TIN TỨC

Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-06-16 22:02:39
mail facebook google pos stwis
632 lượt xem

XUÂN TRƯỜNG

Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.

Thế mà tâm hồn ông vẫn luôn hướng về cội nguồn, quê hương: bến nước, cây đa, con đò, dòng sông tuổi thơ, những bóng hình cô thôn nữ mơ hồ, ẩn hiện theo năm tháng, theo mùa, theo những đêm trăng, những ngày hội. Tất cả đã làm nên một Nguyễn Vĩnh Bảo của thơ – thơ viết cho quê hương, cho cội nguồn. Anh đã rót trầm tư về đâu mà cơn mưa chiều vơi đi nỗi buồn, để lại mình anh cô đơn ngồi đếm giận hờn? Anh thả hồn theo những bong bóng mưa trôi trên sông, và lại thấy tâm hồn khỏe nhẹ, bình yên:
 

Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo và tập thơ mới của mình.


"Lặng lẽ rót đầy trầm tư
Cơn mưa chiều đã hình như hết buồn
Một nỗi nhớ, một cô đơn
Điểm danh tất cả giận hờn còn không
Bong bóng trôi giữa mênh mông
Nhắm mắt lại thấy trong lòng bình yên"

(Bài Sông Chanh 97)

Con sông đã mơ hồ chảy vào lòng Nguyễn Vĩnh Bảo, cơn mưa bong bóng trôi giữa mênh mông vô định, mà nhà thơ nhắm mắt lại để viết sông trong một cõi mơ. Chính cái hình tượng mơ hồ ấy đã khiến câu thơ chạm đến cái siêu thực, giàu chất thơ. Sông Chanh có tự bao giờ thì không biết, nhưng khi Nguyễn Vĩnh Bảo biết nhìn thì đã thấy sông trước mặt. Con sông đã nuôi nấng quê hương, chắt chiu từng giọt phù sa cho ruộng đồng, làng mạc; nó gắn bó với làng quê như bóng với hình, từ bao ngàn đời nay, và nhất là đã chảy tràn trong trí nhớ Nguyễn Vĩnh Bảo một thời ấu thơ êm đềm. Đôi khi, con sông cũng dùng dằng lo âu về những thăng trầm của miền đất mà nhà thơ đã sinh ra. Có thể nói rằng sông Chanh là một phông nền rộng lớn để Nguyễn Vĩnh Bảo vẽ nên 101 bức tranh quê hương bằng thơ, trong đó cảnh quê được lồng ghép với tình quê, mà cụ thể là tình sông Chanh. Qua những câu chữ của anh, nhẹ nhàng, thoát thai, mơ hồ hình tượng, xao xác âm thanh, khắc họa trong lòng những người con Hải Phòng xa xứ một tâm cảnh đầy nhớ nhung và lưu luyến khi chưa có dịp quay về. Con sông đã chở những huyền cảm của nông quê, giữa đôi bờ ký ức của Nguyễn Vĩnh Bảo, những hoài niệm lưu đày một kiếp nhớ thương:

"Nghe quen tiếng sóng sông Chanh
Một chiều nỗi nhớ tẻ thành làm đôi
Thương em ngày ấy với tôi
Dưới trăng hai đứa rối bời nhìn nhau
Nước trôi thao thiết sông sâu
Tuổi xanh chôn chặt buồn đau kiếp này"

(Bài Sông Chanh 82)

Thơ lục bát là nơi lưu giữ tâm hồn dân tộc, Nguyễn Vĩnh Bảo dùng thể thơ này để chuyển tải cảm xúc về cội nguồn, về quê hương, những nỗi niềm tự sự – điều ấy thật phù hợp. Tình sông, tình người quyện vào nhau đến vô tận, câu sáu và câu tám cứ móc xích vào nhau bằng vần điệu, giúp Nguyễn Vĩnh Bảo tha hồ lãng du với sông quê tận góc biển chân trời thi ca. Ở tập thơ này, tôi thấy thơ lục bát của tác giả có nhiều ý lạ, tạo ra hình tượng và âm thanh mơ hồ. Cõi mơ và cõi thực đã làm nên cõi thơ Nguyễn Vĩnh Bảo:

"Vịn câu thơ vội bước vào
Bên trong sa mạc cồn cào rụng trôi...
Muốn tìm một chỗ nghỉ ngơi
Biết đâu nhận diện chân trời xa xăm
Lời nguyền võng cả vầng trăng
Nghe đêm thâu thấu ruỗng lòng trần ai"

(Bài Sông Chanh 83)

