TIN TỨC

Hà Vi Tùng, vị tướng mưu lược…

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-12-19 22:37:44
mail facebook google pos stwis
524 lượt xem

Kỷ niệm 81 năm thành lập QĐND Việt Nam, 36 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân

Ký của NGUYỄN MINH NGỌC

Mùa thu năm 1983, tốt nghiệp khóa đào tạo dài hạn, tôi được giữ lại Trường Sĩ quan Không quân, công tác. Bấy giờ, tỉnh Phú Khánh trở thành “cái nôi” đào luyện sĩ quan cấp phân đội; riêng Nha Trang có các trường: Không quân, Hải quân và Thông tin. Ngoài mạn Dục Mỹ, Ninh Hòa, còn có thêm Trường Sĩ quan Lục quân 3. Lính tráng cứ truyền nhau rằng, ngôi trường này do tướng Hà Vi Tùng làm Hiệu trưởng, “khét tiếng” giỏi và sâu sát cấp dưới. Nghe thì cũng chỉ biết vậy, chứ tôi chưa có may mắn được gặp vị tướng lần nào. Mấy chục năm sau, khi chuyển công tác về Sài Gòn, nghề làm sách, cho tôi cơ hội được gặp gỡ, tiếp cận với nhiều người, nhất là các vị tướng lĩnh và thân nhân của họ.

Thiếu tướng Hà Vy Tùng (1925-1994).

Thiếu tướng Hà Vi Tùng, tên khai sinh là Hà Đình Tùng. Dòng họ Hà Đình nhiều đời gắn bó với làng Thầy (Đa Phúc), xã Sài Sơn, phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây (nay thuộc Thành phố Hà Nội). Cụ thân Hà Đình Mai là một thợ cả, rời làng lên miền ngược lập nghiệp. Cậu bé Tùng chào đời ngày 8-12-1925 ở Tuyên Quang, nơi về sau được mệnh danh là “Thủ đô kháng chiến”. Được gia đình cho ăn học, anh xuống Hà Nội làm thư ký cho một hãng buôn và tiếp tục theo đuổi sự học. Sau ngày Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945), anh trở về thành Tuyên làm viên chức ở Ty địa chính tỉnh. Sinh hoạt Đoàn Thanh niên Cứu quốc thị xã Tuyên Quang, chàng trai trẻ được giác ngộ, khởi đầu cho con đường tham gia cách mạng.

Nhờ công việc địa chính, đoàn thể yêu cầu, anh Tùng lấy được một số bản đồ quan trọng và có ý nghĩa. Tiếp đó, anh được giao nhiệm vụ tập hợp một tiểu đội thanh niên tự vệ chiến đấu, đi tuyên truyền, vẽ áp phích, treo cờ Việt Minh và gầy dựng cơ sở cách mạng. Từ sau Quốc dân Đại hội Tân Trào, tiểu đội tự vệ này được sáp nhập vào một đại đội Giải phóng quân ở chiến khu về.

Tổng khởi nghĩa thắng lợi, cách mạng Tháng Tám 1945 thành công. Ít lâu sau, anh Tùng được chọn về Hà Nội theo học khóa huấn luyện của Trường Quân chính Việt Nam (nay là Trường Sĩ quan Lục quân I). Đây là ngôi trường danh giá, nơi đào tạo ra nhiều tướng lĩnh tài ba, xuất sắc của quân đội ta.

Tại đây, học viên được thọ giáo bởi những người thầy là các nhà cách mạng nổi tiếng của đất nước… Giữa bao công việc bề bộn, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn dành thời gian đến thăm Trường Quân chính Việt Nam, cùng đi có đồng chí Võ Nguyên Giáp. Học viên Hà Vi Tùng được chọn đứng trong hàng quân danh dự đón Bác Hồ. Lần đầu tiên trong đời, được diện kiến vị Cha già của dân tộc, xúc động được Người nắm tay và hỏi chuyện… Niềm vui lớn bất ngờ. Những kỷ niệm ấy cùng lời dạy của vị lãnh tụ đã in sâu vào tâm khảm người lính đi suốt cuộc trường chinh của dân tộc. Lần thứ hai, Thượng tá Hà Vi Tùng được “gặp” Bác trong một trường hợp đặc biệt. Nén đau thương vào sâu trong tâm khảm, ông được cử luân phiên túc trực bên linh cữu của Người…

Tấm bia ghi sự kiện trận đánh, được công nhận Di tích lịch sử văn hoá.

Ngày ấy, chính quyền cách mạng cùng lúc phải đương đầu với giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm. Thù trong, giặc ngoài vây bủa, khiến cho khóa đào tạo của Trường Quân chính chỉ diễn ra không đầy một tháng. Gây hấn ở Sài Gòn, thực dân Pháp tái xâm lược nước ta một lần nữa. Nam bộ đi trước đứng lên kháng chiến. Hưởng ứng lời kêu gọi cả nước dốc sức chi viện cho miền Nam của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, các đại đội, chi đội Giải phóng quân gấp rút được thành lập, lên đường vào Nam. Người lính Hà Vi Tùng cùng nhiều đồng đội đăng ký tình nguyện đợt đầu tiên. Các đơn vị bộ đội Nam tiến giữ vai trò nòng cốt trong chiến đấu, xây dựng và phát triển bộ đội chủ lực tập trung ở Đông Nam bộ và Nam Trung bộ.

Cơ duyên sông núi đã khiến cho ông Tùng cùng ba đồng đội được bổ về Khánh Hòa. Sau khi đến gặp Chủ nhiệm Việt minh tỉnh, bộ tứ được giao nhiệm vụ mở lớp đào tạo cấp tốc cán bộ chính trị, quân sự cho địa phương, nguồn vốn đầu tiên của lực lượng vũ trang tỉnh. Nửa đầu tháng 12-1945, thiết giáp hạm Richelieu của hải quân Pháp đổ quân lên Nha Trang, chiếm giữ nhiều vị trí trọng yếu. Trước đó, được quân Anh đội lốt “Đồng minh” ra lệnh, lính Nhật tiến hành bao vây trụ sở Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Khánh Hòa, bắt cán bộ, tước khí giới của tự vệ ta. Tình thế hết sức hiểm nghèo!

Trước tình thế dầu sôi, lửa bỏng, sau hội nghị Xứ ủy Trung bộ, Ban chỉ huy Mặt trận Nha Trang - Khánh Hòa được thành lập. Trung đội do Hà Vi Tùng phụ trách đóng tại đình Xuân Phong, cách thị xã Nha Trang chừng 5km. Đơn vị có nhiệm vụ huấn luyện, giáo dục tinh thần đoàn kết chiến đấu chống quân xâm lược, và trên hết là hỗ trợ người dân quanh vùng.

Liền đó, Tham mưu trưởng mặt trận Hà Văn Lâu giao nhiệm vụ cho Hà Vi Tùng làm Chính trị viên Trung đội trấn ải phòng tuyến Chợ Mới, gồm phía bắc thị xã, khu vực đồi La San, cầu Xóm Bóng, Tháp Bà lên đến Cầu Sắt hầm xe lửa số 1. Nhờ kiến thức lĩnh hội được ở Trường Quân chính, ông Tùng cùng tập thể chỉ huy, vận dụng sáng tạo, xây dựng trận địa phòng ngự từ  Bretelle[1] đến thôn Lư Cấm, chốt chặn giữ mạch máu giao thông liên lạc, tiếp vận từ Trung ương về Khánh Hòa. Tuy vũ khí trang bị hết sức thô sơ, nhưng ý chí quả cảm của những người lính quyết tâm bảo vệ quê hương, bảo vệ đất nước thì cao ngút trời xanh.

Tháng 1-1946, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp được Chính phủ phái vào Khánh Hòa thị sát tình hình. Về sau, Đại tướng nhớ lại: “Giặc Pháp đang tấn công phía Nha Trang. Máy bay địch lượn ở Khánh Hòa, thả bom và bắn liên thanh xuống thành phố… Các đồng chí chỉ huy mặt trận về báo cáo tình hình, bàn kế hoạch tác chiến, rồi lại vội vã ra đi[2]...”.  

Cuộc chiến bao vây giam chân quân Pháp 101 ngày đêm (23-10-1945 – 1-2-1946) kết thúc vang dội. Trong thư “Gửi các chiến sĩ miền Nam”, Bác Hồ viết:  “Chính phủ Dân chủ Cộng hòa rất khen ngợi các chiến sĩ ở các mặt trận miền Nam, đặc biệt là các chiến sĩ ở Nha Trang và ở Trà Vinh, đã làm gương anh dũng cho toàn quốc. Tổ quốc biết ơn các bạn, toàn thể đồng bào noi gương các bạn”[3].

Các đơn vị, Đại đội 80, Tiểu đoàn 360, do ông Tùng dẫn dắt in dấu chân trên các nẻo đường Khánh Hòa, gắn với các địa danh như: Đại Điền, Cầu Ngói, Dốc Mỏ, Hòn Hèo... Giữa tháng 5-1949, trên đất Phú Yên, Tiểu đoàn 365 được thành lập, ông Hà Vi Tùng làm Tiểu đoàn trưởng. Với biệt danh Tiểu đoàn Lá Mít, đơn vị gieo bao nỗi khiếp sợ cho giặc Pháp và ngụy binh. Trong đội hình của Trung đoàn 803, Tiểu đoàn Lá Mít được Bộ Tư lệnh Liên khu 5 điều ra phối thuộc với chiến trường chính, lập nhiều chiến công, góp phần đánh bại cuộc hành quân Atlante của địch, “chia lửa” với chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, mà đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Khi rút về Đức Phổ, Quảng Ngãi, Trung đoàn phó Hà Vi Tùng tìm gặp lại người con gái xinh đẹp mà ông đã quen biết từ hai năm trước. Ấy là cô giáo Nguyễn Thị Đại (tức Nguyễn Thị Năm). Đôi trai tài, gái sắc đến với nhau, được gia đình và đơn vị vun vén, tác thành. Một đám cưới đời sống mới giản dị, với sự chúc phúc của đông đảo cán bộ, chiến sĩ cùng bà con lối xóm, ông Võ Bẩm - Chính ủy Trung đoàn 803 làm chủ hôn. Vui duyên mới, người lính tiếp tục trở lại đơn vị chiến đấu.

Tập kết ra Bắc, ông Tùng lần lượt đảm nhiệm Tham mưu trưởng Sư đoàn, rồi Lữ đoàn trưởng, Tư lệnh phó Sư đoàn 341. Cấp trên thấy rõ và đánh giá cao tố chất tham mưu chỉ huy vượt trội của người con Phủ Quốc - Thành Tuyên. Điều đó không có gì lạ vào những năm đầu thập niên 70, khi đương chức Tư lệnh phó kiêm Tham mưu trưởng Mặt trận B5, ông được điều động về làm Chủ nhiệm Khoa bộ binh, Học viện Quân sự (nay là Học viện Lục quân).

Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ ở Lữ đoàn 341 ở Vĩnh Linh, chiếm lĩnh và xây dựng Cồn Cỏ thành đảo tiền tiêu, Lữ đoàn trưởng Hà Vi Tùng đóng góp lớn vào việc xây dựng pháo đài phòng thủ vùng giới tuyến.

Từ sau chiến dịch Bình Giã ở Đông Nam bộ kết thúc với thắng lợi vang dội, sự nỗi lực của quân dân toàn miền Nam, đẩy chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ đến trước bờ vực bị phá sản và thất bại hoàn toàn. Nhằm kịp thời đối phó với âm mưu, thủ đoạn mới của kẻ thù, cấp trên quyết định cử nhiều cán bộ chỉ huy tài năng, có tư duy sáng tạo, bổ sung cho chiến trường.

Mùa hè 1964, Mặt trận Tây Nguyên được thành lập, với phiên hiệu B3. Thay vì đi học ở Liên Xô, ông Tùng nhận lệnh trở lại chiến trường. Bộ phận Tiền phương của B3 do các ông Hà Vi Tùng và Dương Liên phụ trách. Đây là những cán bộ chỉ huy đầu tiên của mặt trận.

Đầu năm 1965, đã có 23.000 quân viễn chinh Mỹ đến Nam Việt Nam. Chuyển sang chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc Việt Nam bằng không quân và hải quân, đồng thời liều lĩnh đổ quân vào miền Nam, trực tiếp tham chiến, hòng ngăn chặn đà thua của quân đội Sài Gòn, đẩy Việt cộng đến chỗ lụi tàn, sớm kết thúc cuộc chiến.

Bộ khung Sư đoàn bộ binh 1 sớm có mặt ở Tây Nguyên. Khí thế của trận đầu thắng Mỹ ở Núi Thành có sức cổ vũ mãnh liệt. Còn chưa kịp công bố quyết định thành lập thì cấp trên mở chiến dịch Plây-me (19-10 đến 26-11-1965). Đụng độ với Sư đoàn kỵ binh không vận số 1 hiện đại của Mỹ là việc chưa có tiền lệ. Với sự nghiên cứu kỹ lưỡng, chuẩn bị thấu đáo, các trung đoàn bộ binh (320, 33 và 66) thực hiện chủ trương “đánh điểm diệt viện”, giáng đòn chí tử. Quân Mỹ bị dồn về thung lũng Ia Đrăng, ta đánh trận then chốt. Cả chiến dịch, ta loại khỏi vòng chiến đấu 2.954 tên địch (có 1.700 quân Mỹ), phá hủy 89 xe quân sự, bắn rơi 59 máy bay… Chiến dịch đánh Mỹ đầu tiên ở Tây Nguyên thắng lợi vang dội, được Bộ Tổng tư lệnh tặng thưởng 2 Huân chương Quân công hạng Nhất. Một sự tưởng thưởng hiếm có trong lịch sử quân sự.

Với thắng lợi này, cuối tháng 12-1965, Mặt trận B3 mới tổ chức công bố quyết định thành lập Sư đoàn bộ binh 1 trên cơ sở 3 trung đoàn vừa tham gia Chiến dịch Plây-me. Tư lệnh Hoàng Kiện, Chính ủy Huỳnh Đắc Hương và Tư lệnh phó kiêm Tham mưu trưởng Thượng tá Hà Vi Tùng, sát cánh bên nhau. Với sự mưu lược, trí dũng và sức sáng tạo tiềm tàng, đơn vị càng đánh càng mạnh, “nghênh tiếp” quân Mỹ nhiều trận ra trò, khẳng định vị thế của một sư đoàn chủ lực đầu tiên của quân đội ta trên chiến trường Tây Nguyên rộng lớn.

Từ sau chiến dịch Sa Thầy, ông Tùng được điều sang làm Phó Tư lệnh Sư đoàn 3 (Sư đoàn Sao vàng). Tiếp đó, ông ra Bắc giữ chức Tư lệnh Sư đoàn 320B vừa thành lập, chuyên huấn luyện quân chi viện cho các chiến trường. Kiến thức quân sự cùng những trải nghiệm phong phú qua lăn lộn chiến đấu trên các chiến trường, đã giúp người chỉ huy dẫn dắt sư đoàn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Hễ nơi nào cấp trên cần người, thì ông Hà Vy Tùng có mặt đảm trách. Từ nếm trải ở Mặt trận Trị Thiên (B5), đến giảng đường của Học viện Quân sự, ông chuyển sang Cánh đồng Chum - Hạ Lào…

Sau ngày non sông liền một dải (4-1975), ông Hà Vi Tùng tiếp tục được tín nhiệm giữ các chức vụ: Tư lệnh Sư đoàn 341B; Trưởng khoa Nghệ thuật Quân sự - Viện Khoa học Quân sự; Cục trưởng Cục Quản lý Khoa học Quân sự thuộc Học viện Quân sự cao cấp (nay là Học viện Quốc phòng); Tham mưu trưởng Quân khu 1, bảo vệ biên giới phía Bắc; rồi Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân 3. Cơ duyên lần nữa đưa ông trở lại xứ Trầm Hương, nơi người con Phủ Quốc - Thành Tuyên từng sống và bám trụ chiến đấu ở Mặt trận Nha Trang - Khánh Hòa, kìm chân giặc Pháp xâm lược, thưở chính quyền cách mạng còn trong trứng nước. Trong hệ thống các nhà trường Quân đội thì Trường Sĩ quan Lục quân 3 “sinh sau, đẻ muộn” đứng chân ở vùng Lam Sơn - Dục Mỹ nổi tiếng chướng khí, khó khăn, thiếu thốn mọi bề…

Hơn 44 năm trong quân ngũ, lăn lộn chiến đấu và chỉ huy trên nhiều chiến trường cực kỳ gian khổ, khốc liệt, nhận lãnh nhiều trọng trách của quân đội giao phó, Thiếu tướng Hà Vi Tùng đi trọn hai cuộc trường chinh của dân tộc, giúp nhân dân Lào anh em, tham gia bảo vệ biên giới phía Bắc… Điều đặc biệt là dù chưa hề được đào tạo bài bản, vừa cầm súng vừa học ở chiến trường, ông Tùng trở thành một chỉ huy tham mưu tài năng và uyên bác, ba lần về giảng đường quân sự, góp công đào luyện cán bộ cho quân đội. Ở cương vị nào, vị tướng cũng tận tụy cống hiến, được cấp trên tin cậy, cấp dưới yêu mến và kính trọng. Ông để lại những dấu ấn khó quên.

Đầu tháng 12-1989, Hội Cựu chiến binh (CCB) Việt Nam được thành lập, Đại tướng Võ Nguyên Giáp là Chủ tịch danh dự, Thượng tướng Trần Văn Quang làm Chủ tịch. Thiếu tướng Hà Vi Tùng là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Hội CCB Việt Nam, Chủ tịch Hội CCB tỉnh Khánh Hòa. Trên cương vị mới, ông tích cực xây dựng và phát triển tổ chức Hội ở địa phương, khơi dậy phong trào hội viên gương mẫu, nhân rộng các điển hình. Vị tướng dạn dày trận mạc đi tiên phong với kế hoạch xóa đói giảm nghèo ở hai huyện miền núi Khánh Sơn, Khánh Vĩnh… Đặc biệt, ông tham mưu giúp lãnh đạo tỉnh Khánh Hòa mời Đại tướng Võ Nguyên Giáp và phu nhân vào thăm địa phương và dự lễ kỷ niệm 48 năm Mặt trận Nha Trang - Khánh Hòa, đáp ứng nguyện vọng mong mỏi của đông đảo cán bộ và người dân, đặc biệt là các cựu chiến binh từng xông pha chiến trận. Trước đó, khi đương chức Hiệu trường Trường Sĩ quan Lục quân 3, tướng Hà Vi Tùng đã chủ động giúp đỡ Bảo tàng Nha Trang cải tạo cơ sở vật chất, tư vấn giúp làm sa bàn Mặt trận Nha Trang - Khánh Hòa, được các chuyên gia của Bảo tàng Quân đội (nay là Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam) tấm tắc khen ngợi. Ông sưu tầm, cung cấp tư liệu và hiệu đính giúp Bảo tàng Nha Trang hoàn thành cuốn sách “Mặt trận Nha Trang Khánh Hòa 101 ngày đêm bao vây giam chân quân Pháp (23-10-1945 – 1.2-1946)”. Có thể nói cuộc đời của vị tướng chỉ huy tham mưu đã dành trọn tình gắn bó với đất và người xứ Trầm Hương.

Những năm tháng lăn lộn chiến đấu, hứng chịu nhiều bom đạn và chất độc hóa học kẻ thù, sức khỏe của Thiếu tướng Hà Vi Tùng bị giảm sút trầm trọng. Ông giã biệt cuộc đời ngày 19-12-1994, khi vừa chớm vào tuổi 70. Vài năm trước, ông đã viết sẵn những lời dặn dò các con cháu: “Phải giữ truyền thống gia đình ta. Vợ chồng, anh em phải thương yêu nhau, nhường nhịn nhau. Sống giản dị, thẳng thắn, trong sạch, không đua đòi…”.

Nhận xét về người bạn chiến đấu của mình, Thiếu tướng Huỳnh Đắc Hương (1921-2025) viết: “Có thể nói, qua cuộc đời quân ngũ của mình, đồng chí Hà Vi Tùng đã để lại những dấu ấn đặc biệt là người mưu trí, dũng cảm, thẳng thắn, kiên quyết, được đồng đội tin yêu, kẻ địch nể sợ. Đồng chí là tấm gương sáng về tinh thần tự học, tự rèn được tôi luyện qua môi trường chiến đấu.

Đồng đội đưa tiễn Thiếu tướng Hà Vi Tùng, bằng liễn đối: “Chiến trận xông pha, thù khiếp, dân yêu, công đức lớn. Hòa bình xây dựng, Đảng tin, bạn mến, nghĩa tình sâu”. Vị tướng với tài thao lược ra đi chẳng để lại tài sản gì ngoài tấm lòng son. Phần mộ của ông cùng người bạn đời thân yêu hiện yên nghỉ ở xã Vĩnh Phương (nay thuộc phường Bắc Nha Trang), nơi nhìn ra dòng sông Cái hiền hòa, ngày đêm sông nước rì rầm kể mãi chuyện lịch sử hào hùng.

Nhà lưu niệm vị tướng ở Vĩnh Phương.

Cách đó không xa, tại thôn Tây, “Nhà lưu niệm Thiếu tướng Hà Vi Tùng” được dựng lên. Hy vọng, trong tương lai gần, nơi đây sẽ là một điểm đến của lớp trẻ và du khách khi tìm về nguồn cội, về những tháng năm hào hùng và oanh liệt của cha ông.

Tên của vị tướng đã được đặt cho một con đường ở Đông Hòa, tỉnh Phú Yên (cũ). Nhưng trong tâm tưởng của người dân Khánh Hòa và nhiều tỉnh Nam Trung bộ, Thiếu tướng Hà Vi Tùng xứng đáng được tôn vinh.

Ảnh: GĐCC


[1]. Bretelle (tiếng Pháp), chỉ nơi giao nhau của 2 tuyến đường sắt.

[2]. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập Hồi ký, Nxb Quân đội nhân dân, H.2006, tr.209.

[3]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 141.

Bài viết liên quan

Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm
Viết cho tuổi hai mươi: giữa chênh vênh và hoài bão – Tản văn Phạm Phúc Vinh
“Tuổi hai mươi giống như một cơn mưa rào mùa hạ. Người ta vừa sợ ướt áo, lại vừa muốn đằm mình vào cái mát lạnh của đất trời. Chênh vênh đó, nhưng cũng rực rỡ vô cùng.”
Xem thêm
Thấy gì sau những chiếc xe hút đinh tự nguyện – Tạp bút Trần Đôn
Trong dòng chảy hối hả của giao thông đô thị, đôi khi ta bắt gặp hình ảnh những chiếc xe tự chế gắn thanh nam châm miệt mài rà sát mặt đường để “giải cứu” người đi đường khỏi nạn “đinh tặc”. Hình ảnh ấy đã trở nên quen thuộc ở nhiều nơi.
Xem thêm
Sắc hoa tháng Ba ở Điện Biên - Tản văn Phan Anh
Thời bây giờ, hoa ban không còn là loài hoa độc quyền của Tây Bắc nữa. Người ta đã nhân giống và đưa cây ban về trồng ở khắp mọi nơi. Chỉ riêng ở Hà Nội, cứ mỗi độ xuân về, trong hơi ấm của nắng mới tháng ba, trên đường Điện Biên Phủ, Hoàng Diệu, Thanh Niên, Bắc Sơn, công viên Cầu Giấy, hồ Gươm, hồ Thiền Quang, hồ Tân Xã … người ta thấy nàng công chúa của xứ sở Tây Bắc tưng bừng bung nở trên các vòm cây, đua nhau khoe sắc ngập trời, rồi thoang thoảng gửi hương vào trong không gian êm dịu của mùa xuân; khiến cho chị em không khỏi xốn xang, quên cả cái tiết trời còn chưa hết gió lạnh lẫn mưa bụi mà nô nức sửa soạn áo váy, rủ nhau đi sống ảo làm cho phố phường những nơi ấy cũng trở nên vui tươi, náo nhiệt.
Xem thêm
​Đám rau mùi già tháng Giêng của mẹ - Tạp bút Lê Thị Hiệp
Là một người rất thích rau mùi(người miền Nam gọi là ngò rí) nên mẹ tôi ngay từ lúc còn trẻ cho tận tới nay khi đã về già, bà vẫn luôn duy trì thói quen gieo trồng loại rau gia vị cực kỳ ngon và có mùi thơm vô cùng hấp dẫn này. Mẹ tôi kể rằng, từ khi lấy bố về làm dâu nhà ông bà nội tôi, thì mảnh vườn sau nhà rộng rãi, dẫu có trồng loại rau gì đi chăng nữa thì mẹ vẫn luôn dành ra một khoảng đất màu mỡ gần ngay khu vực cầu ao để gieo trồng rau mùi.
Xem thêm
Chân Mây 3 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Anh kể: Một hôm đang trong cơn tuyệt vọng. Anh cố gượng dậy cho mấy con cá nhỏ trong bể ăn. Bỗng nhiên anh thấy viên cuội lấp lánh đáy bể và chợt nhớ ra. Hôm ở đảo Hòn Dáu anh có nhặt một viên cuội ở bãi biển. Viên cuội vân hoa nhiều màu rất đẹp nhưng nhỏ chỉ bằng ngón chân cái. Mang về anh thả viên cuội vào bể cá và quên.
Xem thêm
Lặng lẽ Tết – Tản văn Lê Trọng Bình
Sau 45 năm đằng đẵng Tết Nam, lần đầu tiên được về quê ăn Tết, cảm giác của tôi như được “chào đời không tiếng khóc” nơi quê cha đất tổ, bởi sinh tôi ra chưa được cái Tết nào thì gia đình đã Nam tiến. Thường thì tâm lý người xa quê đoàn tụ sẽ vui lắm, nhưng trong tôi thì khác hoàn toàn bởi những cung bậc đầu tiên ấy.
Xem thêm
Tình mẫu tử - Trần Thế Tuyển
Nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, Văn chương TP.HCM giới thiệu tản văn “Tình mẫu tử” của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển: một câu chuyện giản dị mà xúc động về tình mẹ.
Xem thêm
Tuổi thơ tôi - Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Có những ký ức tưởng như đã ngủ yên trong quá khứ, nhưng chỉ cần một buổi chiều lặng gió, một mùi hương quen bất chợt thoảng qua, chúng lại trở về nguyên vẹn. Khi ấy, tuổi thơ hiện lên trong tôi như một thước phim cũ – chậm rãi, trong trẻo mà thấm đẫm những rung động rất sâu của một đời người.
Xem thêm
Tha phương…Tùy bút Lê Thi
Nước Mỹ có phải thiên đường cho tất cả những người đến miền đất hứa này không? Chưa hẳn là như thế. Tôi gặp biết bao nhiêu người đến định cư ở đây mang nhiều quốc tịch khác nhau, nhưng mỗi người mang số phận khác nhau nhiều khi không biết có hơn ở Việt Nam không, nếu như họ không có ý chí và nghề nghiệp gì nhất định.
Xem thêm
Một mùa thơ đi qua – tình người ở lại
Sau ba ngày hoạt động sôi nổi, Ngày Thơ Việt Nam 2026 tại TP.HCM đã khép lại, nhưng dư âm của nó vẫn còn đọng lại trong nhiều cuộc gặp gỡ và câu chuyện bên lề. Từ việc phát động cuộc thi thơ “Tiếng gọi đô thị mới” với sự đồng hành của Quỹ Tình Thơ, đến những lều thơ và đêm thơ nhạc của các câu lạc bộ, tất cả góp phần tạo nên một không gian thi ca vừa trang trọng vừa ấm áp tình bằng hữu.
Xem thêm
Vẻ đẹp miền di sản cuối trời Nam – Tùy bút Nguyễn Phú Thành
Miền đất được mệnh danh nơi “đất biết nở, rừng biết đi” (chữ dùng của Sơn Nam) – luôn mang trong mình vẻ đẹp hoang sơ và giàu sức sống. Những dòng kênh đậm phù sa, rừng U Minh bạt ngàn và mũi đất vươn ra biển Tây tạo nên một miền quê thấm đẫm chất phương Nam, nơi con người hiền hòa, chân chất và mạnh mẽ trước thiên nhiên. Còn Hà Tiên lại quyến rũ bởi vẻ thơ mộng của miền biên viễn, nơi non nước giao hòa mang dấu ấn lịch sử với những thắng cảnh từng đi vào thơ ca. Từ đất Mũi hoang sơ, phóng khoáng đến Hà Tiên hữu tình, cổ kính – đều là miền di sản của đất phương Nam như hai nét chấm phá độc đáo, tạo nên bức tranh thiên nhiên và văn hoá đầy mê hoặc của cực Nam Tổ quốc.
Xem thêm
Văn chương Việt và câu hỏi toàn cầu - Tùy văn Lê Hưng Tiến
Trong những năm gần đây, đời sống văn học Việt Nam đang đối mặt với một thực trạng đáng báo động, đó chính là sự xuống cấp đồng thời của chất lượng sáng tác và dịch thuật, đặc biệt trong lĩnh vực thơ khi nhiều sản phẩm yếu kém lại được nhân danh hội nhập để đưa ra nước ngoài. Hiện tượng này không chỉ làm tổn thương giá trị nội tại của văn chương, mà còn trực tiếp bóp méo diện mạo văn học Việt Nam trong con mắt bạn đọc quốc tế.
Xem thêm
Chén trà trong đêm trực – Tản văn Hồng Loan
Khi nhắc đến uống trà, nhiều người hình dung ngay những khoảnh khắc thư thả, ngồi giữa không gian yên tĩnh để cảm nhận vị “thanh khiết chậm rãi của cuộc sống”. Nhưng với những y, bác sĩ trực cấp cứu, trà lại mang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Đó là phút dừng ngắn ngủi để kịp hít một hơi sâu giữa những cuộc chạy đua với số phận; là lúc họ đứng dưới ánh đèn trắng lạnh của phòng cấp cứu, đôi tay còn hằn dấu găng, mùi sát khuẩn vẫn bám trên áo blouse, và tiếng bút ghi hồ sơ vẫn kêu “sột soạt” đâu đó trên chiếc bàn trực.
Xem thêm
Người chiến sĩ và mùa xuân đất nước - Tùy bút Phùng Văn Khai
Bến phà Lục Nam mùa xuân hơn ba mươi năm trước - năm 1994 với tôi là một bước ngoặt lớn của đời người. Có nằm mơ tôi cũng không nghĩ rằng mình đã trở thành một người lính trong tiểu đội tân binh của Trung đoàn 421 - Sư đoàn 306 - Binh đoàn Hương Giang anh hùng thấm đẫm chiến công...
Xem thêm
Cỗ Tết không thể thiếu dưa hành – Tản văn Nguyễn Gia Long
Năm nào cũng vậy, hễ Tết Nguyên đán còn cách khoảng mươi ngày, và cho dù có bận trăm công ngàn việc đi chăng nữa, thì mẹ tôi vẫn dành thời gian để muối vại dưa hành thật lớn! Vâng, cho dù đã có nhiều các món ngon rồi mà trong mâm cỗ Tết vẫn còn thiếu món dưa hành thì coi như vẫn còn thiếu chút hương vị Tết truyền thống. Nếu như các gia đình Miền Trung, Miền Nam trong mâm cỗ Tết thường có dưa món và đĩa củ kiệu, thì cỗ Tết ở Miền Bắc không thể thiếu được dưa hành muối chua.
Xem thêm
Nhiều niềm vui bên nồi bánh chưng ngày Tết – Tạp bút Nguyễn Gia Long
Nhớ khoảng thời gian tuổi thơ khi tôi còn sống ở quê nhà, cứ đến giáp Tết Nguyên đán thì gia đình nhà nào cũng vậy, dù bận rộn đến đâu cũng cắt cử ra một, vài người để lo sửa soạn rửa lá dong, vo gạo nếp, đãi đỗ, ướp thịt lợn…, để gói bánh chưng ăn Tết. Ngày ấy, dù kinh tế nhà nào cũng nghèo nhưng việc ăn một cái Tết to và tươm tất thì khỏi phải bàn, bởi người ta từng bảo: “Đói ngày giỗ cha, no ba ngày Tết”, mà bánh chưng thì là một trong số các món cơ bản không thể thiếu được trong mâm cỗ Tết, nên nhà nào cũng gói rất nhiều bánh chưng. Nhà ít thì gói dăm, bảy ký gạo; các hộ gia đình gói nhiều lên tới vài, ba chục ký. Chính vì vậy mà các cặp bánh, xâu bánh chưng vuông, bánh chưng dài (bánh tày) đều bày ngổn ngang trong nhà, quanh chạn bát trong gian bếp. Việc gói bánh chưng không chỉ để cúng kiếng và ăn trong ba ngày Tết chính, mà bánh chưng còn dùng để ăn dần trong những ngày tiếp theo khi mọi người ra đồng cày, cấy, trồng rau màu…
Xem thêm
Chân mây 2 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Khi choàng tỉnh, mình thấy đã nằm vật ở dưới đất. Kỳ lạ là giường khá cao và nền phòng là gạch men nhưng mình không cảm thấy cơ thể có chút đau đớn nào. Cứ như thể có ai đó đã ném mình xuống đất một cách hết sức dịu dàng. Thấy lạ mình chuyển sang chiếc giường bên và nằm quay đầu ngược lại. Từ đó mình ngủ ngon lành đến sáng.
Xem thêm
Cỗ Tết sẽ không đủ đầy nếu thiếu món giò thủ bó mo cau - Tản văn Thạch Bích Ngọc
Trong ký ức Tết tuổi thơ của tôi, ngoài kỷ niệm của vô vàn niềm vui bất tận khi được diện quần áo mới để đi chơi xuân trẩy hội, được nhận phong bao tiền lì xì từ ông bà, cha mẹ và những người thân yêu trong gia đình, dòng họ…, thì những món ăn ngon trong mâm cơm đủ đầy ngày Tết của một thời kinh tế khó khăn chung của đất nước, cũng luôn là “miền nhớ” để giờ đây khi đã trưởng thành, tìm lại chút hoài niệm trong ký ức tôi vẫn nao lòng thèm muốn, nhớ mãi không quên…
Xem thêm
Ký ức Kẻ Gỗ - Tùy bút Phúc Hải
Những ngày cuối năm, mưa lất phất phủ mờ con đường đất đỏ dẫn vào lòng hồ Kẻ Gỗ. Tôi trở lại Cẩm Xuyên, nơi ký ức của những thế hệ đi trước như những cơn sóng lặng lẽ vỗ vào bờ, kéo tôi về một thời mà tôi chưa từng sống, nhưng vẫn cảm nhận rõ qua những câu chuyện kể. Dưới lớp nước xanh thẳm của hồ Kẻ Gỗ hôm nay là cả một thế giới đã ngủ yên, những ngôi làng cổ, những cánh rừng gỗ quý và cả một thời đại “máu và hoa” của một thế hệ rực lửa. Tôi thuộc thế hệ sau, lớn lên khi dòng nước đã hiền hòa chảy tràn đồng ruộng, mang lại màu xanh bát ngát cho làng quê. Thế nhưng, mỗi lần đứng trước mặt hồ mênh mông, lòng tôi vẫn rung lên những nhịp đập thổn thức, như nghe được tiếng thở dài và nhịp đập của một vùng đất từng khô cằn đến cháy lòng.
Xem thêm