TIN TỨC

Chiến tranh, văn chương và khát vọng hòa bình

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-09-03 19:37:12
mail facebook google pos stwis
958 lượt xem

Chiến tranh qua đi, văn chương ở lại — mang theo khát vọng hòa bình sâu sắc. Nếu nhà thơ Nguyễn Duy viết thơ giữa bom đạn để giữ lại “tiếng nói nhân bản” vượt thời đại, thì nhà văn Trầm Hương kể những câu chuyện hậu chiến như lời tri ân với những tâm hồn kiên cường. Văn chương TPHCM xin mời quý  vị và các bạn cùng đọc bài viết “Chiến tranh, văn chương và khát vọng hòa bình” để cảm nhận mạnh mẽ “vùng đất” tinh thần nơi văn chương đặt nền móng cho hòa hợp dân tộc
 

HỒ LAM (Báo Tuổi Trẻ)

Có những cây bút sống và chiến đấu trong những năm tháng lửa đạn sục sôi nhất, có những tác giả ở thời bình lại say mê tìm kiếm và viết về các nhân chứng lịch sử.

Nhà thơ Nguyễn Duy và tập Thơ Nguyễn Duy dày hơn 400 trang, tổng hợp nhiều bài thơ nổi tiếng về thân phận con người thời chiến tranh và hậu chiến - Ảnh: H.LAM

Là một gương mặt thi ca tiêu biểu thời chống Mỹ cứu nước, nhà thơ Nguyễn Duy đã sáng tác nhiều tác phẩm nổi tiếng về tình đồng đội, thân phận con người trong chiến tranh và hậu chiến như Nhìn từ xa... Tổ quốc!, Ánh trăng, Đứng lại, Giọt nước mắt và nụ cười, Buổi sáng sau chiến tranh... 

Dịp 30-4, ông cũng vừa tổ chức chương trình đọc và diễn xướng thơ xuyên Việt nhân kỷ niệm 50 năm thống nhất đất nước.

Còn Phó chủ tịch Hội Nhà văn TP.HCM Trầm Hương là cây bút gắn liền với đề tài chiến tranh cách mạng và dòng tiểu thuyết tư liệu trong nền văn học Việt Nam đương đại với các tựa sách Đêm Sài Gòn không ngủ, Chuyện năm 1968, Đường 1C huyền thoại, Trong cơn lốc xoáy...

Nhân kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9, các tác giả chia sẻ với Tuổi Trẻ những suy nghĩ về văn chương, chiến tranh và hòa bình.

Khát vọng hòa hợp dân tộc

Năm 1965, chàng trai trẻ Nguyễn Duy là tiểu đội trưởng dân quân trực chiến ở khu vực cầu Hàm Rồng (Thanh Hóa) - một trọng điểm đánh phá ác liệt của không quân Mỹ.

Năm 1966, trở thành lính thông tin của Bộ tư lệnh Thông tin liên lạc, Nguyễn Duy cùng đồng đội xây dựng và bảo vệ những đường dây liên lạc xuyên Trường Sơn, đảm bảo thông tin truyền tải từ Bộ Tổng tư lệnh đến mặt trận Khe Sanh - Tà Cơn.

Nguyễn Duy kể ông còn tham gia chiến đấu tại nhiều địa bàn lớn như chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh (1968), chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (1971), trận Thành cổ Quảng Trị (1972), chiến tranh biên giới Tây Nam (1978) và phía Bắc (1979) với các vai trò lính thông tin và phóng viên mặt trận.

Trong những năm tháng chiến đấu, Nguyễn Duy đã làm thơ và viết văn. Năm 1973, ông đoạt giải nhất cuộc thi thơ tuần báo Văn nghệ với chùm thơ trong tập Cát trắng, trong đó có bài Tre Việt Nam đã vào sách giáo khoa lớp 4.

Viết thơ giữa thời chiến, Nguyễn Duy muốn hướng đến làng quê, khát vọng hòa bình và tình người: "Tôi nghĩ sinh ra trên đời không ai muốn ra chiến trường. Vì thời cuộc nên phải vậy. Điều giúp tôi đi qua chiến tranh chính là niềm tin vào hòa bình. Tôi tin đất nước sẽ có ngày thanh bình, dân mình không còn khổ đau. 

Tôi không muốn những vần thơ mình viết ra chỉ có máu xương; tôi mong ở đó còn có tiếng nói nhân bản, khát vọng sống và hòa hợp dân tộc. Tôi là nông dân sống giữa bom đạn nên chỉ mong cuộc chiến sớm khép lại để còn tiếp tục được cày ruộng, nhìn ngắm đất nước, Tre Việt Nam, Ánh trăng trong hòa bình".

Nhiều thế hệ học sinh cũng không quên bài Ánh trăng trong sách giáo khoa lớp 9 với lời nhắn nhủ về "vầng trăng tình nghĩa" mà như Nguyễn Duy tâm tình: "Đó chính là tình đồng đội, nó tồn tại bất diệt khi chiến tranh đã kết thúc. Vì trong lúc cùng khổ, họ đã thương nhau như tri kỷ, ruột thịt".

Những dư chấn thời hậu chiến

40 năm cầm bút, hiện tại nhà văn Trầm Hương vẫn luôn rung cảm và day dứt trước những trang viết về chiến tranh - cách mạng. Từng có thời gian công tác ở Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ, bà có cơ hội được tiếp xúc với nhiều hiện vật và tư liệu lịch sử. Công việc của Trầm Hương là đọc tài liệu, thuyết minh cho đoàn khách xem, nghe.

"Một ngày bảo tàng vắng lạnh, nhìn vào những khung kính chật hẹp với vài dòng tiểu sử ngắn gọn về những người anh hùng liệt sĩ, tôi bỗng có mong muốn đi đến những vùng đất gắn liền với đời họ, chạm vào những tư liệu thật bởi đằng sau những cái tên và chiến công ấy, họ cũng có gia đình, tình yêu và khát vọng riêng", bà nói.

Khi viết sách, Trầm Hương còn hiểu hơn về những dư chấn thời hậu chiến mà các chiến sĩ ấy phải trải qua: "Những người bước ra khỏi cuộc chiến đa phần đều có cuộc sống khó khăn. 

Khi viết sách Đường 1C huyền thoại: những bờ vai con gái, tôi có cơ hội trò chuyện với nhiều nữ thanh niên xung phong. Nhiều chị mang trong mình chất độc da cam, khi sinh con ra cũng bị ảnh hưởng.

Rồi có những người thì bị lạc giấy tờ nên không được hưởng trợ cấp sau chiến tranh, lại không nhà cửa nên phải đi lượm ve chai để kiếm sống". Qua những trải nghiệm, Trầm Hương biết viết về chiến tranh là cách để bà trả những món nợ ân tình với những người đã làm nên lịch sử của đất nước và đó cũng là trách nhiệm của người cầm bút.

Văn chương trở thành điểm tựa cho họ hướng tới những giá trị đáng quý của hòa bình.
 


 

Nhiều "đất" cho đề tài chiến tranh

Nhà văn Trầm Hương (bìa phải) gặp gỡ những nhân chứng lịch sử Tàu không số ở Quảng Ngãi - Ảnh: NVCC
 

Nhận xét về sức sống của đề tài chiến tranh trong dòng chảy văn học Việt Nam đương đại, nhà văn Trầm Hương khẳng định:

"Đề tài chiến tranh vẫn luôn nóng hổi và tràn đầy sức sống, bởi nó gắn với con người. Trong chiến tranh là mất mát, đổ máu; sau chiến tranh lại là những cuộc đấu tranh khác - để xây dựng gia đình, giữ hạnh phúc, vượt qua dư chấn quá khứ. Tất cả đều liên hệ chặt chẽ với nhau.

Tôi nghĩ thế hệ nhà văn trẻ, với nguồn dữ liệu phong phú và nhiều điều kiện tiếp cận hơn, sẽ nhìn cuộc chiến với con mắt khách quan hơn. Vì vậy tôi tin rằng đề tài này sẽ còn được khai thác tiếp, với những góc nhìn mới mẻ".

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nguyễn Huy Bang: Một đời làm thầy, làm thợ… làm tớ văn chương
Trong làng văn Việt Nam hôm nay, có những người viết lên từ những gì xa xôi, mộng ảo; nhưng cũng có những người chỉ biết cặm cụi viết bằng xương máu, bằng mồ hôi và cả những vui buồn của một đời lính, một đời làm báo, một đời “làm bà đỡ” cho những tác phẩm của người khác. Đại tá, nhà văn Nguyễn Huy Bang thuộc về dạng thứ hai.
Xem thêm
Đại tá Nguyễn Văn Hồng: Gìn giữ ký ức chiến tranh trên từng trang viết
Dù đã hơn 80 tuổi, 26 năm “gác súng, cầm bút”, Đại tá, nhà văn Nguyễn Văn Hồng vẫn luôn tràn đầy năng lượng, lạc quan, yêu đời, khát khao được dùng ngòi bút của mình để gìn giữ ký ức, nhắc nhớ thế hệ trẻ về giá trị của hòa bình.
Xem thêm
Lâm Bình: Người đàn bà đi nhặt cát giữa biển đời
Lâm Bình từng là người lính văn công Quân Giải phóng, sau đó là nghệ sĩ kịch nói, nữ sĩ Lâm Bình bước vào thi đàn với một tâm hồn đa cảm và đầy khát khao.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu - Màu hoa đỏ đã mây bay
Bỗng buổi sáng mùa xuân nay mùng tám tháng tư trĩu nặng dù tiết trời trong mát, cao xanh. Hai vầng hoa đại Nhà số 4 thong thả cánh hoa đậu xuống thềm gạch cổ. Một ngày rất bận rộn khi tôi được giao tiếp đoàn kiểm tra giám sát của Tổng cục Chính trị với Đảng ủy Văn nghệ Quân đội. Sáu Chi bộ với khối lượng công việc khá lớn đan xen nhau thực hiện việc giám sát vốn đòi hỏi phải rất tỉ mỉ, chặt chẽ, đúng quy trình, từng bước một.
Xem thêm
Vân Thanh – Người đầu tiên viết nghiên cứu về văn học thiếu nhi Việt
Ở tuổi 93, nhà văn Vân Thanh là người cuối cùng của thế hệ các nhà văn tiền bối của Văn học thiếu nhi Việt Nam đã từ giã chúng ta để về nơi an nghỉ cuối cùng.Nhớ sao những ngày xưa ấy, một thời vàng son, cả một lớp các nhà văn sáng tác cho trẻ em nổi tiếng như: Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng, Đoàn Giỏi, Võ Quảng, Phạm Hổ, Nguyễn Kiên, Định Hải, Phong Thu, Trần Hoài Dương, Hà Ân, Vũ Hùng, Xuân Quỳnh… Tất cả đều sung sức, đều vui tươi, yêu trẻ em và viết cho các em.
Xem thêm
Trịnh Công Sơn - Tiếng hát không cũ trước chiến tranh
Nhân 25 năm ngày Trịnh Công Sơn rời cõi tạm, nhìn lại di sản của ông không chỉ là những ca khúc đi cùng năm tháng, mà còn là một tiếng nói nhân văn chưa bao giờ cũ trước những cuộc chiến vẫn đang hiện hữu.
Xem thêm
Lại Văn Long và hành trình “Hồ sơ lửa”: Đời sống hóa thành văn chương
Qua chương trình này ta không chỉ gặp một nhà văn, mà còn gặp một người làm báo — người ghi chép đời sống bằng tất cả trải nghiệm và trách nhiệm của mình. Xin mời bạn cùng xem, như một cách hiểu thêm về lao động chữ nghĩa phía sau những trang viết tưởng như đã quen thuộc.
Xem thêm
Nhà thơ tuổi Bính Ngọ Đinh Nho Tuấn, ai gõ vào hồn phách?
Bước vào thi đàn khi đã ở tuổi ngũ tuần, Tiến sĩ Đinh Nho Tuấn không chọn cách đi thong dong mà quyết liệt bùng nổ với một năng lượng cảm xúc dồn nén suốt nửa đời người.
Xem thêm
Nhà thơ Bruce Weigl: “Không có cách nào đẹp hơn để tôn vinh văn hóa và đất nước mình bằng nghệ thuật và thi ca”
Nhà thơ Bruce Weigl (SN 1949) được biết đến là một nhà thơ đương đại có tầm ảnh hưởng lớn ở Mỹ. Ông cũng là một dịch giả, giáo sư đại học và là tác giả của hàng chục tập thơ riêng và cuốn hồi kí nổi tiếng mang tên “Vòng tròn của Hạnh”. Bruce Weigl là một trong 2 cựu chiến binh Mỹ đã được Tổng Bí thư Tô Lâm trực tiếp trao tặng Huân chương Hữu nghị năm 2024, vì sự đóng góp tích cực cho việc quảng bá, giới thiệu văn học Việt Nam ra thế giới và góp phần xây dựng nhịp cầu hữu nghị giữa Việt Nam và Mỹ.
Xem thêm
Trịnh Bích Ngân: Người nối dài những câu chuyện
Nhà văn Trịnh Bích Ngân hiện là Ủy viên Ban thường vụ Hội Nhà văn Việt Nam, Chủ tịch Hội Nhà văn TP.Hồ Chí Minh. Hành trình của chị không chỉ là hành trình của một cây bút đa tài, mà còn là hành trình của một người “giữ lửa” và “kết nối” không mệt mỏi cho văn chương.
Xem thêm
Tiểu thuyết Ngô Vương và dấu mốc Bạch Đằng
Chúng ta là công dân trong thời đại Hồ Chí Minh, trong thời đại số này chúng ta càng phải hiểu sâu sắc những bài học từ lịch sử như vậy. Chúng ta có hiểu chúng ta mới giáo dục được con cháu chứ. Chúng ta còn lờ mờ không hiểu rồi cũng không có hành động gì, làm gì cũng lười nhác, cống hiến thì ngại, so sánh rồi ganh ghét với các khu vực khác là người ta thế này thì tôi chỉ thế thôi... Chúng ta không cống hiến về thời gian về trí tuệ, vật chất thì đời nào có sự hào hùng về sau, mãi mãi sẽ tụt hậu, lại trở thành thu nhập thấp, trở thành bị lệ thuộc, lại thành không đáng có thì lấy đâu ra sự hào hùng dân tộc nữa? Cho nên tôi nghĩ rằng, bằng sức vóc của mình, bằng trí tuệ, niềm tin, bằng khả năng của mình, tôi đề nghị, đặc biệt là lớp trẻ chúng ta tự hào không thể tự hào suông được, tự tin không thể tự tin suông được, phải hành động bằng trí tuệ, khát vọng và sự cống hiến của mình thật tốt để tiếp tục xứng đáng với tổ tiên.
Xem thêm
Hành trình Chạm và gợi mở...
Cầm trên tay, ngắm, nhìn, chầm chậm lật giở từng trang LookBook Quảng Bình Đông Xuân, cuốn sách theo phong cách Travel Lookbook (sách ảnh du lịch) đầu tiên của Việt Nam; dành thời gian tiếp xúc, làm việc với nhóm thực hiện nội dung, nhất là người chịu trách nhiệm chính Mai Trịnh (Trịnh Thị Phương Mai), tôi có thêm góc nhìn về những người trẻ không ngại đầu tư lớn, khao khát sáng tạo, cống hiến và ghi dấu ấn riêng để tạo nên những giá trị nhân văn cho cộng đồng.
Xem thêm
Nam Hiệp và 300 cuộc hẹn với thi ca trên làn sóng phát thanh
Khi THI CA ĐIỂM HẸN chạm mốc số 300, đó vừa là một con số đáng nhớ của một chương trình phát thanh và là dấu mốc của một chặng đường bền bỉ, kiên định và đầy trách nhiệm với thơ ca Việt Nam đương đại.
Xem thêm
Đại tướng Lê Văn Dũng – Một “ông già Nam bộ”
Bài viết của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển.
Xem thêm