"Lời nguyền võng cả vầng trăng / Nghe đêm thâu thấu ruỗng lòng trần ai" – nhà thơ có ẩn ý, ẩn tứ gì đây? Những cặp lục bát mới đọc lên nghe rất êm tai, hình tượng nhẹ nhàng, âm thanh xao xác, nhưng ta khó lòng đi hết chiều sâu của nó. Con sông Chanh như đắm như mơ trong tâm hồn Nguyễn Vĩnh Bảo, một dòng trôi thơ mộng huyền diệu. Mỗi khi đi xa, nhà thơ gửi vào đó những nỗi niềm thương yêu, lưu luyến, khát khao, hẹn hò; mỗi khi quay về, anh tự sự trước sông những bôn ba gian khó, những cô đơn, những muộn phiền, được mất, những va đập của hành trình, những lòng người dâu bể. "Ngày Hai Tháng Tám" là một nguyên mẫu của tuổi xưa, như chiếc đinh thời gian đã đóng vào hành trình vội vã của Nguyễn Vĩnh Bảo để rồi nhẹ nhàng nuối tiếc, hờn trách xa xôi:

"Rạ rơm gần lửa bén dân
Còn tôi xa đến ngàn lần trách ai?
Tôi đi bỏ lại tương lai
Bờ đê cỏ dại mọc dài ngổn ngang
Ngày hai tháng Tám bẽ bàng
Vá trời đắp đổi muộn màng tuổi xuân"

(Sông Chanh 10)

Trong một trăm lẻ một bài thơ "Sông Chanh", có nhiều bài tôi đọc lại nhiều lần, giống như đang đánh một ván cờ với tác giả, cố lên vài nước để giải mã một phần nào nỗi lòng của ông với sông Chanh. Con sông tuổi thơ thì ai cũng có, nhưng viết cùng một lúc một trăm lẻ một bài cho con sông quê thì tôi chưa thấy. Mỗi bài thơ như một khúc nhạc, kết nối thành một trường ca Sông Chanh, chảy vào lòng tác giả những hoài niệm, những trăn trở, những dấu yêu, giận hờn, những nỗi niềm trắc ẩn, những nhớ nhung mơ hồ không thể gọi thành tên. Đâu đây những hình bóng cũ giao thoa trên vùng kỷ niệm, khua động nhớ thương đổ dồn về dĩ vãng:

"Ánh mắt là của hôm nay
Nụ hôn là của những ngày xa xưa
Ước gì trở lại tuổi thơ
Cho tôi ôm cái dại khờ riêng em
Củ khoai đói bát cháo đêm
Chén trà chén rượu ấm êm vạn lần"

(Sông Chanh 9)

Những câu thơ viết trên khói sóng, mong manh, gợn vào xa thẳm, vọng về những âm thanh huyền hồ trôi dạt không có điểm tựa. Tôi thấy có gì đó hay hay trong câu chữ này, thể hiện bằng những ý lạ:

"Bóng tôi loang bóng trên sông
Xanh trong đáy mắt mênh mông chốn này
Gửi niềm thương bấy lâu nay
Có nghe lời nhắn nhủ ngày tháng xưa
Bỗng trời trở dạ đổ mưa
Lời không hẹn trước như thừa thãi tôi"

(Sông Chanh 18)

Tôi nhập tâm câu thơ thiệt là tình tứ, dễ thương của thi sĩ Nguyễn Bính: "Áo cài khuy bấm em làm khổ tôi" – một lời trách móc nhẹ nhàng mà sâu xa thăm thẳm. Nay hình tượng đẹp này lại xuất hiện trong thơ Nguyễn Vĩnh Bảo. Người tắm trên sông Chanh, cơ hồ như một người đẹp chim sa cá lặn, đã làm cho con sóng bối rối, khiến nhà thơ phải trách móc nhẹ nhàng:

"Đêm qua ai tắm sông Chanh
Để cho con sóng chòng chành khổ tôi
Cái mùi thơm của xa xôi
Bỗng dưng trở lại rối bời vào đêm
Phím đàn loạn nhịp rung lên
Bao nhiêu mê hoặc ướt mềm từng nhau..."

(Sông Chanh 27)

"Bao nhiêu mê hoặc ướt mềm từng nhau..." – câu này hay, vì giảm bớt liên từ nên câu thơ trở nên mạnh mẽ và vang lên. Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Tập "Sông Chanh Lục Bát" là tập thơ thứ tám của anh. Ở tập này, tôi thấy có nhiều thay đổi về bút pháp, dùng từ ngữ giàu hình tượng và âm thanh, giải mã được sự giao thoa giữa cái vô hạn của Sông và cái hữu hạn của đời người, để rồi quan tâm hướng đến môi trường sinh thái. Đó là ước vọng của thơ hôm nay.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm