TIN TỨC

Hà Vi Tùng, vị tướng mưu lược…

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-12-19 22:37:44
mail facebook google pos stwis
1155 lượt xem

Kỷ niệm 81 năm thành lập QĐND Việt Nam, 36 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân

Ký của NGUYỄN MINH NGỌC

Mùa thu năm 1983, tốt nghiệp khóa đào tạo dài hạn, tôi được giữ lại Trường Sĩ quan Không quân, công tác. Bấy giờ, tỉnh Phú Khánh trở thành “cái nôi” đào luyện sĩ quan cấp phân đội; riêng Nha Trang có các trường: Không quân, Hải quân và Thông tin. Ngoài mạn Dục Mỹ, Ninh Hòa, còn có thêm Trường Sĩ quan Lục quân 3. Lính tráng cứ truyền nhau rằng, ngôi trường này do tướng Hà Vi Tùng làm Hiệu trưởng, “khét tiếng” giỏi và sâu sát cấp dưới. Nghe thì cũng chỉ biết vậy, chứ tôi chưa có may mắn được gặp vị tướng lần nào. Mấy chục năm sau, khi chuyển công tác về Sài Gòn, nghề làm sách, cho tôi cơ hội được gặp gỡ, tiếp cận với nhiều người, nhất là các vị tướng lĩnh và thân nhân của họ.

Thiếu tướng Hà Vy Tùng (1925-1994).

Thiếu tướng Hà Vi Tùng, tên khai sinh là Hà Đình Tùng. Dòng họ Hà Đình nhiều đời gắn bó với làng Thầy (Đa Phúc), xã Sài Sơn, phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây (nay thuộc Thành phố Hà Nội). Cụ thân Hà Đình Mai là một thợ cả, rời làng lên miền ngược lập nghiệp. Cậu bé Tùng chào đời ngày 8-12-1925 ở Tuyên Quang, nơi về sau được mệnh danh là “Thủ đô kháng chiến”. Được gia đình cho ăn học, anh xuống Hà Nội làm thư ký cho một hãng buôn và tiếp tục theo đuổi sự học. Sau ngày Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945), anh trở về thành Tuyên làm viên chức ở Ty địa chính tỉnh. Sinh hoạt Đoàn Thanh niên Cứu quốc thị xã Tuyên Quang, chàng trai trẻ được giác ngộ, khởi đầu cho con đường tham gia cách mạng.

Nhờ công việc địa chính, đoàn thể yêu cầu, anh Tùng lấy được một số bản đồ quan trọng và có ý nghĩa. Tiếp đó, anh được giao nhiệm vụ tập hợp một tiểu đội thanh niên tự vệ chiến đấu, đi tuyên truyền, vẽ áp phích, treo cờ Việt Minh và gầy dựng cơ sở cách mạng. Từ sau Quốc dân Đại hội Tân Trào, tiểu đội tự vệ này được sáp nhập vào một đại đội Giải phóng quân ở chiến khu về.

Tổng khởi nghĩa thắng lợi, cách mạng Tháng Tám 1945 thành công. Ít lâu sau, anh Tùng được chọn về Hà Nội theo học khóa huấn luyện của Trường Quân chính Việt Nam (nay là Trường Sĩ quan Lục quân I). Đây là ngôi trường danh giá, nơi đào tạo ra nhiều tướng lĩnh tài ba, xuất sắc của quân đội ta.

Tại đây, học viên được thọ giáo bởi những người thầy là các nhà cách mạng nổi tiếng của đất nước… Giữa bao công việc bề bộn, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn dành thời gian đến thăm Trường Quân chính Việt Nam, cùng đi có đồng chí Võ Nguyên Giáp. Học viên Hà Vi Tùng được chọn đứng trong hàng quân danh dự đón Bác Hồ. Lần đầu tiên trong đời, được diện kiến vị Cha già của dân tộc, xúc động được Người nắm tay và hỏi chuyện… Niềm vui lớn bất ngờ. Những kỷ niệm ấy cùng lời dạy của vị lãnh tụ đã in sâu vào tâm khảm người lính đi suốt cuộc trường chinh của dân tộc. Lần thứ hai, Thượng tá Hà Vi Tùng được “gặp” Bác trong một trường hợp đặc biệt. Nén đau thương vào sâu trong tâm khảm, ông được cử luân phiên túc trực bên linh cữu của Người…

Tấm bia ghi sự kiện trận đánh, được công nhận Di tích lịch sử văn hoá.

Ngày ấy, chính quyền cách mạng cùng lúc phải đương đầu với giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm. Thù trong, giặc ngoài vây bủa, khiến cho khóa đào tạo của Trường Quân chính chỉ diễn ra không đầy một tháng. Gây hấn ở Sài Gòn, thực dân Pháp tái xâm lược nước ta một lần nữa. Nam bộ đi trước đứng lên kháng chiến. Hưởng ứng lời kêu gọi cả nước dốc sức chi viện cho miền Nam của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, các đại đội, chi đội Giải phóng quân gấp rút được thành lập, lên đường vào Nam. Người lính Hà Vi Tùng cùng nhiều đồng đội đăng ký tình nguyện đợt đầu tiên. Các đơn vị bộ đội Nam tiến giữ vai trò nòng cốt trong chiến đấu, xây dựng và phát triển bộ đội chủ lực tập trung ở Đông Nam bộ và Nam Trung bộ.

Cơ duyên sông núi đã khiến cho ông Tùng cùng ba đồng đội được bổ về Khánh Hòa. Sau khi đến gặp Chủ nhiệm Việt minh tỉnh, bộ tứ được giao nhiệm vụ mở lớp đào tạo cấp tốc cán bộ chính trị, quân sự cho địa phương, nguồn vốn đầu tiên của lực lượng vũ trang tỉnh. Nửa đầu tháng 12-1945, thiết giáp hạm Richelieu của hải quân Pháp đổ quân lên Nha Trang, chiếm giữ nhiều vị trí trọng yếu. Trước đó, được quân Anh đội lốt “Đồng minh” ra lệnh, lính Nhật tiến hành bao vây trụ sở Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Khánh Hòa, bắt cán bộ, tước khí giới của tự vệ ta. Tình thế hết sức hiểm nghèo!

Trước tình thế dầu sôi, lửa bỏng, sau hội nghị Xứ ủy Trung bộ, Ban chỉ huy Mặt trận Nha Trang - Khánh Hòa được thành lập. Trung đội do Hà Vi Tùng phụ trách đóng tại đình Xuân Phong, cách thị xã Nha Trang chừng 5km. Đơn vị có nhiệm vụ huấn luyện, giáo dục tinh thần đoàn kết chiến đấu chống quân xâm lược, và trên hết là hỗ trợ người dân quanh vùng.

Liền đó, Tham mưu trưởng mặt trận Hà Văn Lâu giao nhiệm vụ cho Hà Vi Tùng làm Chính trị viên Trung đội trấn ải phòng tuyến Chợ Mới, gồm phía bắc thị xã, khu vực đồi La San, cầu Xóm Bóng, Tháp Bà lên đến Cầu Sắt hầm xe lửa số 1. Nhờ kiến thức lĩnh hội được ở Trường Quân chính, ông Tùng cùng tập thể chỉ huy, vận dụng sáng tạo, xây dựng trận địa phòng ngự từ  Bretelle[1] đến thôn Lư Cấm, chốt chặn giữ mạch máu giao thông liên lạc, tiếp vận từ Trung ương về Khánh Hòa. Tuy vũ khí trang bị hết sức thô sơ, nhưng ý chí quả cảm của những người lính quyết tâm bảo vệ quê hương, bảo vệ đất nước thì cao ngút trời xanh.

Tháng 1-1946, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp được Chính phủ phái vào Khánh Hòa thị sát tình hình. Về sau, Đại tướng nhớ lại: “Giặc Pháp đang tấn công phía Nha Trang. Máy bay địch lượn ở Khánh Hòa, thả bom và bắn liên thanh xuống thành phố… Các đồng chí chỉ huy mặt trận về báo cáo tình hình, bàn kế hoạch tác chiến, rồi lại vội vã ra đi[2]...”.  

Cuộc chiến bao vây giam chân quân Pháp 101 ngày đêm (23-10-1945 – 1-2-1946) kết thúc vang dội. Trong thư “Gửi các chiến sĩ miền Nam”, Bác Hồ viết:  “Chính phủ Dân chủ Cộng hòa rất khen ngợi các chiến sĩ ở các mặt trận miền Nam, đặc biệt là các chiến sĩ ở Nha Trang và ở Trà Vinh, đã làm gương anh dũng cho toàn quốc. Tổ quốc biết ơn các bạn, toàn thể đồng bào noi gương các bạn”[3].

Các đơn vị, Đại đội 80, Tiểu đoàn 360, do ông Tùng dẫn dắt in dấu chân trên các nẻo đường Khánh Hòa, gắn với các địa danh như: Đại Điền, Cầu Ngói, Dốc Mỏ, Hòn Hèo... Giữa tháng 5-1949, trên đất Phú Yên, Tiểu đoàn 365 được thành lập, ông Hà Vi Tùng làm Tiểu đoàn trưởng. Với biệt danh Tiểu đoàn Lá Mít, đơn vị gieo bao nỗi khiếp sợ cho giặc Pháp và ngụy binh. Trong đội hình của Trung đoàn 803, Tiểu đoàn Lá Mít được Bộ Tư lệnh Liên khu 5 điều ra phối thuộc với chiến trường chính, lập nhiều chiến công, góp phần đánh bại cuộc hành quân Atlante của địch, “chia lửa” với chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, mà đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Khi rút về Đức Phổ, Quảng Ngãi, Trung đoàn phó Hà Vi Tùng tìm gặp lại người con gái xinh đẹp mà ông đã quen biết từ hai năm trước. Ấy là cô giáo Nguyễn Thị Đại (tức Nguyễn Thị Năm). Đôi trai tài, gái sắc đến với nhau, được gia đình và đơn vị vun vén, tác thành. Một đám cưới đời sống mới giản dị, với sự chúc phúc của đông đảo cán bộ, chiến sĩ cùng bà con lối xóm, ông Võ Bẩm - Chính ủy Trung đoàn 803 làm chủ hôn. Vui duyên mới, người lính tiếp tục trở lại đơn vị chiến đấu.

Tập kết ra Bắc, ông Tùng lần lượt đảm nhiệm Tham mưu trưởng Sư đoàn, rồi Lữ đoàn trưởng, Tư lệnh phó Sư đoàn 341. Cấp trên thấy rõ và đánh giá cao tố chất tham mưu chỉ huy vượt trội của người con Phủ Quốc - Thành Tuyên. Điều đó không có gì lạ vào những năm đầu thập niên 70, khi đương chức Tư lệnh phó kiêm Tham mưu trưởng Mặt trận B5, ông được điều động về làm Chủ nhiệm Khoa bộ binh, Học viện Quân sự (nay là Học viện Lục quân).

Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ ở Lữ đoàn 341 ở Vĩnh Linh, chiếm lĩnh và xây dựng Cồn Cỏ thành đảo tiền tiêu, Lữ đoàn trưởng Hà Vi Tùng đóng góp lớn vào việc xây dựng pháo đài phòng thủ vùng giới tuyến.

Từ sau chiến dịch Bình Giã ở Đông Nam bộ kết thúc với thắng lợi vang dội, sự nỗi lực của quân dân toàn miền Nam, đẩy chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ đến trước bờ vực bị phá sản và thất bại hoàn toàn. Nhằm kịp thời đối phó với âm mưu, thủ đoạn mới của kẻ thù, cấp trên quyết định cử nhiều cán bộ chỉ huy tài năng, có tư duy sáng tạo, bổ sung cho chiến trường.

Mùa hè 1964, Mặt trận Tây Nguyên được thành lập, với phiên hiệu B3. Thay vì đi học ở Liên Xô, ông Tùng nhận lệnh trở lại chiến trường. Bộ phận Tiền phương của B3 do các ông Hà Vi Tùng và Dương Liên phụ trách. Đây là những cán bộ chỉ huy đầu tiên của mặt trận.

Đầu năm 1965, đã có 23.000 quân viễn chinh Mỹ đến Nam Việt Nam. Chuyển sang chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc Việt Nam bằng không quân và hải quân, đồng thời liều lĩnh đổ quân vào miền Nam, trực tiếp tham chiến, hòng ngăn chặn đà thua của quân đội Sài Gòn, đẩy Việt cộng đến chỗ lụi tàn, sớm kết thúc cuộc chiến.

Bộ khung Sư đoàn bộ binh 1 sớm có mặt ở Tây Nguyên. Khí thế của trận đầu thắng Mỹ ở Núi Thành có sức cổ vũ mãnh liệt. Còn chưa kịp công bố quyết định thành lập thì cấp trên mở chiến dịch Plây-me (19-10 đến 26-11-1965). Đụng độ với Sư đoàn kỵ binh không vận số 1 hiện đại của Mỹ là việc chưa có tiền lệ. Với sự nghiên cứu kỹ lưỡng, chuẩn bị thấu đáo, các trung đoàn bộ binh (320, 33 và 66) thực hiện chủ trương “đánh điểm diệt viện”, giáng đòn chí tử. Quân Mỹ bị dồn về thung lũng Ia Đrăng, ta đánh trận then chốt. Cả chiến dịch, ta loại khỏi vòng chiến đấu 2.954 tên địch (có 1.700 quân Mỹ), phá hủy 89 xe quân sự, bắn rơi 59 máy bay… Chiến dịch đánh Mỹ đầu tiên ở Tây Nguyên thắng lợi vang dội, được Bộ Tổng tư lệnh tặng thưởng 2 Huân chương Quân công hạng Nhất. Một sự tưởng thưởng hiếm có trong lịch sử quân sự.

Với thắng lợi này, cuối tháng 12-1965, Mặt trận B3 mới tổ chức công bố quyết định thành lập Sư đoàn bộ binh 1 trên cơ sở 3 trung đoàn vừa tham gia Chiến dịch Plây-me. Tư lệnh Hoàng Kiện, Chính ủy Huỳnh Đắc Hương và Tư lệnh phó kiêm Tham mưu trưởng Thượng tá Hà Vi Tùng, sát cánh bên nhau. Với sự mưu lược, trí dũng và sức sáng tạo tiềm tàng, đơn vị càng đánh càng mạnh, “nghênh tiếp” quân Mỹ nhiều trận ra trò, khẳng định vị thế của một sư đoàn chủ lực đầu tiên của quân đội ta trên chiến trường Tây Nguyên rộng lớn.

Từ sau chiến dịch Sa Thầy, ông Tùng được điều sang làm Phó Tư lệnh Sư đoàn 3 (Sư đoàn Sao vàng). Tiếp đó, ông ra Bắc giữ chức Tư lệnh Sư đoàn 320B vừa thành lập, chuyên huấn luyện quân chi viện cho các chiến trường. Kiến thức quân sự cùng những trải nghiệm phong phú qua lăn lộn chiến đấu trên các chiến trường, đã giúp người chỉ huy dẫn dắt sư đoàn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Hễ nơi nào cấp trên cần người, thì ông Hà Vy Tùng có mặt đảm trách. Từ nếm trải ở Mặt trận Trị Thiên (B5), đến giảng đường của Học viện Quân sự, ông chuyển sang Cánh đồng Chum - Hạ Lào…

Sau ngày non sông liền một dải (4-1975), ông Hà Vi Tùng tiếp tục được tín nhiệm giữ các chức vụ: Tư lệnh Sư đoàn 341B; Trưởng khoa Nghệ thuật Quân sự - Viện Khoa học Quân sự; Cục trưởng Cục Quản lý Khoa học Quân sự thuộc Học viện Quân sự cao cấp (nay là Học viện Quốc phòng); Tham mưu trưởng Quân khu 1, bảo vệ biên giới phía Bắc; rồi Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân 3. Cơ duyên lần nữa đưa ông trở lại xứ Trầm Hương, nơi người con Phủ Quốc - Thành Tuyên từng sống và bám trụ chiến đấu ở Mặt trận Nha Trang - Khánh Hòa, kìm chân giặc Pháp xâm lược, thưở chính quyền cách mạng còn trong trứng nước. Trong hệ thống các nhà trường Quân đội thì Trường Sĩ quan Lục quân 3 “sinh sau, đẻ muộn” đứng chân ở vùng Lam Sơn - Dục Mỹ nổi tiếng chướng khí, khó khăn, thiếu thốn mọi bề…

Hơn 44 năm trong quân ngũ, lăn lộn chiến đấu và chỉ huy trên nhiều chiến trường cực kỳ gian khổ, khốc liệt, nhận lãnh nhiều trọng trách của quân đội giao phó, Thiếu tướng Hà Vi Tùng đi trọn hai cuộc trường chinh của dân tộc, giúp nhân dân Lào anh em, tham gia bảo vệ biên giới phía Bắc… Điều đặc biệt là dù chưa hề được đào tạo bài bản, vừa cầm súng vừa học ở chiến trường, ông Tùng trở thành một chỉ huy tham mưu tài năng và uyên bác, ba lần về giảng đường quân sự, góp công đào luyện cán bộ cho quân đội. Ở cương vị nào, vị tướng cũng tận tụy cống hiến, được cấp trên tin cậy, cấp dưới yêu mến và kính trọng. Ông để lại những dấu ấn khó quên.

Đầu tháng 12-1989, Hội Cựu chiến binh (CCB) Việt Nam được thành lập, Đại tướng Võ Nguyên Giáp là Chủ tịch danh dự, Thượng tướng Trần Văn Quang làm Chủ tịch. Thiếu tướng Hà Vi Tùng là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Hội CCB Việt Nam, Chủ tịch Hội CCB tỉnh Khánh Hòa. Trên cương vị mới, ông tích cực xây dựng và phát triển tổ chức Hội ở địa phương, khơi dậy phong trào hội viên gương mẫu, nhân rộng các điển hình. Vị tướng dạn dày trận mạc đi tiên phong với kế hoạch xóa đói giảm nghèo ở hai huyện miền núi Khánh Sơn, Khánh Vĩnh… Đặc biệt, ông tham mưu giúp lãnh đạo tỉnh Khánh Hòa mời Đại tướng Võ Nguyên Giáp và phu nhân vào thăm địa phương và dự lễ kỷ niệm 48 năm Mặt trận Nha Trang - Khánh Hòa, đáp ứng nguyện vọng mong mỏi của đông đảo cán bộ và người dân, đặc biệt là các cựu chiến binh từng xông pha chiến trận. Trước đó, khi đương chức Hiệu trường Trường Sĩ quan Lục quân 3, tướng Hà Vi Tùng đã chủ động giúp đỡ Bảo tàng Nha Trang cải tạo cơ sở vật chất, tư vấn giúp làm sa bàn Mặt trận Nha Trang - Khánh Hòa, được các chuyên gia của Bảo tàng Quân đội (nay là Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam) tấm tắc khen ngợi. Ông sưu tầm, cung cấp tư liệu và hiệu đính giúp Bảo tàng Nha Trang hoàn thành cuốn sách “Mặt trận Nha Trang Khánh Hòa 101 ngày đêm bao vây giam chân quân Pháp (23-10-1945 – 1.2-1946)”. Có thể nói cuộc đời của vị tướng chỉ huy tham mưu đã dành trọn tình gắn bó với đất và người xứ Trầm Hương.

Những năm tháng lăn lộn chiến đấu, hứng chịu nhiều bom đạn và chất độc hóa học kẻ thù, sức khỏe của Thiếu tướng Hà Vi Tùng bị giảm sút trầm trọng. Ông giã biệt cuộc đời ngày 19-12-1994, khi vừa chớm vào tuổi 70. Vài năm trước, ông đã viết sẵn những lời dặn dò các con cháu: “Phải giữ truyền thống gia đình ta. Vợ chồng, anh em phải thương yêu nhau, nhường nhịn nhau. Sống giản dị, thẳng thắn, trong sạch, không đua đòi…”.

Nhận xét về người bạn chiến đấu của mình, Thiếu tướng Huỳnh Đắc Hương (1921-2025) viết: “Có thể nói, qua cuộc đời quân ngũ của mình, đồng chí Hà Vi Tùng đã để lại những dấu ấn đặc biệt là người mưu trí, dũng cảm, thẳng thắn, kiên quyết, được đồng đội tin yêu, kẻ địch nể sợ. Đồng chí là tấm gương sáng về tinh thần tự học, tự rèn được tôi luyện qua môi trường chiến đấu.

Đồng đội đưa tiễn Thiếu tướng Hà Vi Tùng, bằng liễn đối: “Chiến trận xông pha, thù khiếp, dân yêu, công đức lớn. Hòa bình xây dựng, Đảng tin, bạn mến, nghĩa tình sâu”. Vị tướng với tài thao lược ra đi chẳng để lại tài sản gì ngoài tấm lòng son. Phần mộ của ông cùng người bạn đời thân yêu hiện yên nghỉ ở xã Vĩnh Phương (nay thuộc phường Bắc Nha Trang), nơi nhìn ra dòng sông Cái hiền hòa, ngày đêm sông nước rì rầm kể mãi chuyện lịch sử hào hùng.

Nhà lưu niệm vị tướng ở Vĩnh Phương.

Cách đó không xa, tại thôn Tây, “Nhà lưu niệm Thiếu tướng Hà Vi Tùng” được dựng lên. Hy vọng, trong tương lai gần, nơi đây sẽ là một điểm đến của lớp trẻ và du khách khi tìm về nguồn cội, về những tháng năm hào hùng và oanh liệt của cha ông.

Tên của vị tướng đã được đặt cho một con đường ở Đông Hòa, tỉnh Phú Yên (cũ). Nhưng trong tâm tưởng của người dân Khánh Hòa và nhiều tỉnh Nam Trung bộ, Thiếu tướng Hà Vi Tùng xứng đáng được tôn vinh.

Ảnh: GĐCC


[1]. Bretelle (tiếng Pháp), chỉ nơi giao nhau của 2 tuyến đường sắt.

[2]. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập Hồi ký, Nxb Quân đội nhân dân, H.2006, tr.209.

[3]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 141.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Bát pin – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Có những kỷ niệm tưởng đã lùi rất xa vào dĩ vãng, vậy mà chỉ cần một âm thanh quen thuộc bất chợt vang lên là tất cả lại hiện về rõ ràng như mới hôm qua. Với tôi, đó là tiếng nói ấm áp phát ra từ chiếc đài bán dẫn cũ – thứ âm thanh từng thắp sáng những ngày tháng gian khó nơi miền quê chưa có điện. Và mỗi lần nhớ về chiếc đài ấy, tôi lại nhớ đến “bát pin” – một sáng kiến vụng về nhưng chứa đựng biết bao niềm hy vọng của một thời thiếu thốn mà đầy khát khao.
Xem thêm
Dòng suối mát trong rừng Mạn Ngược – Tùy bút Phương Uyên
Quê hương tôi có thể chưa nổi tiếng trên những bản đồ du lịch, nhưng với tôi, dòng suối giữa đại ngàn luôn là món quà đẹp nhất mà thiên nhiên đã ban tặng. Đó là vẻ đẹp của sự giản dị, thuần khiết và bền bỉ, như chính tâm hồn của những con người miền núi luôn chân thành, mộc mạc mà nghĩa tình.
Xem thêm
Mồ hôi và nước mắt tìm kiếm liệt sĩ
Chiến tranh đã lùi vào quá khứ nửa thế kỷ, nhưng dư âm của những năm tháng máu trộn bùn non vẫn còn khắc sâu trên từng tấc đất quê hương, trong tâm trí của triệu triệu người con đất Việt. Những người lính Cụ Hồ, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, những chiến sĩ biệt động và dân quân du kích năm ấy, khi dấn thân ra trận, tuổi đời hãy còn rất trẻ; các anh, các chị mang theo những hoài bão thanh xuân mãnh liệt và cả những ước mơ còn dang dở. Rồi trong khói lửa đạn bom khắc nghiệt, các anh, các chị đã anh dũng ngã xuống, hóa thân thành hồn thiêng sông núi, trở thành một phần máu thịt của đất trời Tổ quốc. Hưởng ứng hành trình 500 ngày đêm tìm kiếm hài cốt và xác định danh tính liệt sĩ đang được triển khai sâu rộng trên toàn quốc, hàng triệu trái tim lại thổn thức, cùng hướng về một cuộc hành trình lặng thầm nhưng vô cùng cao cả: tìm kiếm, đón các anh, các chị về với đất mẹ, về với vòng tay ôm ấp của gia đình, người thân và quê hương xứ sở.
Xem thêm
Sắc tím bàng vuông - Tản văn Nguyễn Thu Hà SG
Tháng sáu, hoa bàng vuông nhà mình năm nay nở đặc bông. Thứ hoa chẳng được bày trưng bao giờ, cứ bung rực ra sắc tím tươi như những lời hẹn ước. Đôi khi em bắt gặp con đứng cạnh lồng chim và đăm đăm ngắm chùm hoa đang rộ. Tiếng con nhồng kêu lanh lảnh “ Cha về! Cha về!” làm thằng bé chợt giật mình…
Xem thêm
Cuộc gặp gỡ kỳ lạ - Bút ký của Vũ Minh Phúc
Năm ấy, tôi được cử lên Điện Biên Phủ để tường thuật về sự kiện 1.000 anh hùng thời đại Hồ Chí Minh. Những con người anh hùng nhất, dũng cảm nhất, hôm ấy giữa Hội trường khang trang rộng lớn, ai cũng thổn thức kể chuyện đời mình. Những tấm huân, huy chương lấp lánh và cao quý nhất trên ngực những người lính già, nó được dành để trao tặng cho những con người đã hy sinh cả cuộc đời mình cho sự nghiệp vĩ đại của Tổ quốc. Cuộc gặp gỡ qua đi, tôi về nhà, nhưng những câu chuyện ấy chẳng bao giờ qua đi, nó như cứ trở đi trở lại trong những giấc mơ.
Xem thêm
Nhà tù Sơn La và cây đào Tô Hiệu
Mỗi lần trở lại nhà tù Sơn La, gót chân tôi như bị níu chặt trước cây đào mang tên người chiến sĩ cộng sản Tô Hiệu. Giống như lần trước, tôi lại trông thấy rất nhiều người vây quanh và lặng yên chụp ảnh bên tấm biển nhỏ cắm ở dưới gốc cây đào. Cội đào cổ thụ kiêu hãnh bên nền móng cổ xưa như thể tựa mình vào vách đá của tù ngục; sừng sững ngay bên lối vào với cành lá tươi xanh, tán xoè rộng khắp như thể đang che chở cho những miền ký ức.
Xem thêm
Trên những nẻo đường tri ân - Ký của Nguyên Hùng
Dọc dải đất miền Trung, nơi từng rung chuyển bởi đạn bom và nước mắt, vẫn còn đó những địa danh đã đi vào tâm thức dân tộc: Trường Sơn, Khe Sanh, Thành cổ Quảng Trị, sông Thạch Hãn, địa đạo Vĩnh Mốc... Mỗi tấc đất, mỗi dòng sông là một trang sử được viết bằng máu của những người lính tuổi hai mươi.
Xem thêm
Em đợi anh về
Dòng sông Vàm Cỏ vẫn miệt mài chảy, nước vẫn trôi đi, thời gian vẫn luân hồi qua từng mùa lá rụng. Nhưng bên bờ sông ấy, có những nỗi nhớ đã hóa đá, có những tình yêu đã vượt thoát khỏi ranh giới của sự sống và cái chết, để trở thành một biểu tượng bất tử. Câu chuyện về người chiến sĩ - liệt sĩ Huỳnh Văn Quên và người con gái Nguyễn Thị Lệ là một minh chứng sâu sắc – một câu chuyện được viết bằng máu, nước mắt và tấm lòng sắt son của người phụ nữ Việt Nam trong khói lửa chiến tranh.
Xem thêm
Nghĩa tình với liệt sĩ
Những ngày này, cả nước cùng tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ, chúng ta lại càng thấm thía hơn về hai chữ “tri ân”. Tri ân không chỉ là những vòng hoa, những nén tâm hương thành kính dâng trên đài tưởng niệm, mà đôi khi còn là những câu chuyện lặng thầm, bền bỉ được thắp sáng từ nghĩa đồng bào, tình đồng đội sâu nặng giữa thời bình.
Xem thêm
Tiếng ghi - ta rung lên ngày ấy - Tản văn Văn Lê Tám
Có những chuyến đi là để trở về, nhưng cũng có những lần trở về chỉ để nhận ra mình đã vĩnh viễn đánh rơi một phần hồn ở lại. Ba mươi năm, một chớp mắt của đất trời, nhưng là hơn nửa đời người đối với nhóm bạn lớp 8A2 ngày ấy trên quê hương Minh Hải.
Xem thêm
Một đêm Bến Hải - Bút ký của Nguyễn Thị Việt Nga
Đặt trong bối cảnh quốc tế hôm nay, khi nhiều nơi trên thế giới vẫn còn tiếng súng, vẫn còn những dòng người rời bỏ quê hương, vẫn còn những đứa trẻ lớn lên giữa đổ vỡ, vẫn còn những đường biên bị biến thành vết thương, một đêm Bến Hải càng trở nên thấm thía. Từ một dòng sông từng là giới tuyến, Việt Nam gửi đi một lời nhắn không ồn ào nhưng bền bỉ: hòa bình không phải là một trạng thái tự nhiên, mà là thành quả của lương tri, của đối thoại, của sự kiềm chế, của lòng nhân ái và của trách nhiệm với tương lai.
Xem thêm
A Pa Chải, một lần đến cả đời thương nhớ
Chúng tôi muốn lưu lại với miền đất ba biên A Pa Chải lắm, nhưng để kịp cho hành trình trở về vào ngày hôm sau nên cũng đành phải chia tay với Sín Thầu trong những luyến tiếc. Tạm biệt “vùng đất bằng phẳng rộng lớn”, nghĩa của từ A Pa Chải theo tiếng địa phương của đồng bào Hà Nhì, chúng tôi khép lại một hành trình khám phá miền cực Tây thân thương của Tổ quốc và mang theo về cả một khoảng trời biên viễn cùng với tâm nguyện sẽ có một ngày được trở lại. Thế đấy, có những vùng đất, có những chuyến đi, dù chỉ một lần chạm mặt mà trong lòng đã thầm gửi lại cả một đời thương nhớ. Có lẽ từ đây, A Pa Chải trong tôi cũng vậy. Nó đã gieo vào lòng tôi những thanh âm bâng khuâng của một miền biên thuỳ, trong niềm thương bản quán chẳng thể nào quên.
Xem thêm
Rạng rỡ tên người
Không chỉ bởi hàng nghìn ánh đèn, những màn hình khổng lồ, những chùm pháo hoa sẽ bừng nở cuối chương trình, mà còn bởi một cái tên đã trở thành ánh sáng dẫn đường cho cả dân tộc suốt hơn một thế kỷ qua.
Xem thêm
Một kết nối nhân văn
Chiều ngày 26 tháng 6 năm 2026, tại Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh diễn ra cuộc gặp mặt, giao lưu giữa lãnh đạo Quân đội với đội ngũ văn nghệ sĩ khu vực phía Nam.
Xem thêm
Nhà văn Sơn Nam: Người chép sử bằng hương rừng, mật đất
Sơn Nam, tên thật Phạm Minh Tài, sinh năm 1926 tại huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang (nay là An Giang) – vùng đất Miệt Thứ với rừng tràm, bưng biền và sông rạch đan xen. Không gian khắc nghiệt ấy sớm hình thành trong ông cảm thức văn hóa đặc biệt về đất đai, lịch sử mở cõi và thân phận con người phương Nam.
Xem thêm
Đừng tiếc lời khen khi dạy trẻ nhỏ
Khi đời sống của mỗi gia đình ngày càng được nâng cao, nhiều gia đình có điều kiện chăm sóc và nuôi dạy con cái được tốt hơn. Giáo dục thời hội nhập hiện nay có nhiều cơ hội được tiếp cận, học hỏi phương pháp giáo dục tiên tiến, khoa học, nhiều bậc phụ huynh đã chú trọng giáo dục cho con nhỏ rất tích cực. Từ cách ứng xử hàng ngày cho đến lời nói, cử chỉ đều được người lớn ý thức khi giao tiếp với con trẻ. Trong quá trình giao tiếp đó, lời nói và đặc biệt là lời khen lại có tác động lớn tới nhận thức và hành vi, tình cảm của trẻ con.
Xem thêm
Trái tim rỉ máu! - Tạp bút Nguyễn Xuân Hương
Năm nay mùa mưa lại đến. Những cơn giông lốc gió cuốn kèm theo những cơn mưa nghe ràn rạt trên đường phố. Giờ đây, gã đã nghỉ hưu không phải bon chen lặn lội trên đường như thuở trước nữa. Trái tim gã đã trả lại nhịp đập bình thường như trước ngày bị bệnh. Và trong những giấc mơ về đêm không còn cảnh trái tim rỉ máu nữa. Cuộc sống cứ bình thản trôi đi mặc cho bão táp phong ba. Mong rằng trái tim gã cứ hoạt động bình thường đến ga cuối cuộc đời gã. Như vậy là mãn nguyện lắm rồi. Xin cảm ơn tất cả mọi người, xin cảm ơn cuộc đời, thật đáng quý biết bao.
Xem thêm
Chuyện về một thương binh nặng – Bút ký Trần Trọng Trung
Nhắc đến thương binh Nguyễn Văn Hữu ngụ xã Bến Lức, tỉnh Tây Ninh là gợi nhớ đến những ký ức hào hùng, cuộc hành trình không giới hạn của Sống đẹp! Ông đã cống hiến cả một thời tuổi trẻ, không quản ngại gian khổ, hy sinh xương trắng, máu đào của bản thân mình chiến đấu chống kẻ thù, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
Xem thêm