TIN TỨC

Hà Vi Tùng, vị tướng mưu lược…

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-12-19 22:37:44
mail facebook google pos stwis
703 lượt xem

Kỷ niệm 81 năm thành lập QĐND Việt Nam, 36 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân

Ký của NGUYỄN MINH NGỌC

Mùa thu năm 1983, tốt nghiệp khóa đào tạo dài hạn, tôi được giữ lại Trường Sĩ quan Không quân, công tác. Bấy giờ, tỉnh Phú Khánh trở thành “cái nôi” đào luyện sĩ quan cấp phân đội; riêng Nha Trang có các trường: Không quân, Hải quân và Thông tin. Ngoài mạn Dục Mỹ, Ninh Hòa, còn có thêm Trường Sĩ quan Lục quân 3. Lính tráng cứ truyền nhau rằng, ngôi trường này do tướng Hà Vi Tùng làm Hiệu trưởng, “khét tiếng” giỏi và sâu sát cấp dưới. Nghe thì cũng chỉ biết vậy, chứ tôi chưa có may mắn được gặp vị tướng lần nào. Mấy chục năm sau, khi chuyển công tác về Sài Gòn, nghề làm sách, cho tôi cơ hội được gặp gỡ, tiếp cận với nhiều người, nhất là các vị tướng lĩnh và thân nhân của họ.

Thiếu tướng Hà Vy Tùng (1925-1994).

Thiếu tướng Hà Vi Tùng, tên khai sinh là Hà Đình Tùng. Dòng họ Hà Đình nhiều đời gắn bó với làng Thầy (Đa Phúc), xã Sài Sơn, phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây (nay thuộc Thành phố Hà Nội). Cụ thân Hà Đình Mai là một thợ cả, rời làng lên miền ngược lập nghiệp. Cậu bé Tùng chào đời ngày 8-12-1925 ở Tuyên Quang, nơi về sau được mệnh danh là “Thủ đô kháng chiến”. Được gia đình cho ăn học, anh xuống Hà Nội làm thư ký cho một hãng buôn và tiếp tục theo đuổi sự học. Sau ngày Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945), anh trở về thành Tuyên làm viên chức ở Ty địa chính tỉnh. Sinh hoạt Đoàn Thanh niên Cứu quốc thị xã Tuyên Quang, chàng trai trẻ được giác ngộ, khởi đầu cho con đường tham gia cách mạng.

Nhờ công việc địa chính, đoàn thể yêu cầu, anh Tùng lấy được một số bản đồ quan trọng và có ý nghĩa. Tiếp đó, anh được giao nhiệm vụ tập hợp một tiểu đội thanh niên tự vệ chiến đấu, đi tuyên truyền, vẽ áp phích, treo cờ Việt Minh và gầy dựng cơ sở cách mạng. Từ sau Quốc dân Đại hội Tân Trào, tiểu đội tự vệ này được sáp nhập vào một đại đội Giải phóng quân ở chiến khu về.

Tổng khởi nghĩa thắng lợi, cách mạng Tháng Tám 1945 thành công. Ít lâu sau, anh Tùng được chọn về Hà Nội theo học khóa huấn luyện của Trường Quân chính Việt Nam (nay là Trường Sĩ quan Lục quân I). Đây là ngôi trường danh giá, nơi đào tạo ra nhiều tướng lĩnh tài ba, xuất sắc của quân đội ta.

Tại đây, học viên được thọ giáo bởi những người thầy là các nhà cách mạng nổi tiếng của đất nước… Giữa bao công việc bề bộn, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn dành thời gian đến thăm Trường Quân chính Việt Nam, cùng đi có đồng chí Võ Nguyên Giáp. Học viên Hà Vi Tùng được chọn đứng trong hàng quân danh dự đón Bác Hồ. Lần đầu tiên trong đời, được diện kiến vị Cha già của dân tộc, xúc động được Người nắm tay và hỏi chuyện… Niềm vui lớn bất ngờ. Những kỷ niệm ấy cùng lời dạy của vị lãnh tụ đã in sâu vào tâm khảm người lính đi suốt cuộc trường chinh của dân tộc. Lần thứ hai, Thượng tá Hà Vi Tùng được “gặp” Bác trong một trường hợp đặc biệt. Nén đau thương vào sâu trong tâm khảm, ông được cử luân phiên túc trực bên linh cữu của Người…

Tấm bia ghi sự kiện trận đánh, được công nhận Di tích lịch sử văn hoá.

Ngày ấy, chính quyền cách mạng cùng lúc phải đương đầu với giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm. Thù trong, giặc ngoài vây bủa, khiến cho khóa đào tạo của Trường Quân chính chỉ diễn ra không đầy một tháng. Gây hấn ở Sài Gòn, thực dân Pháp tái xâm lược nước ta một lần nữa. Nam bộ đi trước đứng lên kháng chiến. Hưởng ứng lời kêu gọi cả nước dốc sức chi viện cho miền Nam của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, các đại đội, chi đội Giải phóng quân gấp rút được thành lập, lên đường vào Nam. Người lính Hà Vi Tùng cùng nhiều đồng đội đăng ký tình nguyện đợt đầu tiên. Các đơn vị bộ đội Nam tiến giữ vai trò nòng cốt trong chiến đấu, xây dựng và phát triển bộ đội chủ lực tập trung ở Đông Nam bộ và Nam Trung bộ.

Cơ duyên sông núi đã khiến cho ông Tùng cùng ba đồng đội được bổ về Khánh Hòa. Sau khi đến gặp Chủ nhiệm Việt minh tỉnh, bộ tứ được giao nhiệm vụ mở lớp đào tạo cấp tốc cán bộ chính trị, quân sự cho địa phương, nguồn vốn đầu tiên của lực lượng vũ trang tỉnh. Nửa đầu tháng 12-1945, thiết giáp hạm Richelieu của hải quân Pháp đổ quân lên Nha Trang, chiếm giữ nhiều vị trí trọng yếu. Trước đó, được quân Anh đội lốt “Đồng minh” ra lệnh, lính Nhật tiến hành bao vây trụ sở Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Khánh Hòa, bắt cán bộ, tước khí giới của tự vệ ta. Tình thế hết sức hiểm nghèo!

Trước tình thế dầu sôi, lửa bỏng, sau hội nghị Xứ ủy Trung bộ, Ban chỉ huy Mặt trận Nha Trang - Khánh Hòa được thành lập. Trung đội do Hà Vi Tùng phụ trách đóng tại đình Xuân Phong, cách thị xã Nha Trang chừng 5km. Đơn vị có nhiệm vụ huấn luyện, giáo dục tinh thần đoàn kết chiến đấu chống quân xâm lược, và trên hết là hỗ trợ người dân quanh vùng.

Liền đó, Tham mưu trưởng mặt trận Hà Văn Lâu giao nhiệm vụ cho Hà Vi Tùng làm Chính trị viên Trung đội trấn ải phòng tuyến Chợ Mới, gồm phía bắc thị xã, khu vực đồi La San, cầu Xóm Bóng, Tháp Bà lên đến Cầu Sắt hầm xe lửa số 1. Nhờ kiến thức lĩnh hội được ở Trường Quân chính, ông Tùng cùng tập thể chỉ huy, vận dụng sáng tạo, xây dựng trận địa phòng ngự từ  Bretelle[1] đến thôn Lư Cấm, chốt chặn giữ mạch máu giao thông liên lạc, tiếp vận từ Trung ương về Khánh Hòa. Tuy vũ khí trang bị hết sức thô sơ, nhưng ý chí quả cảm của những người lính quyết tâm bảo vệ quê hương, bảo vệ đất nước thì cao ngút trời xanh.

Tháng 1-1946, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp được Chính phủ phái vào Khánh Hòa thị sát tình hình. Về sau, Đại tướng nhớ lại: “Giặc Pháp đang tấn công phía Nha Trang. Máy bay địch lượn ở Khánh Hòa, thả bom và bắn liên thanh xuống thành phố… Các đồng chí chỉ huy mặt trận về báo cáo tình hình, bàn kế hoạch tác chiến, rồi lại vội vã ra đi[2]...”.  

Cuộc chiến bao vây giam chân quân Pháp 101 ngày đêm (23-10-1945 – 1-2-1946) kết thúc vang dội. Trong thư “Gửi các chiến sĩ miền Nam”, Bác Hồ viết:  “Chính phủ Dân chủ Cộng hòa rất khen ngợi các chiến sĩ ở các mặt trận miền Nam, đặc biệt là các chiến sĩ ở Nha Trang và ở Trà Vinh, đã làm gương anh dũng cho toàn quốc. Tổ quốc biết ơn các bạn, toàn thể đồng bào noi gương các bạn”[3].

Các đơn vị, Đại đội 80, Tiểu đoàn 360, do ông Tùng dẫn dắt in dấu chân trên các nẻo đường Khánh Hòa, gắn với các địa danh như: Đại Điền, Cầu Ngói, Dốc Mỏ, Hòn Hèo... Giữa tháng 5-1949, trên đất Phú Yên, Tiểu đoàn 365 được thành lập, ông Hà Vi Tùng làm Tiểu đoàn trưởng. Với biệt danh Tiểu đoàn Lá Mít, đơn vị gieo bao nỗi khiếp sợ cho giặc Pháp và ngụy binh. Trong đội hình của Trung đoàn 803, Tiểu đoàn Lá Mít được Bộ Tư lệnh Liên khu 5 điều ra phối thuộc với chiến trường chính, lập nhiều chiến công, góp phần đánh bại cuộc hành quân Atlante của địch, “chia lửa” với chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, mà đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Khi rút về Đức Phổ, Quảng Ngãi, Trung đoàn phó Hà Vi Tùng tìm gặp lại người con gái xinh đẹp mà ông đã quen biết từ hai năm trước. Ấy là cô giáo Nguyễn Thị Đại (tức Nguyễn Thị Năm). Đôi trai tài, gái sắc đến với nhau, được gia đình và đơn vị vun vén, tác thành. Một đám cưới đời sống mới giản dị, với sự chúc phúc của đông đảo cán bộ, chiến sĩ cùng bà con lối xóm, ông Võ Bẩm - Chính ủy Trung đoàn 803 làm chủ hôn. Vui duyên mới, người lính tiếp tục trở lại đơn vị chiến đấu.

Tập kết ra Bắc, ông Tùng lần lượt đảm nhiệm Tham mưu trưởng Sư đoàn, rồi Lữ đoàn trưởng, Tư lệnh phó Sư đoàn 341. Cấp trên thấy rõ và đánh giá cao tố chất tham mưu chỉ huy vượt trội của người con Phủ Quốc - Thành Tuyên. Điều đó không có gì lạ vào những năm đầu thập niên 70, khi đương chức Tư lệnh phó kiêm Tham mưu trưởng Mặt trận B5, ông được điều động về làm Chủ nhiệm Khoa bộ binh, Học viện Quân sự (nay là Học viện Lục quân).

Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ ở Lữ đoàn 341 ở Vĩnh Linh, chiếm lĩnh và xây dựng Cồn Cỏ thành đảo tiền tiêu, Lữ đoàn trưởng Hà Vi Tùng đóng góp lớn vào việc xây dựng pháo đài phòng thủ vùng giới tuyến.

Từ sau chiến dịch Bình Giã ở Đông Nam bộ kết thúc với thắng lợi vang dội, sự nỗi lực của quân dân toàn miền Nam, đẩy chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ đến trước bờ vực bị phá sản và thất bại hoàn toàn. Nhằm kịp thời đối phó với âm mưu, thủ đoạn mới của kẻ thù, cấp trên quyết định cử nhiều cán bộ chỉ huy tài năng, có tư duy sáng tạo, bổ sung cho chiến trường.

Mùa hè 1964, Mặt trận Tây Nguyên được thành lập, với phiên hiệu B3. Thay vì đi học ở Liên Xô, ông Tùng nhận lệnh trở lại chiến trường. Bộ phận Tiền phương của B3 do các ông Hà Vi Tùng và Dương Liên phụ trách. Đây là những cán bộ chỉ huy đầu tiên của mặt trận.

Đầu năm 1965, đã có 23.000 quân viễn chinh Mỹ đến Nam Việt Nam. Chuyển sang chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc Việt Nam bằng không quân và hải quân, đồng thời liều lĩnh đổ quân vào miền Nam, trực tiếp tham chiến, hòng ngăn chặn đà thua của quân đội Sài Gòn, đẩy Việt cộng đến chỗ lụi tàn, sớm kết thúc cuộc chiến.

Bộ khung Sư đoàn bộ binh 1 sớm có mặt ở Tây Nguyên. Khí thế của trận đầu thắng Mỹ ở Núi Thành có sức cổ vũ mãnh liệt. Còn chưa kịp công bố quyết định thành lập thì cấp trên mở chiến dịch Plây-me (19-10 đến 26-11-1965). Đụng độ với Sư đoàn kỵ binh không vận số 1 hiện đại của Mỹ là việc chưa có tiền lệ. Với sự nghiên cứu kỹ lưỡng, chuẩn bị thấu đáo, các trung đoàn bộ binh (320, 33 và 66) thực hiện chủ trương “đánh điểm diệt viện”, giáng đòn chí tử. Quân Mỹ bị dồn về thung lũng Ia Đrăng, ta đánh trận then chốt. Cả chiến dịch, ta loại khỏi vòng chiến đấu 2.954 tên địch (có 1.700 quân Mỹ), phá hủy 89 xe quân sự, bắn rơi 59 máy bay… Chiến dịch đánh Mỹ đầu tiên ở Tây Nguyên thắng lợi vang dội, được Bộ Tổng tư lệnh tặng thưởng 2 Huân chương Quân công hạng Nhất. Một sự tưởng thưởng hiếm có trong lịch sử quân sự.

Với thắng lợi này, cuối tháng 12-1965, Mặt trận B3 mới tổ chức công bố quyết định thành lập Sư đoàn bộ binh 1 trên cơ sở 3 trung đoàn vừa tham gia Chiến dịch Plây-me. Tư lệnh Hoàng Kiện, Chính ủy Huỳnh Đắc Hương và Tư lệnh phó kiêm Tham mưu trưởng Thượng tá Hà Vi Tùng, sát cánh bên nhau. Với sự mưu lược, trí dũng và sức sáng tạo tiềm tàng, đơn vị càng đánh càng mạnh, “nghênh tiếp” quân Mỹ nhiều trận ra trò, khẳng định vị thế của một sư đoàn chủ lực đầu tiên của quân đội ta trên chiến trường Tây Nguyên rộng lớn.

Từ sau chiến dịch Sa Thầy, ông Tùng được điều sang làm Phó Tư lệnh Sư đoàn 3 (Sư đoàn Sao vàng). Tiếp đó, ông ra Bắc giữ chức Tư lệnh Sư đoàn 320B vừa thành lập, chuyên huấn luyện quân chi viện cho các chiến trường. Kiến thức quân sự cùng những trải nghiệm phong phú qua lăn lộn chiến đấu trên các chiến trường, đã giúp người chỉ huy dẫn dắt sư đoàn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Hễ nơi nào cấp trên cần người, thì ông Hà Vy Tùng có mặt đảm trách. Từ nếm trải ở Mặt trận Trị Thiên (B5), đến giảng đường của Học viện Quân sự, ông chuyển sang Cánh đồng Chum - Hạ Lào…

Sau ngày non sông liền một dải (4-1975), ông Hà Vi Tùng tiếp tục được tín nhiệm giữ các chức vụ: Tư lệnh Sư đoàn 341B; Trưởng khoa Nghệ thuật Quân sự - Viện Khoa học Quân sự; Cục trưởng Cục Quản lý Khoa học Quân sự thuộc Học viện Quân sự cao cấp (nay là Học viện Quốc phòng); Tham mưu trưởng Quân khu 1, bảo vệ biên giới phía Bắc; rồi Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân 3. Cơ duyên lần nữa đưa ông trở lại xứ Trầm Hương, nơi người con Phủ Quốc - Thành Tuyên từng sống và bám trụ chiến đấu ở Mặt trận Nha Trang - Khánh Hòa, kìm chân giặc Pháp xâm lược, thưở chính quyền cách mạng còn trong trứng nước. Trong hệ thống các nhà trường Quân đội thì Trường Sĩ quan Lục quân 3 “sinh sau, đẻ muộn” đứng chân ở vùng Lam Sơn - Dục Mỹ nổi tiếng chướng khí, khó khăn, thiếu thốn mọi bề…

Hơn 44 năm trong quân ngũ, lăn lộn chiến đấu và chỉ huy trên nhiều chiến trường cực kỳ gian khổ, khốc liệt, nhận lãnh nhiều trọng trách của quân đội giao phó, Thiếu tướng Hà Vi Tùng đi trọn hai cuộc trường chinh của dân tộc, giúp nhân dân Lào anh em, tham gia bảo vệ biên giới phía Bắc… Điều đặc biệt là dù chưa hề được đào tạo bài bản, vừa cầm súng vừa học ở chiến trường, ông Tùng trở thành một chỉ huy tham mưu tài năng và uyên bác, ba lần về giảng đường quân sự, góp công đào luyện cán bộ cho quân đội. Ở cương vị nào, vị tướng cũng tận tụy cống hiến, được cấp trên tin cậy, cấp dưới yêu mến và kính trọng. Ông để lại những dấu ấn khó quên.

Đầu tháng 12-1989, Hội Cựu chiến binh (CCB) Việt Nam được thành lập, Đại tướng Võ Nguyên Giáp là Chủ tịch danh dự, Thượng tướng Trần Văn Quang làm Chủ tịch. Thiếu tướng Hà Vi Tùng là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Hội CCB Việt Nam, Chủ tịch Hội CCB tỉnh Khánh Hòa. Trên cương vị mới, ông tích cực xây dựng và phát triển tổ chức Hội ở địa phương, khơi dậy phong trào hội viên gương mẫu, nhân rộng các điển hình. Vị tướng dạn dày trận mạc đi tiên phong với kế hoạch xóa đói giảm nghèo ở hai huyện miền núi Khánh Sơn, Khánh Vĩnh… Đặc biệt, ông tham mưu giúp lãnh đạo tỉnh Khánh Hòa mời Đại tướng Võ Nguyên Giáp và phu nhân vào thăm địa phương và dự lễ kỷ niệm 48 năm Mặt trận Nha Trang - Khánh Hòa, đáp ứng nguyện vọng mong mỏi của đông đảo cán bộ và người dân, đặc biệt là các cựu chiến binh từng xông pha chiến trận. Trước đó, khi đương chức Hiệu trường Trường Sĩ quan Lục quân 3, tướng Hà Vi Tùng đã chủ động giúp đỡ Bảo tàng Nha Trang cải tạo cơ sở vật chất, tư vấn giúp làm sa bàn Mặt trận Nha Trang - Khánh Hòa, được các chuyên gia của Bảo tàng Quân đội (nay là Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam) tấm tắc khen ngợi. Ông sưu tầm, cung cấp tư liệu và hiệu đính giúp Bảo tàng Nha Trang hoàn thành cuốn sách “Mặt trận Nha Trang Khánh Hòa 101 ngày đêm bao vây giam chân quân Pháp (23-10-1945 – 1.2-1946)”. Có thể nói cuộc đời của vị tướng chỉ huy tham mưu đã dành trọn tình gắn bó với đất và người xứ Trầm Hương.

Những năm tháng lăn lộn chiến đấu, hứng chịu nhiều bom đạn và chất độc hóa học kẻ thù, sức khỏe của Thiếu tướng Hà Vi Tùng bị giảm sút trầm trọng. Ông giã biệt cuộc đời ngày 19-12-1994, khi vừa chớm vào tuổi 70. Vài năm trước, ông đã viết sẵn những lời dặn dò các con cháu: “Phải giữ truyền thống gia đình ta. Vợ chồng, anh em phải thương yêu nhau, nhường nhịn nhau. Sống giản dị, thẳng thắn, trong sạch, không đua đòi…”.

Nhận xét về người bạn chiến đấu của mình, Thiếu tướng Huỳnh Đắc Hương (1921-2025) viết: “Có thể nói, qua cuộc đời quân ngũ của mình, đồng chí Hà Vi Tùng đã để lại những dấu ấn đặc biệt là người mưu trí, dũng cảm, thẳng thắn, kiên quyết, được đồng đội tin yêu, kẻ địch nể sợ. Đồng chí là tấm gương sáng về tinh thần tự học, tự rèn được tôi luyện qua môi trường chiến đấu.

Đồng đội đưa tiễn Thiếu tướng Hà Vi Tùng, bằng liễn đối: “Chiến trận xông pha, thù khiếp, dân yêu, công đức lớn. Hòa bình xây dựng, Đảng tin, bạn mến, nghĩa tình sâu”. Vị tướng với tài thao lược ra đi chẳng để lại tài sản gì ngoài tấm lòng son. Phần mộ của ông cùng người bạn đời thân yêu hiện yên nghỉ ở xã Vĩnh Phương (nay thuộc phường Bắc Nha Trang), nơi nhìn ra dòng sông Cái hiền hòa, ngày đêm sông nước rì rầm kể mãi chuyện lịch sử hào hùng.

Nhà lưu niệm vị tướng ở Vĩnh Phương.

Cách đó không xa, tại thôn Tây, “Nhà lưu niệm Thiếu tướng Hà Vi Tùng” được dựng lên. Hy vọng, trong tương lai gần, nơi đây sẽ là một điểm đến của lớp trẻ và du khách khi tìm về nguồn cội, về những tháng năm hào hùng và oanh liệt của cha ông.

Tên của vị tướng đã được đặt cho một con đường ở Đông Hòa, tỉnh Phú Yên (cũ). Nhưng trong tâm tưởng của người dân Khánh Hòa và nhiều tỉnh Nam Trung bộ, Thiếu tướng Hà Vi Tùng xứng đáng được tôn vinh.

Ảnh: GĐCC


[1]. Bretelle (tiếng Pháp), chỉ nơi giao nhau của 2 tuyến đường sắt.

[2]. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập Hồi ký, Nxb Quân đội nhân dân, H.2006, tr.209.

[3]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 141.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Ai mà chẳng biết… Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Nếu hơn 1300 năm trước, một hôm trên bước đường tiêu dao hay giữa một cơn say rượu túy lúy càn khôn nào đó, Lý Bạch đã thốt lên lời cảm khái: Xử thế ngược đại mộng/ Hồ vi lao kỳ sinh (*) thì cũng từ lâu lắm, người bình dân Việt đã từng trải nghiệm, rằng: Sự đời như giấc chiêm bao… Hoặc nếu từ 2400 năm trước ở Hy Lạp cổ đại, lời dặn của triết gia Socrates (về sau được khắc vào đá ở đền thờ Delphi), rằng Connais-toi, toi-même (Know thyself - Hãy tự hiểu chính mình), thì tại phương Đông, mấy mươi năm sau sinh thời của Socrates, nhà quân sự Tôn Võ Tử cũng đã ghi vào binh pháp điều mà bất cứ người cầm quân nào cũng không được quên, là: Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất đãi/ Bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ/ Bất tri bỉ bất tri kỷ, mỗi chiến tất đãi (tức là: Biết mình biết người, trăm trận đánh không thua. Không biết người mà biết mình, một thắng một thua, Không biết người không biết mình, mỗi lần đánh ắt thua).
Xem thêm
Dư âm mùa hạ – Tản văn Đinh Thu Huế
Có lẽ, những mùa hạ oi nồng nhất lại là những năm tháng xa mẹ. Nắng hanh vàng nơi phố thị đôi khi khiến lòng tôi chùng xuống bởi khoảng trống cô đơn. Bỗng dưng nhớ da diết cảm giác thức dậy ở quê nhà, lắng nghe tiếng bước chân mẹ tảo tần lúc tờ mờ sáng, tiếng đàn gà lục cục dưới gốc khế già, hay tiếng gàu nước va vào thành giếng đánh thức cả một vùng thanh âm trong trẻo. Bao rung cảm bình dị ấy cứ vang vọng, để khi đi xa mới nghẹn lòng nhận ra: đó chính là khoảng trời chân phương nhất mà mình thuộc về. Chẳng có bóng râm nào xanh mát và chở che hơn đôi cánh tay của mẹ.
Xem thêm
Cõng hàng về căn cứ - Bút ký của Ngọc Tấn
Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...
Xem thêm
Theo những dấu chân hoài niệm
Gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan (1940–2010) phối hợp với Bảo Tàng Mỹ thuật Đà Nẵng và Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh tổ chức hai cuộc triển lãm: tại Đà Nẵng (09/05/2026 – 16/05/2026) và Tp. Hồ Chí Minh (25/05/2026 – 31/05/2026 trong tháng 5 năm 2026). Triển lãm mang ý nghĩa hồi cố, tưởng niệm và tri ân, do KTS Phan Trường Sơn, con trai và gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan thực hiện, đồng thời giới thiệu đến những người yêu mến mỹ thuật và bạn bè, người thân của họa sĩ tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan, những năm tháng và sắc màu hoài niệm” (Nxb Hội nhà văn), cũng là tên của cuộc triển lãm.
Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm
Những con đường ký ức - Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Những con đường của Hội An là những sợi máu trong tôi. Chúng đã đi qua thời gian, chịu đựng bao thác ghềnh, nhiều lúc ngỡ tan biến như những bào ảnh của lãng quên để rồi cuối cùng vẫn lặng lẽ cất lên tiếng nói mơ hồ của ký ức, nhắc rằng đó là một phần không thể thiếu trong tôi.
Xem thêm
Làm du lịch từ lò gạch Sa Đéc xưa
Vào dịp tết Nguyên đán hàng năm, cứ từ 20 tháng chạp đổ lên, người miền Nam lại lũ lượt tìm về vãn cảnh nhà vườn hoa kiểng Tân Quy Đông (Sa Đéc- Đồng Tháp). Cạnh bên Tân Quy Đông là vùng đất Tân Quy Tây bạt ngàn vườn ruộng được bồi đắp phù sa quanh năm bởi con sông Tiền hiền hoà quê kiểng. Lớp phù sa dày dặn bám trên đồng ruộng lâu năm trở thành lớp đất nâu non (đất sét) dẻo quẹo, là loại nguyên liệu rất tốt để người địa phương nung gạch xây dựng các công trình.
Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm