TIN TỨC

Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-05-27 23:14:08
mail facebook google pos stwis
819 lượt xem

Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?

 

 

Thơ ở đây không phải phương tiện bộc lộ cảm xúc, thơ là một thực hành ý thức. Nó vận hành như một nghi lễ, nghĩa là một chuỗi động tác lặp lại nhằm chuyển hóa trạng thái nội tâm.

Khi viết, “Ngồi trong bình lặng thơ ơi / Cõi hoang ta hãy quy hồi trong ta” (Ngồi trong bình lặng, tr. 17), Nhật Chiêu không mô tả một tâm trạng, ông thực hiện một thao tác bản thể. “Quy hồi” không phải hoài niệm, mà là hành động thu tâm, đưa cái tôi phân tán trở về trung tâm tự tại. Ở bình diện này, thơ được hiểu như một phương thức tự nhận thức. Câu “Ta nhìn từ phía sau ta” (tr. 18) đặt chủ thể vào tình thế phân thân, vừa sống vừa quan sát mình sống. Đây không phải một ẩn dụ ngẫu hứng, mà là cấu trúc nền của tập thơ. Con người chỉ thực sự ý thức khi có khả năng tách mình khỏi dòng chảy vô thức. Thơ, vì vậy, trở thành hình thức tỉnh thức. Thơ sinh ra không để giải thích đời sống, mà để làm sâu thêm chiều kích tồn tại của đời sống.

Nhan đề Nghìn nghi lễ tình (bài mở đầu phần Xuân khúc, tr. 35) không phải một cách nói cường điệu. “Nghi lễ” ở đây là nguyên tắc tổ chức thi pháp. Nghi lễ bao hàm ba yếu tố, lặp, nhịp và chuyên chú. Nhưng ở cấp độ sâu hơn, nghi lễ không chỉ tổ chức hành vi ngôn ngữ mà còn tổ chức trạng thái hiện hữu của chủ thể. Sự lặp không tái tạo cái đã có, mà tạo ra một hiện tại mới của ý thức. Mỗi lần lặp vì thế không phải trở lại, mà là một biến đổi vi tế của chủ thể trong chính hành vi phát ngôn. Ta thấy rõ điều này qua cấu trúc điệp, “Lụa xé bung mình…” (Ôm cõi tuyệt trần, tr. 26), “Mắt người…” (Đủ cho ta tạ lòng người, tr. 22), “Yêu người…” (Xuân khúc, Hạ khúc,Thu khúc,Đông Khúc tr.35-tr.40). Sự lặp không nhằm nhấn mạnh cảm xúc, nó tạo thành nhịp tụng. Câu thơ vận hành như một bài kệ, nơi ngôn từ không chỉ truyền tải nghĩa mà còn thiết lập một trường năng lượng tinh thần. Đặc biệt, “Hiến sinh em nhé xuân thì / sắc thân ta tặng/ nghìn nghi lễ tình” (Nghìn nghi lễ tình – Xuân khúc, tr. 35), tình yêu được đặt trong ngữ cảnh của hiến sinh. Tình yêu ở đây không còn là sự chiếm hữu, mà là sự dâng hiến. “Sắc thân”, một khái niệm mang chiều sâu Phật học, được nhìn như một hiện hữu tạm thời có thể trao tặng. Nghi lễ, vì thế, không chỉ là hình thức, nó là cách chuyển hóa dục tính thành ý thức.

Ở chiều kích này, cần phân biệt “nghi lễ” với “nghi thức”. Nghi thức là hình thức đã được quy định sẵn, có thể lặp lại một cách máy móc mà không đòi hỏi chuyển hóa nội tâm. Nghi lễ, ngược lại, là hành vi mang tính nội chứng, mỗi lần lặp là một lần ý thức được tái sinh. Trong Nghìn nghi lễ tình, sự lặp không tạo ra khuôn mẫu mà tạo ra chuyển động. Chính vì thế, tập thơ không vận hành như một hệ thống biểu tượng đóng kín, mà như một thực hành luôn đang xảy ra. Nhật Chiêu không dựng nên một nghi thức thẩm mỹ, ông kiến tạo một nghi lễ của bản thể. Cũng cần phân biệt “tỉnh thức” với “giải thoát”. Giải thoát là một đích đến siêu hình, còn tỉnh thức là trạng thái đang diễn ra trong từng khoảnh khắc sống. Thơ Nhật Chiêu không hứa hẹn cứu rỗi, nó chỉ giữ cho ý thức không chìm vào quên lãng. Ở bình diện này, vô thường không bị phủ định mà được nhìn thẳng và “chơi” cùng.

Một trục quan trọng của tập thơ là cấu trúc phản chiếu. Không chỉ “Ta nhìn từ phía sau ta” (Ngồi trong bình lặng, tr. 18) mà còn “Ta mơ mình tạo ra mình” (Trò chơi linh thánh, tr. 68). Chủ thể vừa là người kiến tạo vừa là sản phẩm của chính mình. Cấu trúc này mở ra một suy tưởng gần với truyền thống hiện sinh, nơi con người không được cho sẵn một bản chất cố định mà phải liên tục tự kiến tạo mình trong hành vi ý thức. Tuy nhiên, khác với hiện sinh bi kịch phương Tây, chủ thể thơ Nhật Chiêu không bị ném vào phi lý, mà ở trong một trạng thái chơi - tỉnh thức - chấp nhận vô thường. Nếu ý thức hiện sinh phương Tây thường mang theo nỗi lo âu về tính phi lý của tồn tại, thì ở đây ý thức được giải phóng khỏi bi kịch bằng thái độ “chơi”: ý thức không còn là gánh nặng tự vấn, mà trở thành năng lực tự do hoá chính kinh nghiệm tàn phai. Ông viết, “Tự mình chơi cuộc tàn phai” (Tự mình chơi cuộc tàn phai, tr. 24). Chữ “chơi” là then chốt. Vô thường không phải là bi kịch, nó là một cuộc chơi linh thánh, một thái độ rất gần thiền học.

Trong tập thơ, tình yêu không bị giới hạn ở quan hệ giữa hai cá nhân. Nó là cơ hội để bản thể mở rộng. Khi viết, “Mắt người là sóng trùng khơi / cho ta làm một chân trời được không” (Đủ cho ta tạ lòng người, tr. 22), cái tôi không còn cố thủ trong ranh giới của mình, nó muốn trở thành “chân trời”, tức là mở rộng đến vô biên. Chiều kích khai ngộ càng rõ trong “Sắc – không là một vĩnh hằng / trò chơi linh thánh cầm bằng trẻ thơ” (Trò chơi linh thánh, tr. 68). Trong chiều kích này, cặp phạm trù “sắc – không” được đặt ngay trong thơ tình, khiến tình yêu trở thành một kinh nghiệm nhận ra tính không của mọi hình tướng. Nhưng “không” ở đây không phủ định “sắc”, nó giải phóng “sắc”khỏi ảo tưởng bền vững, để mỗi hình tướng được sống trọn trong khoảnh khắc hiện tiền của nó. Ngay cả sự tàn phai cũng được chấp nhận, “Mưa không mặt nạ thì rơi với tình” (Mưa không mặt nạ, tr. 47). Mưa không phân biệt cao thấp, tình cũng không phân biệt được – mất. Tình yêu trở thành một phương thức nhận ra tính bình đẳng của hiện hữu.

Dẫu vậy, cần đặt ra một khả năng phản biện: liệu Nghìn nghi lễ tình có phải chỉ đơn thuần là một sự thiền hóa thơ tình? Nghĩa là, tình yêu được phủ lên một lớp ngôn ngữ Phật học, còn cấu trúc cảm xúc vẫn giữ nguyên tính trữ tình cá nhân? Nếu chỉ dừng ở việc đưa vào những phạm trù như “sắc không”, “hiến sinh”, hay “vô thường”, tập thơ có thể bị hiểu như một dạng thiền ngữ thi ca, nơi triết lý được đặt lên trên cảm xúc như một lớp diễn ngôn minh triết. Nhưng điều làm Nhật Chiêu khác với một “thiền ngữ thi ca” thuần túy nằm ở cấu trúc vận hành của thơ ông. Tư tưởng ở đây không được trình bày như một mệnh đề giáo huấn, nó xuất hiện qua nhịp điệu lặp, qua thao tác tự phản chiếu, qua những động từ hành động như “quy hồi”, “chơi”, “tặng”, “ôm”. Thiền không phải nội dung của thơ, thiền là phương thức tồn tại của chủ thể trong thơ. Nếu thiền ngữ thường hướng đến sự kết luận tĩnh tại, thì thơ Nhật Chiêu giữ lại độ mở của nghi lễ, nó không khẳng định chân lý mà đặt người đọc vào một chuyển động ý thức. Chính vì vậy, Nghìn nghi lễ tình không phải sự thiền hóa cảm xúc, mà là sự chuyển hóa cảm xúc thành một thực hành bản thể.

Nếu cần chỉ ra một sáng tạo nổi bật về mặt thi pháp, đó là cách Nhật Chiêu kiến tạo một hệ hình biểu tượng vận hành xuyên suốt thay vì những hình ảnh rời rạc. Chiếc bóng mang đi (tr. 59) là điểm kết tinh của cấu trúc ấy: “Ta mang theo ta làm gì chiếc bóng…”. Ở đây, “bóng” không còn là hiện tượng quang học mà trở thành một phạm trù hiện sinh. Bóng là độ lệch của bản ngã, là dấu hiệu rằng con người không bao giờ trùng khít với chính mình. Khi “bóng” đặt trong tương quan với “bóng trăng”, “bóng tối”, “bóng bên trong u ẩn”, một chuỗi chuyển vị được thiết lập: từ ngoại giới sang nội giới, từ hình ảnh sang ý thức. Cấu trúc người, bóng, ánh trăng, nội tâm vì thế không chỉ là tổ hợp thi ảnh, mà là một hệ quy chiếu về bản ngã và ảo ảnh. Chủ thể trong thơ không đối diện thế giới như một thực tại khách quan, họ đối diện chính sự phân thân của mình trong thế giới ấy.

Nếu biểu tượng tạo chiều sâu nội tại, thì liên văn bản mở ra chiều rộng văn hóa. Tuy nhiên, Nhật Chiêu không dựng liên văn bản bằng phô diễn tri thức. Ông không trưng dẫn, ông đối thoại. Tiếng vọng của Truyện Kiều trong câu “Lời Tiên Dung, tiếng khóc Kiều” (Tiếng lòng ơi tiếng nước ơi tr.104) không đơn thuần là điển tích, mà là cách đặt tình yêu cá nhân vào trường cảm thương của văn hóa Việt, nơi yêu luôn gắn với thân phận và lưu lạc. Khi Kiều trở lại, nàng không còn là nhân vật tự sự, nàng trở thành ký ức tập thể về bi kịch.

Ngược lại, tinh thần của Trần Nhân Tông trong Đi đứng ngồi nằm tr.101 gợi một tư thế an nhiên, nơi thiền không phát ngôn như giáo lý mà như nhịp sống thường nhật. Nếu Kiều đại diện cho truyền thống cảm thương và Trần Nhân Tông đại diện cho truyền thống tỉnh thức, thì hai dòng ấy không đối lập mà tạo thành một trục căng của văn hóa Việt: một bên là ý thức về thân phận, một bên là khả năng siêu vượt nội tâm. Nghìn nghi lễ tình đứng trên trục căng ấy. Nó không phủ nhận cảm thương, nhưng chuyển hóa cảm thương thành hành vi ý thức.

Liên văn bản trong bình diệnh này, vì vậy, không nhằm tạo nền uyên bác, nó chứng thực một nền văn hóa đã được nội tâm hóa đến mức tự nhiên. Tri thức không đứng ngoài thi pháp, mà hòa vào cấu trúc vận hành của ý thức. Đây không phải liên văn bản của trích dẫn, mà là liên văn bản của ký ức hiện sinh: truyền thống không đứng ngoài chủ thể, mà vận hành như một chiều sâu vô thức của chính kinh nghiệm yêu và tỉnh thức.

Một đặc điểm quan trọng khác là độ mở của cấu trúc thi ca. Những câu hỏi như “Cho ta làm một chân trời được không” hay “Em về chưa em về chưa” trong bài Bên nắng bên râm tr.92 không chờ lời đáp. Những câu hỏi này không nhằm tìm câu trả lời. Chúng thiết lập một cấu trúc tham dự. Câu hỏi trong Nghìn nghi lễ tình vận hành như một nghi thức mở, nơi ý nghĩa chỉ xuất hiện khi có ý thức khác bước vào. Thơ vì thế không phải là một văn bản hoàn tất, mà là một nghi lễ đang chờ được tiếp diễn. Ở cấp độ thi pháp, đó là một cấu trúc tự phản tư: nghi lễ chỉ hoàn tất khi có người tham dự. Thơ trong Nghìn nghi lễ tình cũng vậy, nó chỉ hoàn tất khi ý thức người đọc bước vào chuyển động của nó.

Vì vậy, Nghìn nghi lễ tình không phải là thơ tình theo nghĩa trữ tình cá nhân. Nó là một thực hành thi ca, nơi yêu và tàn phai được chuyển hóa thành hành vi tự nhận thức. Nếu cần tóm lược trong một mệnh đề mỹ học: Nhật Chiêu không dùng thơ để nói về tình yêu, ông dùng tình yêu như một cấu trúc nghi lễ để bảo toàn ý thức giữa phù thế. Con người trong thế giới ấy vừa sống vừa chứng kiến mình sống, vừa yêu vừa ý thức mình yêu. Khi thơ trở thành nghi lễ, nó không còn là một thể loại văn chương, mà là một phương thức tồn tại. Thơ, vì thế, không đứng ngoài đời sống, nó là cách đời sống được thực hành trong ý thức.

Phạm Diệu Hương

Nguồn: Tạp Chí Thời Đại

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm