TIN TỨC

Hữu Thỉnh và chiến sĩ xe tăng

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-07-12 09:44:50
mail facebook google pos stwis
2059 lượt xem

Nguyễn Thanh

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước gian nan khốc liệt của dân tộc Việt Nam trong gần một phần tư thế kỷ như một bản trường ca âm vang giai điệu trầm lắng bi hùng, đã phản ánh phẩm chất cao đẹp sáng ngời của mọi tầng lớp nhân dân ở cả ba miền. Những người tham gia vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc, cầm súng trực diện đấu tranh với quân thù có những chiến sĩ làm văn nghệ thuộc đủ binh chủng như: Nguyễn Thi (1928-1968), Lê Anh Xuân (1940-1968), … và Hữu Thỉnh. Trong đó, xuất thân từ một chiến sĩ xe tăng, Hữu Thỉnh được coi là một gương mặt thơ xuất sắc nổi trội trong nền văn học có lửa của giai đoạn 1954-1975.  

 

Nhà thơ Hữu Thỉnh (sinh năm 1942), bút danh Vũ Hữu, tên thật là Nguyễn Hữu Thỉnh thuộc gia đình nông dân có truyền thống Nho học và giàu tinh thần cách mạng ở huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc. Hữu Thỉnh đã trải qua tuổi thơ không bình lặng như bao nhiêu đứa trẻ khác: hơn năm năm sống nhờ vào người bác ruột, sau đó phải đi làm công việc nặng nhọc để kiếm sống. Mãi cho tới khi hòa bình lập lại (1954), anh mới được đến trường. Năm 1963, sau khi tốt nghiệp Trung học phổ thông, thấy rõ được hoàn cảnh đau thương của đất nước hai miền, Hữu Thỉnh xin nhập ngũ vào bộ đội tăng-thiết giáp, thuộc Trung đoàn 202. Anh vừa công tác trong quân đội, vừa dạy Bổ túc văn hóa, viết báo và làm cán bộ tuyên huấn. Hữu Thỉnh đã tham gia chiến đấu chống Mỹ trên nhiều chiến trường Bắc, Nam cả những mặt trận máu lửa như Đường 9 – Nam Lào và sau hết là chiến dịch Hồ Chí Minh dẫn đến Đại Thắng Lịch sử Mùa Xuân năm 1975.

Sau ngày thống nhất năm 1975,  Hữu Thỉnh đi học trường Viết văn Nguyễn Du khóa 1. Từ năm 1982, anh bắt đầu làm cán bộ Biên tập, Trưởng ban Thơ rồi Phó Tổng Biên tập của Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Từ năm 1990 đến nay, Hữu Thỉnh chuyển sang công tác tại Hội Nhà văn Việt Nam, rồi làm Tổng Biên tập Tuần báo Văn nghệ, tham gia Ban Chấp hành Hội nhiều khóa liên tiếp, Ủy viên Ban Thư ký khóa 3, Tổng thư ký – Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam khóa 6-7-8 và Chủ tịch Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam. Nhà thơ Hữu Thỉnh còn kiêm nhiệm thêm các chức vụ: Ủy viên Thường vụ Đảng ủy khối Tư tưởng Văn hóa Trung ương, Bí thư Đảng ủy, Đảng bộ cơ quan Hội Nhà văn Việt Nam, Bí thư Đảng đoàn Hội Nhà văn Việt Nam, Bí thư Đảng đoàn Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam và Đại biểu Quốc hội khóa 10.

Tác phẩm của nhà thơ Hữu Thỉnh đã xuất bản: – Âm vang chiến hào (in chung); – Đường tới thành phố (trường ca); – Từ chiến hào tới thành phố (trường ca, thơ ngắn); – Khi bé Hoa ra đời (thơ thiếu nhi, in chung); – Thư mùa đông (thơ); – Trương ca biển; – Thương lượng với thời gian (thơ).

Với những công lao đóng góp cụ thể cho sự nghiệp chiến đấu chống ngoại xâm và văn học, nhà thơ Hữu Thỉnh đã nhận được các giải thưởng: + Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1980 (với trường ca Đường tới thành phố và năm 1995 với tập thơ Thư mùa đông; + Giải thưởng xuất sắc của Bộ Quốc phòng năm 1994 với Trường ca Biển; + Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật; + Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật+ Giải thưởng Văn học Asean. Ngoài ra còn có các giải thưởng Hữu Thỉnh nhận được từ các cuộc thi thơ: – Giải ba cuộc thi thơ báo Văn nghệ năm 1973 với bài thơ Mùa xuân đi đón; – Giải A cuộc thi thơ báo Văn nghệ năm 1975-1976 với bài thơ Chuyến đò đêm giáp ranh và trường ca Sức bền của đất.

Sự nghiệp văn chương của nhà thơ Hữu Thỉnh là một cuộc hành trình thi ca của một anh bộ đội theo suốt từng chặng đường chiến đấu cam go gian khổ của tác giả trên chiến trường Nam Bắc trong giai đoạn này. Do vậy, thơ Hữu Thỉnh mang dấu ấn hoạt động của một chiến sĩ trực diện với kẻ thù nơi chiến trận và của một nhà thơ trên mặt trận văn hóa văn nghệ theo lý tưởng của Bác Hồ. Chịu khó đọc hết những thi phẩm chính làm nên sự nghiệp cầm bút gieo vần của anh, người yêu thơ không khó nhận ra tỏ rõ ở anh một hồn thơ đích thực với xúc cảm nhạy bén, phong phú, giàu chất sáng tạo hiếm tìm gặp nơi các nhà thơ cùng lứa tuổi trong thời kỳ này.

 Như đa phần các thi sĩ xưa nay, tình yêu đất nước trước hết thể hiện qua lòng yêu thiên nhiên, cảnh vật gần gũi với mình như hoa lá, cây cỏ, núi sông (giang sơn) vốn là thực thể biểu tượng của tổ quốc quê hương. Môi trường chiến đấu của Hữu Thỉnh là dãy Trường Sơn rộng dài hiểm trở với cảnh núi cao, thác đổ gắn liền với cuộc đời chiến đấu gian nan, đã làm xúc động dạt dào hồn thơ anh: Núi cao cho thác đổ hồi/ Trường Sơn dài rộng cho tôi mặn màXe thồ vành hỏng tháo ra/ Còn lăn theo suốt đời ta đời mình (Đường tới thành phố). Từ gốc sim cằn, những chuyến đò đêm giáp ranh tới hình ảnh những bà mẹ, người vợ, người bộ đội lunh linh trong âm vang điệu lý điệu chèo, đều còn khắc đậm trong thơ anh. Nhà thơ cảm nhận những thứ ấy bằng tất cả giác quan bén nhạy cảm của mình: Gió thổi dài ẩm ướt về khuya/ Con sóng nói nhịp chèo cũng nói/… Đêm giáp ranh có cái gì đầm đậm/ Ở đầu môi, ở trong tóc, khắp làn da (Chuyến đò đêm giáp ranh). Cả một mùi hương thoang thoảng, một làn gió thoáng nhẹ qua, một vầng mây lãng đãng trong không gian cũng đủ cho thi sĩ những vần thơ đẹp và gợi cảm: Bỗng nhận ra hương ổi/ Phả vào ngọn gió se/ Gió chùng chình qua ngõ/ Hình như thu đã về/… Có đám mây mùa hạ/ vắt nửa mình sang thu (Sang thu). Lời thơ dung dị mà chọn lọc, ở việc mô tả cảnh thu, dường như Hữu Thỉnh đã thể hiện một bút pháp sáng tạo trong thi tứ, thi cảnh và thi nhạc không có chút tương quan nào với một không gian mùa thu quá ư nhàn nhã trong Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh của Nguyễn Khuyến (1835-1909), một thu ngơ ngác bàng quan trong Tiếng thu của Lưu Trọng Lư (1912-1991), hay những mùa thu buồn bã thê lương trong Cảm thu, tiễn thu của Tản Đà (1889-1939), và Đây mùa thu tới của Xuân Diệu (1916-1985).

Từ trong bối cảnh thiên nhiên trữ tình thân quen của quê hương, bằng tất cả tấm lòng yêu tổ quốc, nhà thơ đã bộc lộ phẩm cách trong sáng cao đẹp của người chiến sĩ cách mạng. Ở nhà thơ Hữu Thỉnh, cảm hứng lớn chủ đạo trong thơ anh bắt nguồn từ lòng yêu tổ quốc, nhân dân và thế hệ những người cầm súng thời chống Mỹ. Hữu Thỉnh trung thực trong những lời thơ giản dị mà chân thành như một tình tự với gia đình và quê hương – một tuyên ngôn cho chính mình: Còn ao ước nào hơn/ Tự do và đoàn tụ/ Vào rừng lấy mật và đẵn gỗ/ Thương mẹ và yêu em/ Còn hạnh phúc nào hơn/ Tổ quốc . Từ đó, Hữu Thỉnh tạc nên một hình tượng dân tộc Việt Nam bất tử: Nhân dân/ Vẫn nguyên vẹn nhân dân/ Rằng hạt lựu vẫn không cam đồng hóa (Đường tới thành phố)Đọc thơ Hữu Thỉnh, ta thấy anh không nói nhiều về Đảng và Bác Hồ vì hai hình tượng cao quý này đã thành một hiện thực lịch sử ngự sẵn từ lâu nơi tim óc của chiến sĩ và mọi người dân Việt Nam qua suốt quá trình đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.

Bài thơ “Trên một chiếc xe tăng” của thi sĩ Hữu Thỉnh với nội dung tiêu biểu cho một nét đẹp chân dung anh bộ đội xe tăng – thiết giáp nói riêng và người chiến sĩ quân đội nhân dân Việt Nam nói chung. Bài thơ nổi tiếng này được nhạc sĩ Doãn Nho phổ thành ca khúc, lấy câu thơ đầu bài thơ làm tên bản nhạc: Năm anh em trên một chiếc xe tăng, được trình bày họp ca nhiều lần trên làn sóng đài Tiếng nói Việt Nam và đài phát thanh Sài Gòn những năm sau ngày giải phóng). Với 20 câu thơ (verses) nằm trong 5 khổ thơ (strophes) mỗi khổ 4 câu, tổng cộng là 20 câu, bài thơ Trên một chiếc xe tăng là một sáng tạo bằng văn vần khá ấn tượng về tứ thơ và nghệ thuật. Bắt nguồn từ một cảm hứng đột xuất qua hiện thực cuộc sống chiến đấu, nhà thơ như chỉ muốn quay lại những xen (scene) sinh động mà vô cùng cảm động của năm anh chiến sĩ xe tăng trong thực tế giáp mặt đấu tranh sống chết với kẻ thù. Câu mở bài ở khổ đầu bài thơ dễ dàng và chớp nhoáng như một lời báo cáo chứ không có dụng ý làm thơ, nhưng nhà thơ đã tạo ngạc nhiên khá hứng thú cho người đọc ở các câu sau khi tác giả sử dụng liên tiếp hai lần tu từ: phép tỉ (so sánh) như…, như: Năm anh em trên một chiếc xe tăng/ Như năm bông hoa nở cùng một cội/ Như năm ngón tay trên một bàn tay. Hình tượng ví von thật khéo khi nhà thơ chọn hoa và những ngón tay cùng trên một bàn tay. Bởi vì hoa là biểu tượng cao nhất của vẻ đẹp nhiên nhiên và những ngón tay trên một bàn tay muốn ám chỉ tính cách quan trọng và mối liên hệ hữu cơ giữa từng bộ phận ngón tay trên cùng một bàn tay của con người, mất đi một thành phần ngón tay trong đó tức là giảm đi không ít hiệu xuất hoạt động. Đến câu thứ tư khổ một, ta đã thấy rõ được hành động cương quyết biểu lộ đức tính đồng lòng đoàn kết sát sao đáng ca ngợi giữa các chiến sĩ trên xe tăng: Đã xung trận cả năm người như một.

Đã là chiến sĩ cách mạng, dù tính nết có khác nhau, anh em vẫn coi nhau như huynh đệ ruột rà, khi buồn vui anh em biết thông cảm chia sớt, san sẻ cùng nhau: …Nết ăn ở người thì lạnh nóng/ Khi đã hát hòa cùng một giọng/ Một người đau tất cả quên ăn. Tác giả chỉ muốn trần thuật sự việc nên qua hai khổ thơ đầu, người đọc thấy rõ bài thơ có hình thái thơ mới (8 chữ) nhưng có những câu lại chỉ có 7 chữ: câu 6,7 và 8. Về vần thì duy nhất chỉ có một vần trắc: nóng/ giọng ở cuối câu 6 và 7 dù loại vần này ít khi gặp trong bài thơ. Phong cách thơ mang tính dân gian, tính cách, tình cảm anh em chiến sĩ thể hiện khiến ta nhớ đến các câu tục ngữ, thành ngữ: Một người vì mọi người/ Mọi người vì một người  Một con ngựa đau, cả tàu không ăn cỏ. Không phải ruột thịt, cũng không đợi đến cùng một quê quán, tất cả năm anh em cùng chung một lý tưởng, một chí hướng, thì vì màu cờ, cả năm quả tim như một, nhất loạt xông lên diệt thù, với tinh thần quyết chiến quyết thắng đem độc lập, quang vinh về cho tổ quốc: Năm anh em mỗi đứa một quê/ Đã lên xe là cùng một hướng/ Trước quân thù nhất loạt xông lên// Năm anh em mang năm cái tên/ Đã lên xe không còn tên riêng nữa/ Trên tháp pháo một ngôi sao màu lửa/ Năm quả tim một nhịp dập dồn. Vẫn những câu thơ bảy chữ, tám chữ xen nhau và một vần trắc duy nhất : Nửa/ lửa có vẻ như tác giả dụng ý tạo cho hơi thơ được tư do, khoe khoắn để chỉ ý chí cương quyết, tinh thần chiến thắng của anh em chiến sĩ. Riêng cụm từ ngôi sao màu lửa là một hình tượng đẹp kỳ vĩ, mang tính trí tuệ của nhà thơ trong việc sử dụng  sáng tạo từ ngữ. Có sẵn lý tưởng chân chính cao đẹp và ý chí chiến đấu sắt thép, người chiến sĩ xe tăng tiêu biểu cho quân đội anh hùng của nhân dân Việt Nam đã có con đường thênh thang màu đỏ phía trước, đã có màu rừng xanh bạt ngàn hy vọng, chiến thắng của dân tộc tin tưởng sẽ đến ở một ngày mai không xa: Một con đường đất đỏ như son / Một màu rừng xanh bạt ngàn hy vọng/ Một ý chí bay ra đầu ngọn sóng/ Một niền tin nghiến nát mọi quân thù. Con đường ‘đất đỏ như son’ là con đường chiến thắng tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. ‘Màu rừng xanh bạt ngàn’ là màu hy vọng tổ quốc độc lập tự do được Hữu Thỉnh chọn dùng trong khổ cuối bài thơ đã làm tăng thêm ý nghĩa tích cực của chủ đề tư tưởng bài thơ Trên một chiếc xe tăng. Ở nhiều bài thơ khác, nhà thơ Hữu Tỉnh  biểu lộ độ lắng đọng của tư duy và nét mới mẻ cách tân trong phong cách diễn đạt bằng thể thơ mới 8 chữ phóng khoáng. Chẳng hạn: Đảo nhỏ quá nói một câu là hết/ Có gì đâu chỉ cát với chim thôi (Trường ca biển); Gió không phải là roi mà vách núi phải mòn/ Em không phải là chiều mà nhuộm anh đến tím (Thơ viết ở biển).

Tóm lại, trong đội ngũ những nhà thơ thời kỳ chống Mỹ, bên cạnh Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ, Song Hảo, Lâm Thị Mỹ Dạ… đa phần không có mặt nơi tiền tuyến, Hữu Thỉnh chính thức là một nhà thơ – chiến sĩ tài hoa xuất sắcnổi trội từng đối diện với kẻ thù nơi trận mạc. Do vậy, thơ anh chứa đựng được cái nồng độ nghĩ suy cô đọng cùng chiều sâu cảm xúc của người chiến sĩ – nghệ sĩ thể hiện qua nhiều bài thơ, câu thơ hay giàu chất trí tuệ, có giá trị nghệ thuật, khả dĩ chinh phục được công chúng thích đọc thơ. Ngày nay, trong hoàn cảnh nhân dân ta thực sự được hưởng độc lập tự do của một đất nước hòa bình từ lâu đã lặng im tiếng súng, mỗi lần người yêu thơ có dịp nhắc đến Hữu Thỉnh, ai cũng thích thú có cảm giác như được thoảng nghe lại văng vẳng đâu đây âm vang giai điệu trầm hùng bài hát “Năm anh em trên một chiếc xe tăng” được phổ từ bài thơ nổi tiếng “Trên một chiếc xe tăng” của nhà thơ - chiến sĩ Hữu Thỉnh.

                                                                                         30. 04. 2024

                                                                                                       N.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Chính Nguyễn Văn Mạnh đã tự làm sáng con đường dấn thân phụng sự văn nghiệp của mình
Bài viết của nhà thơ Phạm Trung Tín về tiểu thuyết Đường sáng
Xem thêm
Văn học mùa Giáng sinh
Khi Charles Dickens bắt đầu viết cuốn sách khiến tên tuổi của ông trở nên bất tử là lúc ông đang rơi vào khoảnh khắc bất hạnh và khó khăn nhất của cuộc đời mình. Ông mệt mỏi, lo lắng. Ông phải nuôi sống một gia đình lớn mà nợ nần ngày càng tăng và nỗi sợ về việc không thể tái tạo những thành công trong quá khứ. Những tiểu thuyết cuối cùng của ông đã không bán chạy như ông hy vọng. Độc giả dường như đang rời đi, bỏ rơi ông. Mà thời gian còn lại không nhiều.
Xem thêm
Cẩm nang nhỏ có giá trị để đi vào thế giới của sách
Khác với phần lớn các sách trước đó về phương pháp đọc sách hiệu quả còn nặng về hàn lâm, cuốn “ Đọc sách, điểm sách” của Nguyễn Ngọc Sơn là đóng góp kịp thời cho dòng sách này, dẫn dắt độc giả với những bước đi đầu tiên, từ đơn giản đến phức tạp.
Xem thêm
Phê bình như là tự truyện – Tiểu luận của Hoàng Đăng Khoa
Tín niệm phê bình văn học cũng là một dạng tự truyện rất gần với tinh thần của các phương pháp phê bình hiện đại như phê bình hiện tượng học, diễn ngôn học văn chương, hay mĩ học tiếp nhận – nơi chủ thể đọc/viết luôn hiện diện trong chính thao tác diễn giải văn bản. Dù vô tình hay hữu ý, mỗi bài phê bình đều là một “tấm gương một chiều” phản chiếu cái tôi nội cảm, cái chủ kiến, thiên kiến của người viết. Qua văn bản phê bình, người ta không chỉ thấy một hiện tượng văn học được phê bình, mà còn thấy cả một con người – đang thực hành sống, đọc, suy tư, tìm gặp tha nhân và bản thể.
Xem thêm
Đọc thơ của một luật sư
Tôi đã được đọc tập thơ đầu tay của Thái Hưng với cái tên rất thơ: ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024; Rồi một số bài in chung trong tập: Bằng lăng tím lối Mễ Trì cùng với nhiều tác giả khác, lại đôi khi thấy thơ anh trên báo, chí, đậm nhất là tờ Thời báo Văn học nghệ thuật giới thiệu chân dung tác giả. Đọc qua, chợt có cảm nhận nhẹ nhàng, song ngẫm ngợi, thấy chất nhân tình thấm đẫm, cuốn hút. Chắc chắn phải là giọng của người đã từng đi qua nhiều mùa thu xao xác lá...
Xem thêm
Thơ là linh dược
Tôi nhận được tập thơ Cả những ngày đã quên của tác giả Trần thị Thuỳ Vy, sinh năm 1975, quê Duy Xuyên Quảng Nam. Tập thơ dày 115 trang, khổ 18x18, bìa cứng giấy đẹp, trình bày rất trang nhã, do Nhà XB Hội Nhà Văn ấn hành tháng 10 năm 2024. Cầm tập thơ lên tôi đọc đi đọc lại đôi lần, thấy hay hay, cái dễ nhận ra là tâm tư tình cảm của tác giả đã gởi trọn vào đây! Về quê hương về suy tư, về cuộc sống đã được tác giả biến hoá thành những con chữ có cánh bay xa, biết nói, biết giao tiếp với mọi người. Trong đó, sự cảm nhận rất mới với Thơ.
Xem thêm
Sắc thái Thời gian và cảm xúc Hoài niệm trong tập thơ Khi tâm hồn đầy nắng của Biện Tiến Hùng
Tập thơ Khi tâm hồn đầy nắng của Biện Tiến Hùng không chỉ là một tuyển tập gồm 107 bài thơ, mà còn là một tấm gương phản chiếu sinh động thế giới nội tâm phong phú và sâu lắng của thi sĩ. Bằng một giọng điệu trữ tình, chân thành và đượm màu ký ức, Biện Tiến Hùng đã khéo léo kiến tạo một không gian nghệ thuật nơi thiên nhiên, thời gian và con người hòa quyện vào nhau, tạo nên một bản giao hưởng cảm xúc đa tầng, một dòng chảy liên hồi của cảm xúc. Sức hấp dẫn của tập thơ nằm ở cách tác giả nhân hóa thời gian và biến hoài niệm thành chất liệu thi ca, qua đó không chỉ tái hiện một khung cảnh đã qua mà còn khơi gợi những nỗi niềm chung của độc giả về sự phù du của đời sống của kiếp người trong cõi nhân sinh.
Xem thêm
Cái “ngông” của Nguyễn Công Trứ
Thượng Uy Viễn – Nguyễn Công Trứ là một hiện tượng đặc biệt trong thời kỳ trung đại. Đời ông đầy giai thoại, mà giai thoại nào cũng cho thấy bản lĩnh sống, trí tuệ, triết lý nhân văn sâu sắc nhưng cũng rất hóm hỉnh, bình dân…
Xem thêm
Hơi thở cuộc sống trong thơ Nguyễn Kim Thanh
Trong hành trình sáng tạo của mỗi nhà văn đến với văn chương thì “ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học” để làm nên tác phẩm. Ngôn ngữ trong thơ (trữ tình), truyện (tự sự) và kịch (kịch bản văn học) đều có sự giống và khác nhau. Cùng với sự đam mê, năng khiếu, và “thiên phú” (trời cho) thì mỗi tác giả có sự thành công ở những thể loại khác nhau. Có người sáng tác thơ hay nhưng viết truyện lại dở và ngược lại có người viết truyện hay nhưng thơ thì không ra gì. Lại có người thành công ở nhiều thể loại: thơ, truyện, kịch, ký, lý luận phê bình. Nhà văn Nguyễn Kim Thanh là cây bút chuyên viết truyện ngắn, tiểu thuyết, tản văn, bút ký và đã xuất bản bốn tác phẩm văn xuôi. Nhưng nay chị lại “thử sức” sang thể loại thơ với tập thơ đầu tay “Giọt nước mắt thủy tinh” có 30 bài.
Xem thêm
Nỗi buồn chiến tranh - và cách nhìn về việc đổi mới dạy học văn trong nhà trường
Vừa qua, tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của nhà văn Bảo Ninh được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vinh danh là một trong 50 tác phẩm tiêu biểu của văn học Việt Nam 50 năm qua đã tạo nên nhiều tranh luận trái chiều. Nhiều ý kiến cũng đã đặt ra vấn đề là có nên đưa tác phẩm này vào sách giáo khoa Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 hay không. Là những người đã từng học văn qua nhiều lần thay sách và là những người đang dạy môn văn nhiều năm trong nhà trường phổ thông, chúng tôi có một số suy nghĩ trong cách nhìn về việc đổi mới dạy học văn trong nhà trường về Nỗi buồn chiến tranh với tính chất là “những người trong cuộc”.
Xem thêm
Văn học đương đại Trung Quốc từ lăng kính các giải thưởng Hội Nhà văn (2015 - 2025)
Nhìn chung, hệ thống giải thưởng Hội Nhà văn Trung Quốc giai đoạn 2015 - 2025 đã làm nổi bật vai trò “điều hướng” và “chuẩn hóa” của mình trong việc thiết lập các tiêu chí thẩm mĩ, định hình phong cách sáng tác và thúc đẩy tương tác giữa văn học - học thuật - công chúng. Điều này cho thấy một mô hình văn học với định hướng chiến lược - kết hợp giữa nhu cầu nghệ thuật, định hướng chính sách và cơ chế truyền thông - đang ngày càng chiếm vị trí trung tâm trong đời sống văn hóa đương đại Trung Quốc.
Xem thêm
Chân dung tâm hồn của nhà thơ Nguyên Bình qua “Mật ngữ trắng đen”
“Mật ngữ trắng đen” (NXB Thuận Hóa, 2025) của nhà thơ Nguyên Bình, hội viên Hội Nhà văn TP.HCM, là một thế giới thi ca đầy suy tưởng, nơi ánh sáng và bóng tối, mộng mị và hiện thực, nỗi đau và niềm yêu thương luôn song hành, soi chiếu vào nhau. Tựa như cái tên Mật ngữ trắng đen, thơ Nguyên Bình gợi cảm giác về sự đối lập, nhưng không phải để phân định ranh giới thiện ác, buồn vui, mà để khai mở một cõi cảm xúc và nhận thức đa chiều về tình yêu, cuộc sống, con người. Ở mỗi bài thơ, tập thơ của anh đều ẩn chứa một lớp nghĩa nhân sinh sâu sắc.
Xem thêm
Quan điểm của Nguyễn Đình Chiểu đối với Phật giáo
Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) là một nhà Nho tuy đỗ đạt không cao nhưng cụ là một nhà Nho đức nghiệp, một con người trong ba tư cách: một nhà thơ, một thầy giáo và một thầy thuốc suốt đời vì dân vì nước.
Xem thêm
Thơ Nguyễn Bình Phương – Tiểu luận của Thiên Sơn
Việc làm thơ của Nguyễn Bình Phương như một sự bừng lóe của linh giác. Mỗi lần cầm bút viết là khám phá cái thế giới lạ lùng, huyền bí như thế giới của giấc mơ. Mà làm thơ, như anh, chính là đang theo đuổi những giấc mơ. Như bước vào một cảnh giới kỳ lạ, với cách nhìn, cảnh cảm và cách nghĩ khác, xa lạ với hầu hết mọi người.
Xem thêm
Văn học và dân tộc như một vấn đề học thuật
Kết nối ngôn ngữ, văn học với sự tồn tại một dân tộc đã là một thực hành phổ biến trong đời sống tri thức ở châu Âu từ nửa đầu thế kỉ XVIII. Một dân tộc là lí tưởng khi nó thống nhất tất cả những người nói cùng một ngôn ngữ trong một lãnh thổ chung, từ đó tạo thành một quốc gia - dân tộc. Văn học, với tư cách là hiện thân rõ ràng và lâu đời nhất của ngôn ngữ một dân tộc, có vai trò như là yếu tố ràng buộc và thống nhất. Nhà phê bình văn học Hoa Kì René Wellek viết: “Văn học vào thế kỉ XVIII bắt đầu được cảm thấy như là tài sản quốc gia, như là một sự thổ lộ tâm trí dân tộc, như là một phương tiện cho quá trình tự xác định của dân tộc”(1).
Xem thêm
Nhà văn Thomas Mann: Bậc thầy của mâu thuẫn
Xuất bản lần đầu vào năm 1924, Núi thần nhanh chóng trở thành cuốn sách bán chạy và được cho là tiểu thuyết tiếng Đức có ảnh hưởng bậc nhất thế kỉ 20. Nhưng ít ai biết nó được viết ra trong sự gián đoạn của chiến tranh và thay đổi của thời đại.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” - Khúc sử thi đi qua căn bếp có mùi nhang
Bài đăng trên Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, số 12/2025.
Xem thêm
Ngọn gió chiều thổi qua “Nắng dậy thì”
Dòng thời gian sáng, trưa, chiều, tối đã chảy vào văn thơ bao thời theo cách riêng và theo cái nhìn của mỗi người cầm bút. Nguyễn Ngọc Hạnh đã thả cách nhìn về phía thời gian qua những sáng tác của ông. Thâm nhập vào không gian thơ trong Nắng dậy thì*, bạn đọc sẽ nhận thấy cảm thức thời gian của một thi sĩ ở tuổi đang chiều.
Xem thêm
Văn chương Nobel và thông điệp nhân văn
“Không chỉ ngày nay loài người mới khốn khổ? Chúng ta luôn luôn khốn khổ. Sự khốn khổ gần như đã trở thành bản chất của con người (Osho, Chính trực, Phi Mai dịch, Nxb Lao động, 2022, tr.14). Thế giới ngày càng bất an, con người ngày càng mỏng mảnh. Sức chống cự của con người giảm thiểu trước quá nhiều biến động: chiến tranh, dịch bệnh, thiên tai; đứt gãy cộng đồng, sự đơn độc, cái chết. Vì con người, dòng văn học chấn thương ra đời. Cũng vì con người, xu hướng văn học chữa lành hình thành vào thế kỉ XXI.
Xem thêm
Những nét đẹp văn hóa truyền thống Việt Nam trong “Mùa lá rụng trong vườn” của Ma Văn Kháng
Trong hành trình trở về cội nguồn, Ma Văn Kháng đã dựng nên nhiều chân dung cao đẹp tiêu biểu cho truyền thống ân nghĩa thuỷ chung của dân tộc. Nhưng nổi bật giữa bản đồng ca trong trẻo ấy là nhân vật chị Hoài - một con người coi “cái tình, cái nghĩa” là quý nhất. Hình ảnh chị Hoài trở về thăm và ăn tết với gia đình chồng cũ vào chiều ba mươi tết đã gây xúc động lòng người, để lại nhiều tình cảm đẹp đẽ cho bao thế hệ độc giả.
Xem thêm