TIN TỨC

Phạm Trung Tín và 6 ô cửa

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-06-04 20:50:56
mail facebook google pos stwis
419 lượt xem

NGUYỄN THÁNH NGà

Người ta thường ví đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn. Tôi cũng có thể nói, thơ là ô cửa của tâm hồn được chăng? Nếu được thì trong ngôi nhà văn học, mỗi tập thơ là một ô cửa. Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.

Và đây, một phác thảo đơn sơ mà vô cùng cảm động, trong ô cửa thứ nhất, ta bắt gặp một thời của quê hương nghèo khó:

Chân trần, túi sách, mũ rơm

Đường vui đến lớp lúa thơm tảo tần

Hai chữ "tảo tần" là nói về mẹ, bởi "ta không chơi đồng hồ/ mẹ cha nghèo chẳng có tiền mua/ nhìn tia nắng rọi thềm trưa/ như đồng hồ - báo mười giờ - ăn cơm". Những câu thơ thực đến nỗi trở thành những lời tự sự chân thành nhất của chàng trai bên bờ sông Hóa:

Mẹ cha vất vả bao mùa

Nuôi ta ăn học đồng chua ruộng cằn

Tháng ba ngày tám thiếu ăn

Mót khoai, hôi cá, tiện tằn trả vay
 

Tôi chỉ nói được bằng một từ "xúc động"! Xúc động thật sự, vì bây giờ người làm thơ, ít ai còn giữ được độ cảm xúc như thế này nữa. Đa số đã chạy theo một thứ thơ duy lý, mông lung. Riêng Phạm Trung Tín vẫn trung thành với cũ càng, mộc mạc mà sâu lắng tình quê.

Thế rồi anh trở thành một người lính:

Em yêu ơi, anh chào tạm biệt

Chiến trường xa đang giục bước đi

Phải nói, đó là "Dặm dài ký ức" trong anh - một hồn thơ quê đúng nghĩa, mang một nỗi niềm riêng trong bước chân người lính. Và đôi khi người lính ấy nhận ra:          

Thơ minh triết giữa trần đời

Mặc ai ma mị, xu thời, xảo ngôn

Chẳng phiền toái với dại khôn

Sáng trong cao thượng, tâm hồn thi nhân

Có lẽ đây là triết lý sống trong thơ anh, thiên về dưỡng tâm và rèn luyện trí óc sáng tạo, "Miền tâm tưởng" từ đó gắn với cuộc đời;

Bao ân nghĩa cả cuộc đời

Chưa đền đáp được cho người tri âm

Ta còn nợ những lỗi lầm

Trần lưng công quả âm thầm trả vay

Đây là điều rất riêng, rất xót xa, và chỉ có người tri âm tri kỷ mới hiểu hết những lỗi lầm của nhau. Ở đời ai mà không lỗi lầm nhì? Và chúng ta còn nợ nhau rất nhiều điều, nhất là cuộc sống vợ chồng, người đi kẻ ở!

Được làm bạn thơ với Phạm Trung Tín, tôi tâm đắc nhất không phải là con người tử tế, mà tâm đắc với "chữ hiếu" của anh. Chỉ cần nhìn người con ấy đối với mẹ mình như thế nào, thì hiểu ngay tấm lòng và thơ có thật sự song hành hay không? Phạm Trung Tín là kẻ làm thơ được, đối xử được với bậc song thân, thì ngoài đời anh cũng vậy. Vì thế, mà nhiều người quý tư cách Phạm Trung Tín hơn những cái hay khác. Bởi suy ra mọi thứ đều tan rả, chỉ còn tấm lòng chân thật giữa trời cao đất dày, mới xứng đáng lưu đời mà thôi. Chúng ta hãy nghe nhà thơ viết về song thân:

Cha ơi, chín bốn mùa xuân

Ngựa hồng tung vó phong trần vượt qua

Và đây mới là chân lý mà tôi trọng vọng nhất khi anh viết về cha mình:

Một đời trọng nghĩa hơn vàng

Anh linh sáng giữa muôn vàn nghĩa ân

Tôi cho đây là câu thơ sáng giá nhất, khi viết về thân phụ. Bởi cái cốt cách "trọng nghĩa hơn vàng" của cụ là một thứ gia phong để lại cho con cháu mai sau. Còn viết về người mẹ cũng là những câu thơ tuyệt bút:

Hiếu trung những tấm lòng son

Kết đài dâng Mẹ tuổi tròn tám mươi

Xuân vui rạng đất xanh trời

Chúng con dâng Mẹ ngàn lời kính yêu!

Nếu cha là cuốn sách gia phong, thì mẹ là viên ngọc gia bảo của đại gia đình nhà thơ. Chúng ta có thể kể qua hai ô cửa, Phạm Trung Tín bắt đầu từ cậu học trò nghèo, đến một người lính ra đi bảo vệ đất nước, rồi thành nhà thơ của Hội Nhà Văn Việt Nam. Nhưng trước hết, anh là một người con hiếu thảo vẹn toàn, một người chồng yêu thương vợ tha thiết, một người cha lo cho con hết lòng. Thơ anh vì thế đã là Lời của đá vàng, nghĩa là trung kiên và nhân nghĩa:

Từ ngày em biệt nẻo chân trời

Nơi ấy chưa khi nào sáng

Những tia chớp xé mây

Sấm ầm ào quay quắt

Mười lăm năm em khuất mặt

Hóa đá lòng anh nhòa sắc cầu vồng...

Lời đá ấy là lời của chân cứng đá mềm, của mười lăm năm âm dương cách biệt. Anh lạnh lùng giữa cõi trần khi nhìn thấy "giọt người ta":

Thắc thỏm em, giọt người ta

Xin đừng vội đá để mà...lạnh nhau

Vội đá và lạnh nhau là vĩ thanh của linh hồn. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn viết Tuổi đá buồn cũng vì lẽ ấy. Đá buồn tức là đá có linh hồn, đá nói với người thơ rằng:

Nhẹ chăng chữ nghĩa áo cơm

Muộn mằn thơ

Quện lửa rơm

Góp đời...

Thơ là góp cho đời đáng sống, để có những lúc "vịn câu thơ mà đứng dậy" như Phùng Quán đã nói. Thơ Phạm Trung Tín thì kham nhẫn và mềm dịu, anh viết: "Đời chông chênh cố lách chen mình/ loang lổ thân đen tối tăm tâm khảm/ quăng số phận mặc cõi trên giam hãm/ xanh vật vờ tầm gởi bình minh/ kẻ sĩ làm thơ trượt nỗi nẻo hồn chữ nghĩa/ lấp lánh nắng về gió tở mở cùng mây..."

Cơn bão bay qua cánh hoa rớt lại

Ám ảnh mấy lần cây hứng gió cay...

Chính là lúc nhà thơ bước qua "Khoảng thức", để thấy đời là cơn bão, nhưng vẫn còn những cánh hoa sót lại. Nhờ thế mà đời vẫn đẹp, hoa vẫn thơm, con người lạc quan vui sống giữa mùa xuân đất trời thơm ngát:

Mây dịu dàng những hơi thở mùa xuân

Không xoa kín bốn mùa trầy xước

Đứng bên lề lối bước

Hương thơm về đâu cùng bước chân người

Hương thơm về đâu cùng bước chân người? Câu hỏi cũng là câu trả lời cho "khoảng thức" trong thủ pháp nghệ thuật. Từ đây tư duy thơ đã được nâng cao, tín hiệu thẩm mỹ cũng đã song hành cùng bước thơ khoáng đạt về vũ trụ, nhân sinh và thế giới tự nhiên. Điều đó giúp ích cho nhà thơ rất nhiều, để anh "bừng tỉnh đốt tim mình thắp lửa/ rời u mê - khoảng thức thiên hà". Và khi ngọn lửa đã cháy lên, ánh sáng đã soi rọi, thì khoảng thức là lúc rời khỏi u mê để nhận diện "Đường chân trời":

 Đường chân trời - nỗi bể dâu

 Chỉ thơ lưu dấu nỗi đau của đời

 Lại về kiếp hạt bụi rơi

 Thơ còn ở lại muôn đời nhân gian

Đường chân trời là con đường vạn dặm thiên lý, người qua ghi lại những đổi thay vô thường đời người. Hóa ra chỉ có thơ mới đủ sức lưu giữ hành trạng đó mà thôi. Nhờ vậy mà thơ luôn ở lại, luôn găm vào lòng người mà thành nhịp điệu trần gian. Nhà thơ biết đau nỗi đau của từng thân phận, sẻ chia với những mảnh đời nghiệt ngã, để chan hòa mình ra với đất nước non sông. Về Cà Mau, nơi cùng trời cuối đất của Tổ Quốc xúc cảm liền bật ra:

 Thiêng liêng phấp phới cờ hồng

 Tọa độ vĩ bắc kinh đông - Mũi Tàu

 Cực nam Tổ quốc - Cà Mau

 Đước xòe chân giữ sắc màu cho sông...

Với cái nhìn Tổ Quốc từ đất mũi Cà Mau, thơ Phạm Trung Tín đã khái quát được "sắc màu" của từng vùng châu thổ. Rồi khi đứng trên Cao Nguyên Lâm Viên, anh đã nhớ đến Hàn Mặc Tử với những câu thơ tuyệt bút "Đà Lạt trăng mờ": "Ai hãy làm thinh chớ nói nhiều/ Để nghe dưới đáy nước hồ reo/ Để nghe tơ liễu run trong gió/ Và để xem trời giải nghĩa yêu". Bắt được ý thơ đó, Phạm Trung Tín giải bày nỗi riêng rằng:

  Tình giờ đã mấy bão giông

 Dã quỳ bẽn lẽn đồi thông muộn chiều

 Ai người giải được nghĩa yêu

 Nâng lên ta cạn bao điều ly hương

Nỗi lòng Hàn Mặc Tử cũng như nỗi lòng Phạm Trung Tín, hình dung bao la mà không nắm bắt nổi, chỉ có trời mới giải được cái nghĩa yêu vô cùng vô tận ấy. Trần đời khổ hải, người ta luôn hỏi yêu là gì? Yêu là phạm trù mênh mông, hiểu được mà chưa ai giải được là vậy. Trên bước thơ du ký, nhà thơ đi để thưởng thức cảnh đẹp quê hương, nhưng sâu thẳm trong thơ là cõi quê nhà. Bởi quê nhà chính là hình bóng mẹ hiền, cho con cảm giác bình yên nhất, khi "chân con lang bạt mọi miền/ ba lô chật ních nỗi riêng quê nhà!". Khi ấy, bất cứ người con nào cũng cảm thấy mình như đứa trẻ, được sà vào lòng mẹ mà nghe yêu thương dâng tràn khóe mắt:

Hôm nay về lại quê nhà

Sà vào lòng mẹ - con đà tóc sương

Mà nghe thơ ấu lạ thường

Đâu đây giây phút thiên đường đời con

Thế mới biết tình mẹ là cảm hứng nghệ thuật sâu sắc nhất. Những câu thơ chân thật, mộc mạc đã làm nên hồn cốt một đời thơ. Dù có đi hết "đường chân trời" cũng chưa thể đi hết tình mẹ. Vì thế, nhà thơ phải biết "Đối diện chính mình" để nhìn lại và đánh dấu một chặng đường kinh qua, chấp nhận cuộc vô thường và sống nhân hậu hơn như đã từng:

Chính mình đối diện mình thôi

Hẹp vòng quay, chậm gót rời, hoàng hôn

Cộng trừ chi nữa dại khôn,,,

Tôi cho đấy là thái độ sống khôn ngoan, chân thành nhất mà một nhà thơ có được. Chất sống tình cảm, đậm phong cách tự sự và luôn biết nhìn vào trong là thể hiện tấm lòng bao dung, và biết trân trọng những gì quý giá của cha ông để lại. Cuối cùng, chúng ta hãy nghe chính tác giả tóm tắt 5 tập thơ - 5 ô cửa tâm hồn của mình như sau:

Thơ ư, nghiệp vận vào thân

Nỗi đau chữ nghĩa nợ nần tai ương

...

Dặm dài ký ức tơ vương

Miền tâm tưởng giữa vô thường đục trong

Lời của đá khắc ghi lòng

Khoảng thức nhân thế trăm vòng bẫy giăng

Đường chân trời - ánh sao băng...

Năm câu lục bát - 5 tập thơ. Lúc ấy chưa có tập thứ 6 "Đối diện chính mình". Người đọc sẽ thấy một hành trình thơ gian khổ mà rõ ràng, mộc mạc mà chân chính trong từng ý niệm, nhất định sẽ khắc vào thời gian nhiều ấn tượng.

Nhân đây, tôi xin viết tặng nhà thơ Phạm Trung Tín câu bát cho tập thơ thứ 6, nối vào ánh sao băng:

Đối diện mình với ánh trăng... chính mình!

Viết nối tiếp để hy vọng rằng anh đi qua miền khát vọng, vẫn luôn thao thức làm mới thơ, dâng hiến chất xám cho cuộc đời, mà vẫn giữ được sự trong sáng, hồn nhiên của làng quê. Tôi tin đó là phẩm giá của thơ ca giữa bộn bề cuộc sống, trong khi thơ giả thơ, thơ lắp ghép, thơ thị trường đang làm xáo trộn niềm tin yêu của công chúng, thì thơ có bản chất sẽ mang lại giá trị độc đáo cho người yêu thơ.

Ai làm thơ mà không dâng hiến cho đời, nhưng dâng hiến những giá trị cốt lõi, thấm đượm hồn dân tộc, sẽ như hoa nhài thoang thoảng mà thơm lâu...

TP. HCM, tháng 12. 2024
N.T.N

Bài viết liên quan

Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm