TIN TỨC

Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-06-16 22:02:39
mail facebook google pos stwis
373 lượt xem

XUÂN TRƯỜNG

Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.

Thế mà tâm hồn ông vẫn luôn hướng về cội nguồn, quê hương: bến nước, cây đa, con đò, dòng sông tuổi thơ, những bóng hình cô thôn nữ mơ hồ, ẩn hiện theo năm tháng, theo mùa, theo những đêm trăng, những ngày hội. Tất cả đã làm nên một Nguyễn Vĩnh Bảo của thơ – thơ viết cho quê hương, cho cội nguồn. Anh đã rót trầm tư về đâu mà cơn mưa chiều vơi đi nỗi buồn, để lại mình anh cô đơn ngồi đếm giận hờn? Anh thả hồn theo những bong bóng mưa trôi trên sông, và lại thấy tâm hồn khỏe nhẹ, bình yên:
 

Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo và tập thơ mới của mình.


"Lặng lẽ rót đầy trầm tư
Cơn mưa chiều đã hình như hết buồn
Một nỗi nhớ, một cô đơn
Điểm danh tất cả giận hờn còn không
Bong bóng trôi giữa mênh mông
Nhắm mắt lại thấy trong lòng bình yên"

(Bài Sông Chanh 97)

Con sông đã mơ hồ chảy vào lòng Nguyễn Vĩnh Bảo, cơn mưa bong bóng trôi giữa mênh mông vô định, mà nhà thơ nhắm mắt lại để viết sông trong một cõi mơ. Chính cái hình tượng mơ hồ ấy đã khiến câu thơ chạm đến cái siêu thực, giàu chất thơ. Sông Chanh có tự bao giờ thì không biết, nhưng khi Nguyễn Vĩnh Bảo biết nhìn thì đã thấy sông trước mặt. Con sông đã nuôi nấng quê hương, chắt chiu từng giọt phù sa cho ruộng đồng, làng mạc; nó gắn bó với làng quê như bóng với hình, từ bao ngàn đời nay, và nhất là đã chảy tràn trong trí nhớ Nguyễn Vĩnh Bảo một thời ấu thơ êm đềm. Đôi khi, con sông cũng dùng dằng lo âu về những thăng trầm của miền đất mà nhà thơ đã sinh ra. Có thể nói rằng sông Chanh là một phông nền rộng lớn để Nguyễn Vĩnh Bảo vẽ nên 101 bức tranh quê hương bằng thơ, trong đó cảnh quê được lồng ghép với tình quê, mà cụ thể là tình sông Chanh. Qua những câu chữ của anh, nhẹ nhàng, thoát thai, mơ hồ hình tượng, xao xác âm thanh, khắc họa trong lòng những người con Hải Phòng xa xứ một tâm cảnh đầy nhớ nhung và lưu luyến khi chưa có dịp quay về. Con sông đã chở những huyền cảm của nông quê, giữa đôi bờ ký ức của Nguyễn Vĩnh Bảo, những hoài niệm lưu đày một kiếp nhớ thương:

"Nghe quen tiếng sóng sông Chanh
Một chiều nỗi nhớ tẻ thành làm đôi
Thương em ngày ấy với tôi
Dưới trăng hai đứa rối bời nhìn nhau
Nước trôi thao thiết sông sâu
Tuổi xanh chôn chặt buồn đau kiếp này"

(Bài Sông Chanh 82)

Thơ lục bát là nơi lưu giữ tâm hồn dân tộc, Nguyễn Vĩnh Bảo dùng thể thơ này để chuyển tải cảm xúc về cội nguồn, về quê hương, những nỗi niềm tự sự – điều ấy thật phù hợp. Tình sông, tình người quyện vào nhau đến vô tận, câu sáu và câu tám cứ móc xích vào nhau bằng vần điệu, giúp Nguyễn Vĩnh Bảo tha hồ lãng du với sông quê tận góc biển chân trời thi ca. Ở tập thơ này, tôi thấy thơ lục bát của tác giả có nhiều ý lạ, tạo ra hình tượng và âm thanh mơ hồ. Cõi mơ và cõi thực đã làm nên cõi thơ Nguyễn Vĩnh Bảo:

"Vịn câu thơ vội bước vào
Bên trong sa mạc cồn cào rụng trôi...
Muốn tìm một chỗ nghỉ ngơi
Biết đâu nhận diện chân trời xa xăm
Lời nguyền võng cả vầng trăng
Nghe đêm thâu thấu ruỗng lòng trần ai"

(Bài Sông Chanh 83)

"Lời nguyền võng cả vầng trăng / Nghe đêm thâu thấu ruỗng lòng trần ai" – nhà thơ có ẩn ý, ẩn tứ gì đây? Những cặp lục bát mới đọc lên nghe rất êm tai, hình tượng nhẹ nhàng, âm thanh xao xác, nhưng ta khó lòng đi hết chiều sâu của nó. Con sông Chanh như đắm như mơ trong tâm hồn Nguyễn Vĩnh Bảo, một dòng trôi thơ mộng huyền diệu. Mỗi khi đi xa, nhà thơ gửi vào đó những nỗi niềm thương yêu, lưu luyến, khát khao, hẹn hò; mỗi khi quay về, anh tự sự trước sông những bôn ba gian khó, những cô đơn, những muộn phiền, được mất, những va đập của hành trình, những lòng người dâu bể. "Ngày Hai Tháng Tám" là một nguyên mẫu của tuổi xưa, như chiếc đinh thời gian đã đóng vào hành trình vội vã của Nguyễn Vĩnh Bảo để rồi nhẹ nhàng nuối tiếc, hờn trách xa xôi:

"Rạ rơm gần lửa bén dân
Còn tôi xa đến ngàn lần trách ai?
Tôi đi bỏ lại tương lai
Bờ đê cỏ dại mọc dài ngổn ngang
Ngày hai tháng Tám bẽ bàng
Vá trời đắp đổi muộn màng tuổi xuân"

(Sông Chanh 10)

Trong một trăm lẻ một bài thơ "Sông Chanh", có nhiều bài tôi đọc lại nhiều lần, giống như đang đánh một ván cờ với tác giả, cố lên vài nước để giải mã một phần nào nỗi lòng của ông với sông Chanh. Con sông tuổi thơ thì ai cũng có, nhưng viết cùng một lúc một trăm lẻ một bài cho con sông quê thì tôi chưa thấy. Mỗi bài thơ như một khúc nhạc, kết nối thành một trường ca Sông Chanh, chảy vào lòng tác giả những hoài niệm, những trăn trở, những dấu yêu, giận hờn, những nỗi niềm trắc ẩn, những nhớ nhung mơ hồ không thể gọi thành tên. Đâu đây những hình bóng cũ giao thoa trên vùng kỷ niệm, khua động nhớ thương đổ dồn về dĩ vãng:

"Ánh mắt là của hôm nay
Nụ hôn là của những ngày xa xưa
Ước gì trở lại tuổi thơ
Cho tôi ôm cái dại khờ riêng em
Củ khoai đói bát cháo đêm
Chén trà chén rượu ấm êm vạn lần"

(Sông Chanh 9)

Những câu thơ viết trên khói sóng, mong manh, gợn vào xa thẳm, vọng về những âm thanh huyền hồ trôi dạt không có điểm tựa. Tôi thấy có gì đó hay hay trong câu chữ này, thể hiện bằng những ý lạ:

"Bóng tôi loang bóng trên sông
Xanh trong đáy mắt mênh mông chốn này
Gửi niềm thương bấy lâu nay
Có nghe lời nhắn nhủ ngày tháng xưa
Bỗng trời trở dạ đổ mưa
Lời không hẹn trước như thừa thãi tôi"

(Sông Chanh 18)

Tôi nhập tâm câu thơ thiệt là tình tứ, dễ thương của thi sĩ Nguyễn Bính: "Áo cài khuy bấm em làm khổ tôi" – một lời trách móc nhẹ nhàng mà sâu xa thăm thẳm. Nay hình tượng đẹp này lại xuất hiện trong thơ Nguyễn Vĩnh Bảo. Người tắm trên sông Chanh, cơ hồ như một người đẹp chim sa cá lặn, đã làm cho con sóng bối rối, khiến nhà thơ phải trách móc nhẹ nhàng:

"Đêm qua ai tắm sông Chanh
Để cho con sóng chòng chành khổ tôi
Cái mùi thơm của xa xôi
Bỗng dưng trở lại rối bời vào đêm
Phím đàn loạn nhịp rung lên
Bao nhiêu mê hoặc ướt mềm từng nhau..."

(Sông Chanh 27)

"Bao nhiêu mê hoặc ướt mềm từng nhau..." – câu này hay, vì giảm bớt liên từ nên câu thơ trở nên mạnh mẽ và vang lên. Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Tập "Sông Chanh Lục Bát" là tập thơ thứ tám của anh. Ở tập này, tôi thấy có nhiều thay đổi về bút pháp, dùng từ ngữ giàu hình tượng và âm thanh, giải mã được sự giao thoa giữa cái vô hạn của Sông và cái hữu hạn của đời người, để rồi quan tâm hướng đến môi trường sinh thái. Đó là ước vọng của thơ hôm nay.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm