- Lý luận - Phê bình
- Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Người ta thường ví đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn. Tôi cũng có thể nói, thơ là ô cửa của tâm hồn được chăng? Nếu được thì trong ngôi nhà văn học, mỗi tập thơ là một ô cửa. Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Và đây, một phác thảo đơn sơ mà vô cùng cảm động, trong ô cửa thứ nhất, ta bắt gặp một thời của quê hương nghèo khó:
Chân trần, túi sách, mũ rơm
Đường vui đến lớp lúa thơm tảo tần
Hai chữ "tảo tần" là nói về mẹ, bởi "ta không chơi đồng hồ/ mẹ cha nghèo chẳng có tiền mua/ nhìn tia nắng rọi thềm trưa/ như đồng hồ - báo mười giờ - ăn cơm". Những câu thơ thực đến nỗi trở thành những lời tự sự chân thành nhất của chàng trai bên bờ sông Hóa:
Mẹ cha vất vả bao mùa
Nuôi ta ăn học đồng chua ruộng cằn
Tháng ba ngày tám thiếu ăn
Mót khoai, hôi cá, tiện tằn trả vay

Tôi chỉ nói được bằng một từ "xúc động"! Xúc động thật sự, vì bây giờ người làm thơ, ít ai còn giữ được độ cảm xúc như thế này nữa. Đa số đã chạy theo một thứ thơ duy lý, mông lung. Riêng Phạm Trung Tín vẫn trung thành với cũ càng, mộc mạc mà sâu lắng tình quê.
Thế rồi anh trở thành một người lính:
Em yêu ơi, anh chào tạm biệt
Chiến trường xa đang giục bước đi
Phải nói, đó là "Dặm dài ký ức" trong anh - một hồn thơ quê đúng nghĩa, mang một nỗi niềm riêng trong bước chân người lính. Và đôi khi người lính ấy nhận ra:
Thơ minh triết giữa trần đời
Mặc ai ma mị, xu thời, xảo ngôn
Chẳng phiền toái với dại khôn
Sáng trong cao thượng, tâm hồn thi nhân
Có lẽ đây là triết lý sống trong thơ anh, thiên về dưỡng tâm và rèn luyện trí óc sáng tạo, "Miền tâm tưởng" từ đó gắn với cuộc đời;
Bao ân nghĩa cả cuộc đời
Chưa đền đáp được cho người tri âm
Ta còn nợ những lỗi lầm
Trần lưng công quả âm thầm trả vay
Đây là điều rất riêng, rất xót xa, và chỉ có người tri âm tri kỷ mới hiểu hết những lỗi lầm của nhau. Ở đời ai mà không lỗi lầm nhì? Và chúng ta còn nợ nhau rất nhiều điều, nhất là cuộc sống vợ chồng, người đi kẻ ở!
Được làm bạn thơ với Phạm Trung Tín, tôi tâm đắc nhất không phải là con người tử tế, mà tâm đắc với "chữ hiếu" của anh. Chỉ cần nhìn người con ấy đối với mẹ mình như thế nào, thì hiểu ngay tấm lòng và thơ có thật sự song hành hay không? Phạm Trung Tín là kẻ làm thơ được, đối xử được với bậc song thân, thì ngoài đời anh cũng vậy. Vì thế, mà nhiều người quý tư cách Phạm Trung Tín hơn những cái hay khác. Bởi suy ra mọi thứ đều tan rả, chỉ còn tấm lòng chân thật giữa trời cao đất dày, mới xứng đáng lưu đời mà thôi. Chúng ta hãy nghe nhà thơ viết về song thân:
Cha ơi, chín bốn mùa xuân
Ngựa hồng tung vó phong trần vượt qua
Và đây mới là chân lý mà tôi trọng vọng nhất khi anh viết về cha mình:
Một đời trọng nghĩa hơn vàng
Anh linh sáng giữa muôn vàn nghĩa ân
Tôi cho đây là câu thơ sáng giá nhất, khi viết về thân phụ. Bởi cái cốt cách "trọng nghĩa hơn vàng" của cụ là một thứ gia phong để lại cho con cháu mai sau. Còn viết về người mẹ cũng là những câu thơ tuyệt bút:
Hiếu trung những tấm lòng son
Kết đài dâng Mẹ tuổi tròn tám mươi
Xuân vui rạng đất xanh trời
Chúng con dâng Mẹ ngàn lời kính yêu!
Nếu cha là cuốn sách gia phong, thì mẹ là viên ngọc gia bảo của đại gia đình nhà thơ. Chúng ta có thể kể qua hai ô cửa, Phạm Trung Tín bắt đầu từ cậu học trò nghèo, đến một người lính ra đi bảo vệ đất nước, rồi thành nhà thơ của Hội Nhà Văn Việt Nam. Nhưng trước hết, anh là một người con hiếu thảo vẹn toàn, một người chồng yêu thương vợ tha thiết, một người cha lo cho con hết lòng. Thơ anh vì thế đã là Lời của đá vàng, nghĩa là trung kiên và nhân nghĩa:
Từ ngày em biệt nẻo chân trời
Nơi ấy chưa khi nào sáng
Những tia chớp xé mây
Sấm ầm ào quay quắt
Mười lăm năm em khuất mặt
Hóa đá lòng anh nhòa sắc cầu vồng...
Lời đá ấy là lời của chân cứng đá mềm, của mười lăm năm âm dương cách biệt. Anh lạnh lùng giữa cõi trần khi nhìn thấy "giọt người ta":
Thắc thỏm em, giọt người ta
Xin đừng vội đá để mà...lạnh nhau
Vội đá và lạnh nhau là vĩ thanh của linh hồn. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn viết Tuổi đá buồn cũng vì lẽ ấy. Đá buồn tức là đá có linh hồn, đá nói với người thơ rằng:
Nhẹ chăng chữ nghĩa áo cơm
Muộn mằn thơ
Quện lửa rơm
Góp đời...
Thơ là góp cho đời đáng sống, để có những lúc "vịn câu thơ mà đứng dậy" như Phùng Quán đã nói. Thơ Phạm Trung Tín thì kham nhẫn và mềm dịu, anh viết: "Đời chông chênh cố lách chen mình/ loang lổ thân đen tối tăm tâm khảm/ quăng số phận mặc cõi trên giam hãm/ xanh vật vờ tầm gởi bình minh/ kẻ sĩ làm thơ trượt nỗi nẻo hồn chữ nghĩa/ lấp lánh nắng về gió tở mở cùng mây..."
Cơn bão bay qua cánh hoa rớt lại
Ám ảnh mấy lần cây hứng gió cay...
Chính là lúc nhà thơ bước qua "Khoảng thức", để thấy đời là cơn bão, nhưng vẫn còn những cánh hoa sót lại. Nhờ thế mà đời vẫn đẹp, hoa vẫn thơm, con người lạc quan vui sống giữa mùa xuân đất trời thơm ngát:
Mây dịu dàng những hơi thở mùa xuân
Không xoa kín bốn mùa trầy xước
Đứng bên lề lối bước
Hương thơm về đâu cùng bước chân người
Hương thơm về đâu cùng bước chân người? Câu hỏi cũng là câu trả lời cho "khoảng thức" trong thủ pháp nghệ thuật. Từ đây tư duy thơ đã được nâng cao, tín hiệu thẩm mỹ cũng đã song hành cùng bước thơ khoáng đạt về vũ trụ, nhân sinh và thế giới tự nhiên. Điều đó giúp ích cho nhà thơ rất nhiều, để anh "bừng tỉnh đốt tim mình thắp lửa/ rời u mê - khoảng thức thiên hà". Và khi ngọn lửa đã cháy lên, ánh sáng đã soi rọi, thì khoảng thức là lúc rời khỏi u mê để nhận diện "Đường chân trời":
Đường chân trời - nỗi bể dâu
Chỉ thơ lưu dấu nỗi đau của đời
Lại về kiếp hạt bụi rơi
Thơ còn ở lại muôn đời nhân gian
Đường chân trời là con đường vạn dặm thiên lý, người qua ghi lại những đổi thay vô thường đời người. Hóa ra chỉ có thơ mới đủ sức lưu giữ hành trạng đó mà thôi. Nhờ vậy mà thơ luôn ở lại, luôn găm vào lòng người mà thành nhịp điệu trần gian. Nhà thơ biết đau nỗi đau của từng thân phận, sẻ chia với những mảnh đời nghiệt ngã, để chan hòa mình ra với đất nước non sông. Về Cà Mau, nơi cùng trời cuối đất của Tổ Quốc xúc cảm liền bật ra:
Thiêng liêng phấp phới cờ hồng
Tọa độ vĩ bắc kinh đông - Mũi Tàu
Cực nam Tổ quốc - Cà Mau
Đước xòe chân giữ sắc màu cho sông...
Với cái nhìn Tổ Quốc từ đất mũi Cà Mau, thơ Phạm Trung Tín đã khái quát được "sắc màu" của từng vùng châu thổ. Rồi khi đứng trên Cao Nguyên Lâm Viên, anh đã nhớ đến Hàn Mặc Tử với những câu thơ tuyệt bút "Đà Lạt trăng mờ": "Ai hãy làm thinh chớ nói nhiều/ Để nghe dưới đáy nước hồ reo/ Để nghe tơ liễu run trong gió/ Và để xem trời giải nghĩa yêu". Bắt được ý thơ đó, Phạm Trung Tín giải bày nỗi riêng rằng:
Tình giờ đã mấy bão giông
Dã quỳ bẽn lẽn đồi thông muộn chiều
Ai người giải được nghĩa yêu
Nâng lên ta cạn bao điều ly hương
Nỗi lòng Hàn Mặc Tử cũng như nỗi lòng Phạm Trung Tín, hình dung bao la mà không nắm bắt nổi, chỉ có trời mới giải được cái nghĩa yêu vô cùng vô tận ấy. Trần đời khổ hải, người ta luôn hỏi yêu là gì? Yêu là phạm trù mênh mông, hiểu được mà chưa ai giải được là vậy. Trên bước thơ du ký, nhà thơ đi để thưởng thức cảnh đẹp quê hương, nhưng sâu thẳm trong thơ là cõi quê nhà. Bởi quê nhà chính là hình bóng mẹ hiền, cho con cảm giác bình yên nhất, khi "chân con lang bạt mọi miền/ ba lô chật ních nỗi riêng quê nhà!". Khi ấy, bất cứ người con nào cũng cảm thấy mình như đứa trẻ, được sà vào lòng mẹ mà nghe yêu thương dâng tràn khóe mắt:
Hôm nay về lại quê nhà
Sà vào lòng mẹ - con đà tóc sương
Mà nghe thơ ấu lạ thường
Đâu đây giây phút thiên đường đời con
Thế mới biết tình mẹ là cảm hứng nghệ thuật sâu sắc nhất. Những câu thơ chân thật, mộc mạc đã làm nên hồn cốt một đời thơ. Dù có đi hết "đường chân trời" cũng chưa thể đi hết tình mẹ. Vì thế, nhà thơ phải biết "Đối diện chính mình" để nhìn lại và đánh dấu một chặng đường kinh qua, chấp nhận cuộc vô thường và sống nhân hậu hơn như đã từng:
Chính mình đối diện mình thôi
Hẹp vòng quay, chậm gót rời, hoàng hôn
Cộng trừ chi nữa dại khôn,,,
Tôi cho đấy là thái độ sống khôn ngoan, chân thành nhất mà một nhà thơ có được. Chất sống tình cảm, đậm phong cách tự sự và luôn biết nhìn vào trong là thể hiện tấm lòng bao dung, và biết trân trọng những gì quý giá của cha ông để lại. Cuối cùng, chúng ta hãy nghe chính tác giả tóm tắt 5 tập thơ - 5 ô cửa tâm hồn của mình như sau:
Thơ ư, nghiệp vận vào thân
Nỗi đau chữ nghĩa nợ nần tai ương
...
Dặm dài ký ức tơ vương
Miền tâm tưởng giữa vô thường đục trong
Lời của đá khắc ghi lòng
Khoảng thức nhân thế trăm vòng bẫy giăng
Đường chân trời - ánh sao băng...
Năm câu lục bát - 5 tập thơ. Lúc ấy chưa có tập thứ 6 "Đối diện chính mình". Người đọc sẽ thấy một hành trình thơ gian khổ mà rõ ràng, mộc mạc mà chân chính trong từng ý niệm, nhất định sẽ khắc vào thời gian nhiều ấn tượng.
Nhân đây, tôi xin viết tặng nhà thơ Phạm Trung Tín câu bát cho tập thơ thứ 6, nối vào ánh sao băng:
Đối diện mình với ánh trăng... chính mình!
Viết nối tiếp để hy vọng rằng anh đi qua miền khát vọng, vẫn luôn thao thức làm mới thơ, dâng hiến chất xám cho cuộc đời, mà vẫn giữ được sự trong sáng, hồn nhiên của làng quê. Tôi tin đó là phẩm giá của thơ ca giữa bộn bề cuộc sống, trong khi thơ giả thơ, thơ lắp ghép, thơ thị trường đang làm xáo trộn niềm tin yêu của công chúng, thì thơ có bản chất sẽ mang lại giá trị độc đáo cho người yêu thơ.
Ai làm thơ mà không dâng hiến cho đời, nhưng dâng hiến những giá trị cốt lõi, thấm đượm hồn dân tộc, sẽ như hoa nhài thoang thoảng mà thơm lâu...
TP. HCM, tháng 12. 2024
N.T.N