- Lý luận - Phê bình
- Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Thế mà tâm hồn ông vẫn luôn hướng về cội nguồn, quê hương: bến nước, cây đa, con đò, dòng sông tuổi thơ, những bóng hình cô thôn nữ mơ hồ, ẩn hiện theo năm tháng, theo mùa, theo những đêm trăng, những ngày hội. Tất cả đã làm nên một Nguyễn Vĩnh Bảo của thơ – thơ viết cho quê hương, cho cội nguồn. Anh đã rót trầm tư về đâu mà cơn mưa chiều vơi đi nỗi buồn, để lại mình anh cô đơn ngồi đếm giận hờn? Anh thả hồn theo những bong bóng mưa trôi trên sông, và lại thấy tâm hồn khỏe nhẹ, bình yên:

Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo và tập thơ mới của mình.
"Lặng lẽ rót đầy trầm tư
Cơn mưa chiều đã hình như hết buồn
Một nỗi nhớ, một cô đơn
Điểm danh tất cả giận hờn còn không
Bong bóng trôi giữa mênh mông
Nhắm mắt lại thấy trong lòng bình yên"
(Bài Sông Chanh 97)
Con sông đã mơ hồ chảy vào lòng Nguyễn Vĩnh Bảo, cơn mưa bong bóng trôi giữa mênh mông vô định, mà nhà thơ nhắm mắt lại để viết sông trong một cõi mơ. Chính cái hình tượng mơ hồ ấy đã khiến câu thơ chạm đến cái siêu thực, giàu chất thơ. Sông Chanh có tự bao giờ thì không biết, nhưng khi Nguyễn Vĩnh Bảo biết nhìn thì đã thấy sông trước mặt. Con sông đã nuôi nấng quê hương, chắt chiu từng giọt phù sa cho ruộng đồng, làng mạc; nó gắn bó với làng quê như bóng với hình, từ bao ngàn đời nay, và nhất là đã chảy tràn trong trí nhớ Nguyễn Vĩnh Bảo một thời ấu thơ êm đềm. Đôi khi, con sông cũng dùng dằng lo âu về những thăng trầm của miền đất mà nhà thơ đã sinh ra. Có thể nói rằng sông Chanh là một phông nền rộng lớn để Nguyễn Vĩnh Bảo vẽ nên 101 bức tranh quê hương bằng thơ, trong đó cảnh quê được lồng ghép với tình quê, mà cụ thể là tình sông Chanh. Qua những câu chữ của anh, nhẹ nhàng, thoát thai, mơ hồ hình tượng, xao xác âm thanh, khắc họa trong lòng những người con Hải Phòng xa xứ một tâm cảnh đầy nhớ nhung và lưu luyến khi chưa có dịp quay về. Con sông đã chở những huyền cảm của nông quê, giữa đôi bờ ký ức của Nguyễn Vĩnh Bảo, những hoài niệm lưu đày một kiếp nhớ thương:
"Nghe quen tiếng sóng sông Chanh
Một chiều nỗi nhớ tẻ thành làm đôi
Thương em ngày ấy với tôi
Dưới trăng hai đứa rối bời nhìn nhau
Nước trôi thao thiết sông sâu
Tuổi xanh chôn chặt buồn đau kiếp này"
(Bài Sông Chanh 82)
Thơ lục bát là nơi lưu giữ tâm hồn dân tộc, Nguyễn Vĩnh Bảo dùng thể thơ này để chuyển tải cảm xúc về cội nguồn, về quê hương, những nỗi niềm tự sự – điều ấy thật phù hợp. Tình sông, tình người quyện vào nhau đến vô tận, câu sáu và câu tám cứ móc xích vào nhau bằng vần điệu, giúp Nguyễn Vĩnh Bảo tha hồ lãng du với sông quê tận góc biển chân trời thi ca. Ở tập thơ này, tôi thấy thơ lục bát của tác giả có nhiều ý lạ, tạo ra hình tượng và âm thanh mơ hồ. Cõi mơ và cõi thực đã làm nên cõi thơ Nguyễn Vĩnh Bảo:
"Vịn câu thơ vội bước vào
Bên trong sa mạc cồn cào rụng trôi...
Muốn tìm một chỗ nghỉ ngơi
Biết đâu nhận diện chân trời xa xăm
Lời nguyền võng cả vầng trăng
Nghe đêm thâu thấu ruỗng lòng trần ai"
(Bài Sông Chanh 83)
"Lời nguyền võng cả vầng trăng / Nghe đêm thâu thấu ruỗng lòng trần ai" – nhà thơ có ẩn ý, ẩn tứ gì đây? Những cặp lục bát mới đọc lên nghe rất êm tai, hình tượng nhẹ nhàng, âm thanh xao xác, nhưng ta khó lòng đi hết chiều sâu của nó. Con sông Chanh như đắm như mơ trong tâm hồn Nguyễn Vĩnh Bảo, một dòng trôi thơ mộng huyền diệu. Mỗi khi đi xa, nhà thơ gửi vào đó những nỗi niềm thương yêu, lưu luyến, khát khao, hẹn hò; mỗi khi quay về, anh tự sự trước sông những bôn ba gian khó, những cô đơn, những muộn phiền, được mất, những va đập của hành trình, những lòng người dâu bể. "Ngày Hai Tháng Tám" là một nguyên mẫu của tuổi xưa, như chiếc đinh thời gian đã đóng vào hành trình vội vã của Nguyễn Vĩnh Bảo để rồi nhẹ nhàng nuối tiếc, hờn trách xa xôi:
"Rạ rơm gần lửa bén dân
Còn tôi xa đến ngàn lần trách ai?
Tôi đi bỏ lại tương lai
Bờ đê cỏ dại mọc dài ngổn ngang
Ngày hai tháng Tám bẽ bàng
Vá trời đắp đổi muộn màng tuổi xuân"
(Sông Chanh 10)
Trong một trăm lẻ một bài thơ "Sông Chanh", có nhiều bài tôi đọc lại nhiều lần, giống như đang đánh một ván cờ với tác giả, cố lên vài nước để giải mã một phần nào nỗi lòng của ông với sông Chanh. Con sông tuổi thơ thì ai cũng có, nhưng viết cùng một lúc một trăm lẻ một bài cho con sông quê thì tôi chưa thấy. Mỗi bài thơ như một khúc nhạc, kết nối thành một trường ca Sông Chanh, chảy vào lòng tác giả những hoài niệm, những trăn trở, những dấu yêu, giận hờn, những nỗi niềm trắc ẩn, những nhớ nhung mơ hồ không thể gọi thành tên. Đâu đây những hình bóng cũ giao thoa trên vùng kỷ niệm, khua động nhớ thương đổ dồn về dĩ vãng:
"Ánh mắt là của hôm nay
Nụ hôn là của những ngày xa xưa
Ước gì trở lại tuổi thơ
Cho tôi ôm cái dại khờ riêng em
Củ khoai đói bát cháo đêm
Chén trà chén rượu ấm êm vạn lần"
(Sông Chanh 9)
Những câu thơ viết trên khói sóng, mong manh, gợn vào xa thẳm, vọng về những âm thanh huyền hồ trôi dạt không có điểm tựa. Tôi thấy có gì đó hay hay trong câu chữ này, thể hiện bằng những ý lạ:
"Bóng tôi loang bóng trên sông
Xanh trong đáy mắt mênh mông chốn này
Gửi niềm thương bấy lâu nay
Có nghe lời nhắn nhủ ngày tháng xưa
Bỗng trời trở dạ đổ mưa
Lời không hẹn trước như thừa thãi tôi"
(Sông Chanh 18)
Tôi nhập tâm câu thơ thiệt là tình tứ, dễ thương của thi sĩ Nguyễn Bính: "Áo cài khuy bấm em làm khổ tôi" – một lời trách móc nhẹ nhàng mà sâu xa thăm thẳm. Nay hình tượng đẹp này lại xuất hiện trong thơ Nguyễn Vĩnh Bảo. Người tắm trên sông Chanh, cơ hồ như một người đẹp chim sa cá lặn, đã làm cho con sóng bối rối, khiến nhà thơ phải trách móc nhẹ nhàng:
"Đêm qua ai tắm sông Chanh
Để cho con sóng chòng chành khổ tôi
Cái mùi thơm của xa xôi
Bỗng dưng trở lại rối bời vào đêm
Phím đàn loạn nhịp rung lên
Bao nhiêu mê hoặc ướt mềm từng nhau..."
(Sông Chanh 27)
"Bao nhiêu mê hoặc ướt mềm từng nhau..." – câu này hay, vì giảm bớt liên từ nên câu thơ trở nên mạnh mẽ và vang lên. Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Tập "Sông Chanh Lục Bát" là tập thơ thứ tám của anh. Ở tập này, tôi thấy có nhiều thay đổi về bút pháp, dùng từ ngữ giàu hình tượng và âm thanh, giải mã được sự giao thoa giữa cái vô hạn của Sông và cái hữu hạn của đời người, để rồi quan tâm hướng đến môi trường sinh thái. Đó là ước vọng của thơ hôm nay.