TIN TỨC

Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-05-27 15:10:30
mail facebook google pos stwis
58 lượt xem

"Người nghệ sĩ không chết, họ chỉ chuyển địa chỉ từ thế giới hữu hình sang sinh sống trong lòng những câu thơ."

Khuyết danh

Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng? Câu trả lời có lẽ nằm ở tình tri kỷ và thế giới vô biên của thi ca – nơi những tâm hồn nghệ sĩ tìm thấy nhau và gửi gắm phần tinh túy nhất của đời mình.

Đúng như lời định mệnh đã gọi tên, bài thơ "Viết cho Anh Quốc Thành" của Xuân Trường chính là minh chứng sống động cho sự chuyển dịch thiêng liêng ấy. Tác phẩm không đơn thuần là một bài điếu ca tiễn biệt người bạn lãng du, mà là nén tâm hương thắp bằng ký ức, một sự thăng hoa đầy kiêu hãnh của những linh hồn đồng điệu. Ở đó, cái chết không phải là sự kết thúc bi lụy, mà là điểm khởi đầu cho một chuyến viễn du mới vào cõi bất tử của văn chương.

***

Nhà thơ Xuân Trường.
 

VIẾT CHO ANH QUỐC THÀNH

(Xuân Trường)

Biết nhau từ dạo anh đi "Vá vầng trăng"
rồi mười bảy năm xa anh, xa An Khê, chưa lần gặp lại
bây giờ anh đã đi xa...
về đâu anh, thăm thẳm cõi vô cùng
mà bước chân lãng du thi ca anh sẽ không bao giờ dừng lại
trong mất mát hôm nay ta sẽ còn mãi trong nhau...

này đây bao luyến thương bạn bè còn ở lại
Câu thơ rưng rưng lưu lạc phía vô cùng
còn đâu anh
những chiều nhà hàng thủy tạ
ta uống cạn hoàng hôn, cho trăng nhu nhú đêm lên
những nụ cười nở vào nhau cho tâm hồn kết nối

anh sinh ra trên nền đá ong Bình Định
tôi sinh ra nơi miền nắng lửa mưa dầu Quảng Nam
và thơ ta không ngoài nắng mưa gian khó
vậy mà thấm đậm tâm giao

Tôi nhớ đêm giao lưu ở Cam Ranh
Nhạc sĩ Giao Tiên nâng cánh thơ Quốc Thành
bay phiêu lưu qua miền hoa cát
cho bao lòng ấn tượng đến hôm nay

Khi chưa có ngày thơ Việt Nam
đêm mười hai ta hay ngồi nhà thủy tạ An Khê
rằm tháng giêng ta lại xuống núi Nhạn Tuy Hòa
vẫn chưa đi hết đắm say theo bước chân lang bạt
ôi nhớ quá những ngày trai tráng ấy anh ơi!

những lúc nhớ anh lòng tôi trỗi dậy
âm vang đâu đây những giọng điệu Quốc Thành
Đó là những tin yêu mà lòng tôi đã gặp
Lại là nghìn trùng xa cách giữa hôm nay

Câu thơ viết trên mùi thơm con cá đá...
Món ăn ngon nhất ở An Khê mà chẳng đâu bằng
Anh đã mời tôi năm ấy
Xin ngàn lần ngon mãi trong tôi

Đời vô thường ta hữu hạn anh ơi
Trên tất cả cũng chỉ là đưa tiễn
Xin chúc anh an nhiên miền miên viễn
Để hồn cùng vô hạn với thi ca

***

Mở đầu bài thơ, người đọc lập tức bị cuốn vào không gian sinh tử và tri kỷ đầy lay động. Xuân Trường gọi tên bạn bằng một hoài niệm vừa ngạo nghễ vừa xót xa: "Biết nhau từ dạo anh đi 'Vá vầng trăng'". "Vá vầng trăng" – một hình ảnh thơ mộng, lãng tử và đậm chất kỳ vĩ của người nghệ sĩ Quốc Thành ngày nào. Tựa đề tác phẩm "Vá vầng trăng" của Quốc Thành năm ấy, qua nét bút tiễn biệt của Xuân Trường, nay đã trở thành một chứng tích kiêu hãnh cho một đời nghệ sĩ tài hoa, ngạo nghễ. Nhưng cái ngạo nghễ ấy bỗng chốc rơi thỏm vào khoảng trống của hiện tại: mười bảy năm xa cách chưa kịp gặp lại, thì nay bạn đã đi xa.

Đối diện với niềm đau mất mát, nhà thơ không bi lụy mà chọn cách nhìn xuyên qua màn sương tử biệt. Thể xác gửi lại trần gian, nhưng "bước chân lãng du thi ca anh sẽ không bao giờ dừng lại". Cụm từ "thăm thẳm cõi vô cùng" hay "phía vô cùng" được lặp lại như một sự định vị mới cho linh hồn người ra đi. Bạn không mất đi, bạn chỉ đang mang theo "câu thơ rưng rưng lưu lạc" để tiếp tục cuộc hành trình xuyên qua các tinh cầu.

Ngược dòng thời gian, bài thơ mở ra một miền ký ức vàng son của tình tâm giao miền Trung đầy nắng gió. Xuân Trường khéo léo khắc họa chân dung hai người con đất Quảng: một sinh ra trên nền đá ong Bình Định, một lớn lên nơi nắng lửa mưa dầu Quảng Nam. Chính cái gian khó, nhọc nhằn của quê hương đã tôi luyện nên những hồn thơ đậm đà sương gió, để rồi họ gặp nhau, thấm đẫm tâm giao.

Người đọc làm sao quên được những buổi chiều tại nhà hàng thủy tạ An Khê, nơi hai tâm hồn thi sĩ đã "uống cạn hoàng hôn, cho trăng nhu nhú đêm lên". Câu thơ bừng sáng một khí chất hào sảng, một tư thế chiếm lĩnh thiên nhiên và thời gian vô cùng lãng mạn của tuổi trẻ. Ký ức ấy còn thơm nồng "mùi thơm con cá đá" – món ăn giản dị, đậm đà của vùng đất An Khê. Đưa một món ăn dân dã vào lời tiễn biệt, Xuân Trường đã biến cái hữu hình thành cái vô hình, biến hương vị trần thế thành biểu tượng vĩnh cửu của lòng hiếu khách và tình bạn thủy chung. Hương vị ấy không chỉ là đặc sản của đại ngàn An Khê mà đã hóa thành mùi hương của ký ức, một thánh đường lưu giữ nghĩa tình sắc son giữa ngút ngàn dâu bể.

Những đêm thơ thăng hoa có sự nâng cánh của nhạc sĩ Giao Tiên tại Cam Ranh, hay những bước chân lang bạt xuống núi Nhạn Tuy Hòa… tất cả hiện về như một cuốn phim quay chậm, sống động và tràn đầy sinh lực của một "ngày trai tráng ấy anh ơi!".

Để rồi, từ đỉnh cao của ký ức rực rỡ, bài thơ khép lại bằng những chiêm nghiệm triết lý về sự vô thường và sự bất tử của cái đẹp: "Đời vô thường ta hữu hạn anh ơi / Trên tất cả cũng chỉ là đưa tiễn". Lời thơ buông xuống nhẹ nhàng như một tiếng thở dài thấu suốt nhân sinh. Con người ai rồi cũng phải đi qua chiếc cầu sinh tử, ai rồi cũng phải sắm vai người đưa tiễn hoặc người ra đi. Nhưng vượt lên trên định mệnh ngặt nghèo đó, nhà thơ đã gửi gắm một lời chúc thanh thản: "Xin chúc anh an nhiên miền miên viễn / Để hồn cùng vô hạn với thi ca".

Cái chết đã hoàn toàn bị khuất phục trước cái đẹp. Thể xác có thể hòa vào cát bụi, nhưng hồn thơ Quốc Thành, giọng điệu Quốc Thành và tình tri kỷ giữa hai ông đã kịp hóa thân vào vũ trụ bao la, trở thành một phần của cõi vĩnh hằng.

"Viết cho Anh Quốc Thành" là một bài thơ chạm đến góc sâu thẳm nhất của lòng người bằng ngôn từ trau chuốt, nhạc điệu trầm hùng và cảm xúc chân thành. Xuân Trường đã thay mặt những người bạn còn ở lại, vẽ nên một bức tranh tiễn biệt đầy màu sắc lãng mạn. Bài thơ để lại một dư âm ấm áp: dẫu cuộc đời có dâu bể, dẫu nghìn trùng có xa cách, thì tình tri kỷ và cái đẹp của văn chương vẫn luôn là ngọn hải đăng soi sáng, sưởi ấm cho những linh hồn lãng du trên mọi dặm đường miên viễn.

Sài Gòn, ngày 27/5/2026
Thuy Anh

Bài viết liên quan

Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm