  Biền biệt gió - hoa vàng...

(Thơ tình cho ai nói ít ngẫm nhiều)

 

Thơ nói to và thơ nói thầm

Quảng trường thích thét gào. Ai là người lặng lẽ?

Quá nửa đời đi giữa hai trang viết

Gặp hai nhà phê bình một tai thính một tai điếc

Cả hai cười vu vơ…

(Những loài nói thầm thường đau sâu)

 

Tháng ba mắt nâu

Em đi về đâu?

Còn một ngụm trong lành không nỡ uống

Ngậm trong ngực. Chẳng biết được bao lâu?!

(Tháng ba mắt nâu)

 

Khu vườn ru căn nhà ngủ

Bao loài cây vẫn thức đợi chờ

Những quả chín như mặt trời xấu hổ

Sưởi môi nhau ngọt đến sững sờ.

(Nói với em khi tóc bạc)

 

Thi sĩ là con cá dị biệt biết hát

Làm sao không cô đơn?

Mắt không chớp suốt trăm năm

Cát đâm vào nên hay khóc

(Ngắm bầy cá mà nghĩ)

 

Bà Rịa, ngày 22 tháng 7 năm 2025

N. B.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm