TIN TỨC

Hà Vi Tùng, vị tướng mưu lược…

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-12-19 22:37:44
mail facebook google pos stwis
392 lượt xem

Kỷ niệm 81 năm thành lập QĐND Việt Nam, 36 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân

Ký của NGUYỄN MINH NGỌC

Mùa thu năm 1983, tốt nghiệp khóa đào tạo dài hạn, tôi được giữ lại Trường Sĩ quan Không quân, công tác. Bấy giờ, tỉnh Phú Khánh trở thành “cái nôi” đào luyện sĩ quan cấp phân đội; riêng Nha Trang có các trường: Không quân, Hải quân và Thông tin. Ngoài mạn Dục Mỹ, Ninh Hòa, còn có thêm Trường Sĩ quan Lục quân 3. Lính tráng cứ truyền nhau rằng, ngôi trường này do tướng Hà Vi Tùng làm Hiệu trưởng, “khét tiếng” giỏi và sâu sát cấp dưới. Nghe thì cũng chỉ biết vậy, chứ tôi chưa có may mắn được gặp vị tướng lần nào. Mấy chục năm sau, khi chuyển công tác về Sài Gòn, nghề làm sách, cho tôi cơ hội được gặp gỡ, tiếp cận với nhiều người, nhất là các vị tướng lĩnh và thân nhân của họ.

Thiếu tướng Hà Vy Tùng (1925-1994).

Thiếu tướng Hà Vi Tùng, tên khai sinh là Hà Đình Tùng. Dòng họ Hà Đình nhiều đời gắn bó với làng Thầy (Đa Phúc), xã Sài Sơn, phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây (nay thuộc Thành phố Hà Nội). Cụ thân Hà Đình Mai là một thợ cả, rời làng lên miền ngược lập nghiệp. Cậu bé Tùng chào đời ngày 8-12-1925 ở Tuyên Quang, nơi về sau được mệnh danh là “Thủ đô kháng chiến”. Được gia đình cho ăn học, anh xuống Hà Nội làm thư ký cho một hãng buôn và tiếp tục theo đuổi sự học. Sau ngày Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945), anh trở về thành Tuyên làm viên chức ở Ty địa chính tỉnh. Sinh hoạt Đoàn Thanh niên Cứu quốc thị xã Tuyên Quang, chàng trai trẻ được giác ngộ, khởi đầu cho con đường tham gia cách mạng.

Nhờ công việc địa chính, đoàn thể yêu cầu, anh Tùng lấy được một số bản đồ quan trọng và có ý nghĩa. Tiếp đó, anh được giao nhiệm vụ tập hợp một tiểu đội thanh niên tự vệ chiến đấu, đi tuyên truyền, vẽ áp phích, treo cờ Việt Minh và gầy dựng cơ sở cách mạng. Từ sau Quốc dân Đại hội Tân Trào, tiểu đội tự vệ này được sáp nhập vào một đại đội Giải phóng quân ở chiến khu về.

Tổng khởi nghĩa thắng lợi, cách mạng Tháng Tám 1945 thành công. Ít lâu sau, anh Tùng được chọn về Hà Nội theo học khóa huấn luyện của Trường Quân chính Việt Nam (nay là Trường Sĩ quan Lục quân I). Đây là ngôi trường danh giá, nơi đào tạo ra nhiều tướng lĩnh tài ba, xuất sắc của quân đội ta.

Tại đây, học viên được thọ giáo bởi những người thầy là các nhà cách mạng nổi tiếng của đất nước… Giữa bao công việc bề bộn, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn dành thời gian đến thăm Trường Quân chính Việt Nam, cùng đi có đồng chí Võ Nguyên Giáp. Học viên Hà Vi Tùng được chọn đứng trong hàng quân danh dự đón Bác Hồ. Lần đầu tiên trong đời, được diện kiến vị Cha già của dân tộc, xúc động được Người nắm tay và hỏi chuyện… Niềm vui lớn bất ngờ. Những kỷ niệm ấy cùng lời dạy của vị lãnh tụ đã in sâu vào tâm khảm người lính đi suốt cuộc trường chinh của dân tộc. Lần thứ hai, Thượng tá Hà Vi Tùng được “gặp” Bác trong một trường hợp đặc biệt. Nén đau thương vào sâu trong tâm khảm, ông được cử luân phiên túc trực bên linh cữu của Người…

Tấm bia ghi sự kiện trận đánh, được công nhận Di tích lịch sử văn hoá.

Ngày ấy, chính quyền cách mạng cùng lúc phải đương đầu với giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm. Thù trong, giặc ngoài vây bủa, khiến cho khóa đào tạo của Trường Quân chính chỉ diễn ra không đầy một tháng. Gây hấn ở Sài Gòn, thực dân Pháp tái xâm lược nước ta một lần nữa. Nam bộ đi trước đứng lên kháng chiến. Hưởng ứng lời kêu gọi cả nước dốc sức chi viện cho miền Nam của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, các đại đội, chi đội Giải phóng quân gấp rút được thành lập, lên đường vào Nam. Người lính Hà Vi Tùng cùng nhiều đồng đội đăng ký tình nguyện đợt đầu tiên. Các đơn vị bộ đội Nam tiến giữ vai trò nòng cốt trong chiến đấu, xây dựng và phát triển bộ đội chủ lực tập trung ở Đông Nam bộ và Nam Trung bộ.

Cơ duyên sông núi đã khiến cho ông Tùng cùng ba đồng đội được bổ về Khánh Hòa. Sau khi đến gặp Chủ nhiệm Việt minh tỉnh, bộ tứ được giao nhiệm vụ mở lớp đào tạo cấp tốc cán bộ chính trị, quân sự cho địa phương, nguồn vốn đầu tiên của lực lượng vũ trang tỉnh. Nửa đầu tháng 12-1945, thiết giáp hạm Richelieu của hải quân Pháp đổ quân lên Nha Trang, chiếm giữ nhiều vị trí trọng yếu. Trước đó, được quân Anh đội lốt “Đồng minh” ra lệnh, lính Nhật tiến hành bao vây trụ sở Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Khánh Hòa, bắt cán bộ, tước khí giới của tự vệ ta. Tình thế hết sức hiểm nghèo!

Trước tình thế dầu sôi, lửa bỏng, sau hội nghị Xứ ủy Trung bộ, Ban chỉ huy Mặt trận Nha Trang - Khánh Hòa được thành lập. Trung đội do Hà Vi Tùng phụ trách đóng tại đình Xuân Phong, cách thị xã Nha Trang chừng 5km. Đơn vị có nhiệm vụ huấn luyện, giáo dục tinh thần đoàn kết chiến đấu chống quân xâm lược, và trên hết là hỗ trợ người dân quanh vùng.

Liền đó, Tham mưu trưởng mặt trận Hà Văn Lâu giao nhiệm vụ cho Hà Vi Tùng làm Chính trị viên Trung đội trấn ải phòng tuyến Chợ Mới, gồm phía bắc thị xã, khu vực đồi La San, cầu Xóm Bóng, Tháp Bà lên đến Cầu Sắt hầm xe lửa số 1. Nhờ kiến thức lĩnh hội được ở Trường Quân chính, ông Tùng cùng tập thể chỉ huy, vận dụng sáng tạo, xây dựng trận địa phòng ngự từ  Bretelle[1] đến thôn Lư Cấm, chốt chặn giữ mạch máu giao thông liên lạc, tiếp vận từ Trung ương về Khánh Hòa. Tuy vũ khí trang bị hết sức thô sơ, nhưng ý chí quả cảm của những người lính quyết tâm bảo vệ quê hương, bảo vệ đất nước thì cao ngút trời xanh.

Tháng 1-1946, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp được Chính phủ phái vào Khánh Hòa thị sát tình hình. Về sau, Đại tướng nhớ lại: “Giặc Pháp đang tấn công phía Nha Trang. Máy bay địch lượn ở Khánh Hòa, thả bom và bắn liên thanh xuống thành phố… Các đồng chí chỉ huy mặt trận về báo cáo tình hình, bàn kế hoạch tác chiến, rồi lại vội vã ra đi[2]...”.  

Cuộc chiến bao vây giam chân quân Pháp 101 ngày đêm (23-10-1945 – 1-2-1946) kết thúc vang dội. Trong thư “Gửi các chiến sĩ miền Nam”, Bác Hồ viết:  “Chính phủ Dân chủ Cộng hòa rất khen ngợi các chiến sĩ ở các mặt trận miền Nam, đặc biệt là các chiến sĩ ở Nha Trang và ở Trà Vinh, đã làm gương anh dũng cho toàn quốc. Tổ quốc biết ơn các bạn, toàn thể đồng bào noi gương các bạn”[3].

Các đơn vị, Đại đội 80, Tiểu đoàn 360, do ông Tùng dẫn dắt in dấu chân trên các nẻo đường Khánh Hòa, gắn với các địa danh như: Đại Điền, Cầu Ngói, Dốc Mỏ, Hòn Hèo... Giữa tháng 5-1949, trên đất Phú Yên, Tiểu đoàn 365 được thành lập, ông Hà Vi Tùng làm Tiểu đoàn trưởng. Với biệt danh Tiểu đoàn Lá Mít, đơn vị gieo bao nỗi khiếp sợ cho giặc Pháp và ngụy binh. Trong đội hình của Trung đoàn 803, Tiểu đoàn Lá Mít được Bộ Tư lệnh Liên khu 5 điều ra phối thuộc với chiến trường chính, lập nhiều chiến công, góp phần đánh bại cuộc hành quân Atlante của địch, “chia lửa” với chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, mà đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Khi rút về Đức Phổ, Quảng Ngãi, Trung đoàn phó Hà Vi Tùng tìm gặp lại người con gái xinh đẹp mà ông đã quen biết từ hai năm trước. Ấy là cô giáo Nguyễn Thị Đại (tức Nguyễn Thị Năm). Đôi trai tài, gái sắc đến với nhau, được gia đình và đơn vị vun vén, tác thành. Một đám cưới đời sống mới giản dị, với sự chúc phúc của đông đảo cán bộ, chiến sĩ cùng bà con lối xóm, ông Võ Bẩm - Chính ủy Trung đoàn 803 làm chủ hôn. Vui duyên mới, người lính tiếp tục trở lại đơn vị chiến đấu.

Tập kết ra Bắc, ông Tùng lần lượt đảm nhiệm Tham mưu trưởng Sư đoàn, rồi Lữ đoàn trưởng, Tư lệnh phó Sư đoàn 341. Cấp trên thấy rõ và đánh giá cao tố chất tham mưu chỉ huy vượt trội của người con Phủ Quốc - Thành Tuyên. Điều đó không có gì lạ vào những năm đầu thập niên 70, khi đương chức Tư lệnh phó kiêm Tham mưu trưởng Mặt trận B5, ông được điều động về làm Chủ nhiệm Khoa bộ binh, Học viện Quân sự (nay là Học viện Lục quân).

Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ ở Lữ đoàn 341 ở Vĩnh Linh, chiếm lĩnh và xây dựng Cồn Cỏ thành đảo tiền tiêu, Lữ đoàn trưởng Hà Vi Tùng đóng góp lớn vào việc xây dựng pháo đài phòng thủ vùng giới tuyến.

Từ sau chiến dịch Bình Giã ở Đông Nam bộ kết thúc với thắng lợi vang dội, sự nỗi lực của quân dân toàn miền Nam, đẩy chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ đến trước bờ vực bị phá sản và thất bại hoàn toàn. Nhằm kịp thời đối phó với âm mưu, thủ đoạn mới của kẻ thù, cấp trên quyết định cử nhiều cán bộ chỉ huy tài năng, có tư duy sáng tạo, bổ sung cho chiến trường.

Mùa hè 1964, Mặt trận Tây Nguyên được thành lập, với phiên hiệu B3. Thay vì đi học ở Liên Xô, ông Tùng nhận lệnh trở lại chiến trường. Bộ phận Tiền phương của B3 do các ông Hà Vi Tùng và Dương Liên phụ trách. Đây là những cán bộ chỉ huy đầu tiên của mặt trận.

Đầu năm 1965, đã có 23.000 quân viễn chinh Mỹ đến Nam Việt Nam. Chuyển sang chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc Việt Nam bằng không quân và hải quân, đồng thời liều lĩnh đổ quân vào miền Nam, trực tiếp tham chiến, hòng ngăn chặn đà thua của quân đội Sài Gòn, đẩy Việt cộng đến chỗ lụi tàn, sớm kết thúc cuộc chiến.

Bộ khung Sư đoàn bộ binh 1 sớm có mặt ở Tây Nguyên. Khí thế của trận đầu thắng Mỹ ở Núi Thành có sức cổ vũ mãnh liệt. Còn chưa kịp công bố quyết định thành lập thì cấp trên mở chiến dịch Plây-me (19-10 đến 26-11-1965). Đụng độ với Sư đoàn kỵ binh không vận số 1 hiện đại của Mỹ là việc chưa có tiền lệ. Với sự nghiên cứu kỹ lưỡng, chuẩn bị thấu đáo, các trung đoàn bộ binh (320, 33 và 66) thực hiện chủ trương “đánh điểm diệt viện”, giáng đòn chí tử. Quân Mỹ bị dồn về thung lũng Ia Đrăng, ta đánh trận then chốt. Cả chiến dịch, ta loại khỏi vòng chiến đấu 2.954 tên địch (có 1.700 quân Mỹ), phá hủy 89 xe quân sự, bắn rơi 59 máy bay… Chiến dịch đánh Mỹ đầu tiên ở Tây Nguyên thắng lợi vang dội, được Bộ Tổng tư lệnh tặng thưởng 2 Huân chương Quân công hạng Nhất. Một sự tưởng thưởng hiếm có trong lịch sử quân sự.

Với thắng lợi này, cuối tháng 12-1965, Mặt trận B3 mới tổ chức công bố quyết định thành lập Sư đoàn bộ binh 1 trên cơ sở 3 trung đoàn vừa tham gia Chiến dịch Plây-me. Tư lệnh Hoàng Kiện, Chính ủy Huỳnh Đắc Hương và Tư lệnh phó kiêm Tham mưu trưởng Thượng tá Hà Vi Tùng, sát cánh bên nhau. Với sự mưu lược, trí dũng và sức sáng tạo tiềm tàng, đơn vị càng đánh càng mạnh, “nghênh tiếp” quân Mỹ nhiều trận ra trò, khẳng định vị thế của một sư đoàn chủ lực đầu tiên của quân đội ta trên chiến trường Tây Nguyên rộng lớn.

Từ sau chiến dịch Sa Thầy, ông Tùng được điều sang làm Phó Tư lệnh Sư đoàn 3 (Sư đoàn Sao vàng). Tiếp đó, ông ra Bắc giữ chức Tư lệnh Sư đoàn 320B vừa thành lập, chuyên huấn luyện quân chi viện cho các chiến trường. Kiến thức quân sự cùng những trải nghiệm phong phú qua lăn lộn chiến đấu trên các chiến trường, đã giúp người chỉ huy dẫn dắt sư đoàn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Hễ nơi nào cấp trên cần người, thì ông Hà Vy Tùng có mặt đảm trách. Từ nếm trải ở Mặt trận Trị Thiên (B5), đến giảng đường của Học viện Quân sự, ông chuyển sang Cánh đồng Chum - Hạ Lào…

Sau ngày non sông liền một dải (4-1975), ông Hà Vi Tùng tiếp tục được tín nhiệm giữ các chức vụ: Tư lệnh Sư đoàn 341B; Trưởng khoa Nghệ thuật Quân sự - Viện Khoa học Quân sự; Cục trưởng Cục Quản lý Khoa học Quân sự thuộc Học viện Quân sự cao cấp (nay là Học viện Quốc phòng); Tham mưu trưởng Quân khu 1, bảo vệ biên giới phía Bắc; rồi Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân 3. Cơ duyên lần nữa đưa ông trở lại xứ Trầm Hương, nơi người con Phủ Quốc - Thành Tuyên từng sống và bám trụ chiến đấu ở Mặt trận Nha Trang - Khánh Hòa, kìm chân giặc Pháp xâm lược, thưở chính quyền cách mạng còn trong trứng nước. Trong hệ thống các nhà trường Quân đội thì Trường Sĩ quan Lục quân 3 “sinh sau, đẻ muộn” đứng chân ở vùng Lam Sơn - Dục Mỹ nổi tiếng chướng khí, khó khăn, thiếu thốn mọi bề…

Hơn 44 năm trong quân ngũ, lăn lộn chiến đấu và chỉ huy trên nhiều chiến trường cực kỳ gian khổ, khốc liệt, nhận lãnh nhiều trọng trách của quân đội giao phó, Thiếu tướng Hà Vi Tùng đi trọn hai cuộc trường chinh của dân tộc, giúp nhân dân Lào anh em, tham gia bảo vệ biên giới phía Bắc… Điều đặc biệt là dù chưa hề được đào tạo bài bản, vừa cầm súng vừa học ở chiến trường, ông Tùng trở thành một chỉ huy tham mưu tài năng và uyên bác, ba lần về giảng đường quân sự, góp công đào luyện cán bộ cho quân đội. Ở cương vị nào, vị tướng cũng tận tụy cống hiến, được cấp trên tin cậy, cấp dưới yêu mến và kính trọng. Ông để lại những dấu ấn khó quên.

Đầu tháng 12-1989, Hội Cựu chiến binh (CCB) Việt Nam được thành lập, Đại tướng Võ Nguyên Giáp là Chủ tịch danh dự, Thượng tướng Trần Văn Quang làm Chủ tịch. Thiếu tướng Hà Vi Tùng là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Hội CCB Việt Nam, Chủ tịch Hội CCB tỉnh Khánh Hòa. Trên cương vị mới, ông tích cực xây dựng và phát triển tổ chức Hội ở địa phương, khơi dậy phong trào hội viên gương mẫu, nhân rộng các điển hình. Vị tướng dạn dày trận mạc đi tiên phong với kế hoạch xóa đói giảm nghèo ở hai huyện miền núi Khánh Sơn, Khánh Vĩnh… Đặc biệt, ông tham mưu giúp lãnh đạo tỉnh Khánh Hòa mời Đại tướng Võ Nguyên Giáp và phu nhân vào thăm địa phương và dự lễ kỷ niệm 48 năm Mặt trận Nha Trang - Khánh Hòa, đáp ứng nguyện vọng mong mỏi của đông đảo cán bộ và người dân, đặc biệt là các cựu chiến binh từng xông pha chiến trận. Trước đó, khi đương chức Hiệu trường Trường Sĩ quan Lục quân 3, tướng Hà Vi Tùng đã chủ động giúp đỡ Bảo tàng Nha Trang cải tạo cơ sở vật chất, tư vấn giúp làm sa bàn Mặt trận Nha Trang - Khánh Hòa, được các chuyên gia của Bảo tàng Quân đội (nay là Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam) tấm tắc khen ngợi. Ông sưu tầm, cung cấp tư liệu và hiệu đính giúp Bảo tàng Nha Trang hoàn thành cuốn sách “Mặt trận Nha Trang Khánh Hòa 101 ngày đêm bao vây giam chân quân Pháp (23-10-1945 – 1.2-1946)”. Có thể nói cuộc đời của vị tướng chỉ huy tham mưu đã dành trọn tình gắn bó với đất và người xứ Trầm Hương.

Những năm tháng lăn lộn chiến đấu, hứng chịu nhiều bom đạn và chất độc hóa học kẻ thù, sức khỏe của Thiếu tướng Hà Vi Tùng bị giảm sút trầm trọng. Ông giã biệt cuộc đời ngày 19-12-1994, khi vừa chớm vào tuổi 70. Vài năm trước, ông đã viết sẵn những lời dặn dò các con cháu: “Phải giữ truyền thống gia đình ta. Vợ chồng, anh em phải thương yêu nhau, nhường nhịn nhau. Sống giản dị, thẳng thắn, trong sạch, không đua đòi…”.

Nhận xét về người bạn chiến đấu của mình, Thiếu tướng Huỳnh Đắc Hương (1921-2025) viết: “Có thể nói, qua cuộc đời quân ngũ của mình, đồng chí Hà Vi Tùng đã để lại những dấu ấn đặc biệt là người mưu trí, dũng cảm, thẳng thắn, kiên quyết, được đồng đội tin yêu, kẻ địch nể sợ. Đồng chí là tấm gương sáng về tinh thần tự học, tự rèn được tôi luyện qua môi trường chiến đấu.

Đồng đội đưa tiễn Thiếu tướng Hà Vi Tùng, bằng liễn đối: “Chiến trận xông pha, thù khiếp, dân yêu, công đức lớn. Hòa bình xây dựng, Đảng tin, bạn mến, nghĩa tình sâu”. Vị tướng với tài thao lược ra đi chẳng để lại tài sản gì ngoài tấm lòng son. Phần mộ của ông cùng người bạn đời thân yêu hiện yên nghỉ ở xã Vĩnh Phương (nay thuộc phường Bắc Nha Trang), nơi nhìn ra dòng sông Cái hiền hòa, ngày đêm sông nước rì rầm kể mãi chuyện lịch sử hào hùng.

Nhà lưu niệm vị tướng ở Vĩnh Phương.

Cách đó không xa, tại thôn Tây, “Nhà lưu niệm Thiếu tướng Hà Vi Tùng” được dựng lên. Hy vọng, trong tương lai gần, nơi đây sẽ là một điểm đến của lớp trẻ và du khách khi tìm về nguồn cội, về những tháng năm hào hùng và oanh liệt của cha ông.

Tên của vị tướng đã được đặt cho một con đường ở Đông Hòa, tỉnh Phú Yên (cũ). Nhưng trong tâm tưởng của người dân Khánh Hòa và nhiều tỉnh Nam Trung bộ, Thiếu tướng Hà Vi Tùng xứng đáng được tôn vinh.

Ảnh: GĐCC


[1]. Bretelle (tiếng Pháp), chỉ nơi giao nhau của 2 tuyến đường sắt.

[2]. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập Hồi ký, Nxb Quân đội nhân dân, H.2006, tr.209.

[3]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 141.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Sông Đuống trôi đi… một dòng lấp lánh - Bút ký của Tô Ngọc Thạch
Mùa đông về bất chợt, từng làn gió bấc mang theo hơi lạnh luồn vào các hang cùng ngõ hẻm của từng xóm phố. Bầu trời hôm nay phủ kín một màu xám bạc, những chiếc lá vàng cuối cùng còn sót lại trên cành cây đang đung đưa lần cuối trước khi rơi xuống đất, để chờ một mùa mới hồi sinh.
Xem thêm
Những người yêu rùa biển
Bài đăng Văn nghệ TPHCM số Xuân Bính Ngọ 2026
Xem thêm
Nhớ quê trong gió bấc mưa phùn - Tạp bút Nguyễn Gia Long
Sinh ra và lớn lên ở một tỉnh miền Bắc nước ta, nơi có những tháng mùa đông đi qua đầy khắc nghiệt, với mưa phùn, gió bấc và cái lạnh tái tê như muốn cắt da thịt, nên tuổi thơ tôi có biết bao nhiêu những kỷ niệm với mùa đông và miền quê thân thương ấy. Đó là những buổi ra đồng nhổ mạ, cấy lúa cùng mẹ vào dịp cuối năm, mặc dù thời tiết lạnh căm căm. Đó là những buổi chiều lùa trâu ra đồng chăn thả, kệ cho những cơn gió hun hút tràn về. Hay như những hôm trời u ám với gió bấc, mưa phùn giăng đầy trời vậy mà mẹ vẫn bắt mấy anh chị em chúng tôi ra đồng để kiếm rau mang về nấu cám cho lợn ăn. Rồi nữa, có không ít những chiều đông rét mướt, tôi vẫn cùng những đứa trẻ cùng trang lứa trong xóm ra đồng be bờ tát mương, bắt cua, cá, tôm, ốc…, mang về cải thiện cho bữa cơm sinh hoạt gia đình thêm phần tươm tất.
Xem thêm
Một hành trình từ xứ Nghệ ra biển lớn
Bài đăng Tạp chí Sông Lam Online
Xem thêm
Ao làng tháng Chạp trong ký ức tuổi thơ tôi - Tản văn Nguyễn Thúy Uyên
Nơi tôi sinh ra là một làng quê ven thành phố và dẫu nơi đây đã, đang trong đà đô thị hoá mạnh mẽ nhưng vẫn còn sót lại một số ao, hồ. Với người dân quê tôi nói riêng cũng như hết thảy những làng quê Việt Nam nói chung, thì có lẽ hình ảnh cái ao làng luôn gần gũi, rất thân thương, bởi lẽ những cái ao là nơi cung cấp nước tưới cho cây cối trong vườn nhà; ao là nơi thoát nước trong những ngày mưa triền miên; và ao cũng là nơi cung cấp nguồn thực phẩm cá, tôm, cua, ốc… cho con người, cũng như làm nơi thả bèo dùng cho việc chăn nuôi gia cầm gia súc.... Đối với trẻ thơ chúng tôi ngày thơ bé, thì ao làng còn là nơi tắm mát “giải nhiệt”, vui chơi đùa nghịch trong những buổi trưa hè oi ả, nóng bức…
Xem thêm
Chân mây - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Trước khi nghỉ hưu dăm bảy năm. Mình chuyển về phòng làm việc có cửa sổ rộng quay ra mặt hồ. Đó là một hồ nước lớn. Cây cổ thụ xanh mướt vây quanh. Bên hồ là công viên cây xanh nổi tiếng của thành phố. Mùa thu những vòm cây bừng nở những sắc hoa. Khi đó hương hoa ngào ngạt tràn ngập không gian. Hương hoa tràn ngập căn phòng của mình.
Xem thêm
Nén hương lòng nơi biên giới thân yêu - Tản văn Vũ Mạnh Định
Những ngày cuối năm, khi đất trời bắt đầu chuyển mình sang một nhịp chậm hơn, tôi có dịp dừng chân trước nghĩa trang liệt sĩ Hội Phú - vùng đất nơi tôi mới nhận công tác. Khói hương bảng lảng trong gió lạnh, những hàng bia trắng lặng im giữa không gian tĩnh mịch khiến lòng tôi chợt chùng xuống. Giữa khoảnh khắc tưởng niệm ấy, ký ức bất chợt đưa tôi trở về Đức Cơ - vùng biên giới đầy nắng gió, nơi những cánh rừng cao su mỗi độ cuối năm lại đồng loạt thay lá, nhuộm vàng cả một khoảng trời.
Xem thêm
Về làng Thụy Khê thăm nhà thờ Phan Huy Chú
Dòng họ Phan Huy ở Thuỵ Khuê (còn gọi là làng Thầy) xã Quốc Oai thành phố Hà Nội (trước đây thuộc xã Sài Sơn huyện Quốc Oai) vốn rất danh giá và nổi tiếng từ lâu đời. Rồi đến năm 2015, khi ông Ban Ki Moon - Tổng thư ký Liên Hợp Quốc đến thăm và ghi vào sổ lưu niệm của dòng họ tại ngôi nhà thờ Phan Huy Chú ở dưới chân núi Thầy thì danh thơm của chi tộc Phan Huy lại càng lừng lẫy và được rất nhiều người trong và ngoài nước biết đến. Ngôi nhà thờ ấy, trong tôi từ lâu vẫn biết, đó không chỉ là nơi thờ tự các bậc tổ tiên tiền bối từng là những triều thần, những danh nhân văn hoá lỗi lạc của dòng họ Phan Huy, của nước nhà qua các triều đại phong kiến, trải từ thời Hậu Lê đến đời nhà Nguyễn mà còn là nơi ra đời của của rất nhiều tác phẩm văn chương, những công trình khảo cứu lịch sử đồ sộ, quý giá của nước nhà. Biết vậy, trong thâm tâm tôi đã nhiều lần muốn đến thăm không gian thờ tự này, đồng thời cũng có thể coi đó là một “chứng nhân” chứng kiến sự ra đời của không ít các tác phẩm, những công trình văn hoá đặc biệt ấy; nhưng rồi việc nọ việc kia mà mãi vẫn chưa thực hiện được. Cứ thế, lòng hẹn lòng mãi, cuối cùng, nhân kỳ nghỉ Tết, tôi cũng đã thu xếp công việc để hành hương về chiêm bái. Và rồi, từ chuyến hành hương ấy, tôi được mở mang, hiểu biết thêm nhiều về dòng họ Phan Huy và những danh sĩ rất mực tài hoa, uyên bác của dòng họ này trên đất phủ Quốc, xứ Đoài mây trắng.
Xem thêm
Có một tinh thần sáng tạo độc lập như thế tại Việt Nam
Tiệm phở của Anh Hai (Brother Hai’s Pho Restaurant) là tựa game nổi tiếng thời gian gần đây của một lập trình viên bí ẩn với biệt danh marisa0704, vốn là sinh viên Trường Công nghệ Thông tin và Truyền thông (SoICT), Đại học Bách khoa Hà Nội được truyền cảm hứng từ Flappy Bird của nhà lập trình độc lập từ hơn 10 năm trước. Như một sự ngẫu nhiên, nếu nhìn lại những kết quả của các nghệ sĩ trẻ trong các lĩnh vực mỹ thuật, điện ảnh, sân khấu - kịch, xuất bản và đặc biệt là âm nhạc thì trong hơn một thập kỷ qua, họ đã thực sự sống với tinh thần sáng tạo, thử nghiệm độc lập.
Xem thêm
Lâm Xuân Thi – Người chọn đứng phía sau những điều tử tế
Bài đăng Tạp chí Văn nghệ TPHCM số ra ngày 01/01/2026
Xem thêm
Vị của mùa Đông - Tản văn Đinh Thu Huế
Mùa đông lẻn vào lòng thành phố bằng những bước chân không tiếng động, chỉ để lại dấu vết qua cái rùng mình của cơn gió bấc và sắc màu trầm mặc trên vòm không. Với tôi, mùa đông không chỉ là một khái niệm thời tiết, nó là một “vị” riêng biệt - vị của ký ức, của sự tĩnh lặng và của những triết lý nhân sinh được gói ghém trong cái lạnh căm căm.
Xem thêm
“Ăn mày laptop”- Thắp sáng niềm tin cuộc đời
Trong thời đại số, khi mạng xã hội thường bị nhìn như nơi ồn ào và nhiễu loạn, dự án “Ăn mày laptop” của Trần Trọng An lại cho thấy một khả năng khác: kết nối lòng tử tế bằng sự minh bạch, kiên trì và nhân ái.
Xem thêm
Nén hương cho một người cô độc - Tùy bút Nguyễn Hồng Lam
Đi hết những năm chiến tranh, vác ba lô về nhà ngỡ bắt đầu đời sống của riêng mình, người lính ấy mới nhận ra không còn gì thuộc về riêng ông nữa. Không gia đình, không quê hương, không có gì chào đón hay níu giữ. Khói lửa chiến tranh cũng đã tàn, chẳng còn chiến trường khốc liệt nào cho ông quay trở lại, dù chỉ để đi hết cuộc đời trong một thói quen. Ông là người lính lơ lạc giữa thời bình. Ngày trở về cũng cũng là ngày cuộc chiến trong tâm thức của riêng ông mới bắt đầu, giữa hòa bình vĩnh viễn, kéo dài thêm suốt hơn 30 năm sau đó.
Xem thêm
Văn chương gìn giữ văn hóa đọc
​Sách và văn hóa đọc đã góp phần gìn giữ, bảo tồn văn hóa quốc gia, dân tộc, phát triển năng lực cá nhân thông qua ngôn ngữ được sử dụng làm công cụ kết nối, truyền bá và lưu giữ những giá trị bất biến ngàn đời. Trong đó, văn chương cũng là một kênh đọc rất hữu hiệu, giàu tính nhân văn, nhân bản được nhân loại tụng ca.
Xem thêm
Pha Long nơi biên cương Tổ Quốc
“Pha Long nơi biên cương Tổ quốc” không chỉ là câu chuyện tìm mộ liệt sĩ, mà là một hành trình nhân văn về ký ức chiến tranh, tình ruột thịt và sự hóa thân thầm lặng của người lính vào từng tấc đất biên cương. Văn chương TP. HCM trân trọng giới thiệu bài ký của nhà thơ Nguyễn Văn Mạnh
Xem thêm
Phú Yên nghĩa tình và khát vọng hồi sinh - Ký của Nguyên Hùng
Bài đăng báo Văn nghệ số 50, ra ngày 13/12/2025
Xem thêm
Lời thì thầm của biển – Tản văn của Như Nguyệt
Còn bạn thì sao? Bạn nghe điều gì từ lòng biển? Tôi tin dù bạn nghe được điều gì, hãy giữ lấy niềm tin ấy thật chặt, bởi vì mọi “lời thì thầm” đều có sức mạnh của riêng nó.
Xem thêm
Diễn viên Thương Tín đã về cõi lặng
Thông tin từ chị Bùi Kim Chi (vợ Thương Tín) cho biết, Thương Tín đã qua đời vào khuya nay tại nhà riêng Phủ Hoà, Phan Rang.
Xem thêm
Ký ức về bố – Bút ký Vũ Mạnh Định
Pleiku những ngày này mưa dầm dề do ảnh hưởng bão. Mưa trắng xóa cả bầu trời, gió hun hút qua hàng cây phủ kín cả phố núi. Tiếng mưa khiến lòng tôi chùng xuống, ký ức bất chợt ùa về. Mưa như tấm màn xám phủ trùm đất trời, có khi kéo dài cả tháng không dứt. Ngày ấy tôi còn quá nhỏ để hiểu nỗi buồn của những cơn mưa, chỉ nhớ nó dai dẳng đến mức sáng hay chiều cũng nhập nhòe một màu xám đục. Nhưng chính sự dầm dề ấy lại trở thành lát cắt đặc biệt của tuổi thơ, để sau này, mỗi lần nghe mưa nơi khác, tôi ngỡ như vừa chạm vào những ngày Pleiku xưa cũ, ngày mưa dài đến mức thời gian như ngưng đọng.
Xem thêm