TIN TỨC

Phạm Trung Tín và 6 ô cửa

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-06-04 20:50:56
mail facebook google pos stwis
88 lượt xem

NGUYỄN THÁNH NGà

Người ta thường ví đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn. Tôi cũng có thể nói, thơ là ô cửa của tâm hồn được chăng? Nếu được thì trong ngôi nhà văn học, mỗi tập thơ là một ô cửa. Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.

Và đây, một phác thảo đơn sơ mà vô cùng cảm động, trong ô cửa thứ nhất, ta bắt gặp một thời của quê hương nghèo khó:

Chân trần, túi sách, mũ rơm

Đường vui đến lớp lúa thơm tảo tần

Hai chữ "tảo tần" là nói về mẹ, bởi "ta không chơi đồng hồ/ mẹ cha nghèo chẳng có tiền mua/ nhìn tia nắng rọi thềm trưa/ như đồng hồ - báo mười giờ - ăn cơm". Những câu thơ thực đến nỗi trở thành những lời tự sự chân thành nhất của chàng trai bên bờ sông Hóa:

Mẹ cha vất vả bao mùa

Nuôi ta ăn học đồng chua ruộng cằn

Tháng ba ngày tám thiếu ăn

Mót khoai, hôi cá, tiện tằn trả vay
 

Tôi chỉ nói được bằng một từ "xúc động"! Xúc động thật sự, vì bây giờ người làm thơ, ít ai còn giữ được độ cảm xúc như thế này nữa. Đa số đã chạy theo một thứ thơ duy lý, mông lung. Riêng Phạm Trung Tín vẫn trung thành với cũ càng, mộc mạc mà sâu lắng tình quê.

Thế rồi anh trở thành một người lính:

Em yêu ơi, anh chào tạm biệt

Chiến trường xa đang giục bước đi

Phải nói, đó là "Dặm dài ký ức" trong anh - một hồn thơ quê đúng nghĩa, mang một nỗi niềm riêng trong bước chân người lính. Và đôi khi người lính ấy nhận ra:          

Thơ minh triết giữa trần đời

Mặc ai ma mị, xu thời, xảo ngôn

Chẳng phiền toái với dại khôn

Sáng trong cao thượng, tâm hồn thi nhân

Có lẽ đây là triết lý sống trong thơ anh, thiên về dưỡng tâm và rèn luyện trí óc sáng tạo, "Miền tâm tưởng" từ đó gắn với cuộc đời;

Bao ân nghĩa cả cuộc đời

Chưa đền đáp được cho người tri âm

Ta còn nợ những lỗi lầm

Trần lưng công quả âm thầm trả vay

Đây là điều rất riêng, rất xót xa, và chỉ có người tri âm tri kỷ mới hiểu hết những lỗi lầm của nhau. Ở đời ai mà không lỗi lầm nhì? Và chúng ta còn nợ nhau rất nhiều điều, nhất là cuộc sống vợ chồng, người đi kẻ ở!

Được làm bạn thơ với Phạm Trung Tín, tôi tâm đắc nhất không phải là con người tử tế, mà tâm đắc với "chữ hiếu" của anh. Chỉ cần nhìn người con ấy đối với mẹ mình như thế nào, thì hiểu ngay tấm lòng và thơ có thật sự song hành hay không? Phạm Trung Tín là kẻ làm thơ được, đối xử được với bậc song thân, thì ngoài đời anh cũng vậy. Vì thế, mà nhiều người quý tư cách Phạm Trung Tín hơn những cái hay khác. Bởi suy ra mọi thứ đều tan rả, chỉ còn tấm lòng chân thật giữa trời cao đất dày, mới xứng đáng lưu đời mà thôi. Chúng ta hãy nghe nhà thơ viết về song thân:

Cha ơi, chín bốn mùa xuân

Ngựa hồng tung vó phong trần vượt qua

Và đây mới là chân lý mà tôi trọng vọng nhất khi anh viết về cha mình:

Một đời trọng nghĩa hơn vàng

Anh linh sáng giữa muôn vàn nghĩa ân

Tôi cho đây là câu thơ sáng giá nhất, khi viết về thân phụ. Bởi cái cốt cách "trọng nghĩa hơn vàng" của cụ là một thứ gia phong để lại cho con cháu mai sau. Còn viết về người mẹ cũng là những câu thơ tuyệt bút:

Hiếu trung những tấm lòng son

Kết đài dâng Mẹ tuổi tròn tám mươi

Xuân vui rạng đất xanh trời

Chúng con dâng Mẹ ngàn lời kính yêu!

Nếu cha là cuốn sách gia phong, thì mẹ là viên ngọc gia bảo của đại gia đình nhà thơ. Chúng ta có thể kể qua hai ô cửa, Phạm Trung Tín bắt đầu từ cậu học trò nghèo, đến một người lính ra đi bảo vệ đất nước, rồi thành nhà thơ của Hội Nhà Văn Việt Nam. Nhưng trước hết, anh là một người con hiếu thảo vẹn toàn, một người chồng yêu thương vợ tha thiết, một người cha lo cho con hết lòng. Thơ anh vì thế đã là Lời của đá vàng, nghĩa là trung kiên và nhân nghĩa:

Từ ngày em biệt nẻo chân trời

Nơi ấy chưa khi nào sáng

Những tia chớp xé mây

Sấm ầm ào quay quắt

Mười lăm năm em khuất mặt

Hóa đá lòng anh nhòa sắc cầu vồng...

Lời đá ấy là lời của chân cứng đá mềm, của mười lăm năm âm dương cách biệt. Anh lạnh lùng giữa cõi trần khi nhìn thấy "giọt người ta":

Thắc thỏm em, giọt người ta

Xin đừng vội đá để mà...lạnh nhau

Vội đá và lạnh nhau là vĩ thanh của linh hồn. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn viết Tuổi đá buồn cũng vì lẽ ấy. Đá buồn tức là đá có linh hồn, đá nói với người thơ rằng:

Nhẹ chăng chữ nghĩa áo cơm

Muộn mằn thơ

Quện lửa rơm

Góp đời...

Thơ là góp cho đời đáng sống, để có những lúc "vịn câu thơ mà đứng dậy" như Phùng Quán đã nói. Thơ Phạm Trung Tín thì kham nhẫn và mềm dịu, anh viết: "Đời chông chênh cố lách chen mình/ loang lổ thân đen tối tăm tâm khảm/ quăng số phận mặc cõi trên giam hãm/ xanh vật vờ tầm gởi bình minh/ kẻ sĩ làm thơ trượt nỗi nẻo hồn chữ nghĩa/ lấp lánh nắng về gió tở mở cùng mây..."

Cơn bão bay qua cánh hoa rớt lại

Ám ảnh mấy lần cây hứng gió cay...

Chính là lúc nhà thơ bước qua "Khoảng thức", để thấy đời là cơn bão, nhưng vẫn còn những cánh hoa sót lại. Nhờ thế mà đời vẫn đẹp, hoa vẫn thơm, con người lạc quan vui sống giữa mùa xuân đất trời thơm ngát:

Mây dịu dàng những hơi thở mùa xuân

Không xoa kín bốn mùa trầy xước

Đứng bên lề lối bước

Hương thơm về đâu cùng bước chân người

Hương thơm về đâu cùng bước chân người? Câu hỏi cũng là câu trả lời cho "khoảng thức" trong thủ pháp nghệ thuật. Từ đây tư duy thơ đã được nâng cao, tín hiệu thẩm mỹ cũng đã song hành cùng bước thơ khoáng đạt về vũ trụ, nhân sinh và thế giới tự nhiên. Điều đó giúp ích cho nhà thơ rất nhiều, để anh "bừng tỉnh đốt tim mình thắp lửa/ rời u mê - khoảng thức thiên hà". Và khi ngọn lửa đã cháy lên, ánh sáng đã soi rọi, thì khoảng thức là lúc rời khỏi u mê để nhận diện "Đường chân trời":

 Đường chân trời - nỗi bể dâu

 Chỉ thơ lưu dấu nỗi đau của đời

 Lại về kiếp hạt bụi rơi

 Thơ còn ở lại muôn đời nhân gian

Đường chân trời là con đường vạn dặm thiên lý, người qua ghi lại những đổi thay vô thường đời người. Hóa ra chỉ có thơ mới đủ sức lưu giữ hành trạng đó mà thôi. Nhờ vậy mà thơ luôn ở lại, luôn găm vào lòng người mà thành nhịp điệu trần gian. Nhà thơ biết đau nỗi đau của từng thân phận, sẻ chia với những mảnh đời nghiệt ngã, để chan hòa mình ra với đất nước non sông. Về Cà Mau, nơi cùng trời cuối đất của Tổ Quốc xúc cảm liền bật ra:

 Thiêng liêng phấp phới cờ hồng

 Tọa độ vĩ bắc kinh đông - Mũi Tàu

 Cực nam Tổ quốc - Cà Mau

 Đước xòe chân giữ sắc màu cho sông...

Với cái nhìn Tổ Quốc từ đất mũi Cà Mau, thơ Phạm Trung Tín đã khái quát được "sắc màu" của từng vùng châu thổ. Rồi khi đứng trên Cao Nguyên Lâm Viên, anh đã nhớ đến Hàn Mặc Tử với những câu thơ tuyệt bút "Đà Lạt trăng mờ": "Ai hãy làm thinh chớ nói nhiều/ Để nghe dưới đáy nước hồ reo/ Để nghe tơ liễu run trong gió/ Và để xem trời giải nghĩa yêu". Bắt được ý thơ đó, Phạm Trung Tín giải bày nỗi riêng rằng:

  Tình giờ đã mấy bão giông

 Dã quỳ bẽn lẽn đồi thông muộn chiều

 Ai người giải được nghĩa yêu

 Nâng lên ta cạn bao điều ly hương

Nỗi lòng Hàn Mặc Tử cũng như nỗi lòng Phạm Trung Tín, hình dung bao la mà không nắm bắt nổi, chỉ có trời mới giải được cái nghĩa yêu vô cùng vô tận ấy. Trần đời khổ hải, người ta luôn hỏi yêu là gì? Yêu là phạm trù mênh mông, hiểu được mà chưa ai giải được là vậy. Trên bước thơ du ký, nhà thơ đi để thưởng thức cảnh đẹp quê hương, nhưng sâu thẳm trong thơ là cõi quê nhà. Bởi quê nhà chính là hình bóng mẹ hiền, cho con cảm giác bình yên nhất, khi "chân con lang bạt mọi miền/ ba lô chật ních nỗi riêng quê nhà!". Khi ấy, bất cứ người con nào cũng cảm thấy mình như đứa trẻ, được sà vào lòng mẹ mà nghe yêu thương dâng tràn khóe mắt:

Hôm nay về lại quê nhà

Sà vào lòng mẹ - con đà tóc sương

Mà nghe thơ ấu lạ thường

Đâu đây giây phút thiên đường đời con

Thế mới biết tình mẹ là cảm hứng nghệ thuật sâu sắc nhất. Những câu thơ chân thật, mộc mạc đã làm nên hồn cốt một đời thơ. Dù có đi hết "đường chân trời" cũng chưa thể đi hết tình mẹ. Vì thế, nhà thơ phải biết "Đối diện chính mình" để nhìn lại và đánh dấu một chặng đường kinh qua, chấp nhận cuộc vô thường và sống nhân hậu hơn như đã từng:

Chính mình đối diện mình thôi

Hẹp vòng quay, chậm gót rời, hoàng hôn

Cộng trừ chi nữa dại khôn,,,

Tôi cho đấy là thái độ sống khôn ngoan, chân thành nhất mà một nhà thơ có được. Chất sống tình cảm, đậm phong cách tự sự và luôn biết nhìn vào trong là thể hiện tấm lòng bao dung, và biết trân trọng những gì quý giá của cha ông để lại. Cuối cùng, chúng ta hãy nghe chính tác giả tóm tắt 5 tập thơ - 5 ô cửa tâm hồn của mình như sau:

Thơ ư, nghiệp vận vào thân

Nỗi đau chữ nghĩa nợ nần tai ương

...

Dặm dài ký ức tơ vương

Miền tâm tưởng giữa vô thường đục trong

Lời của đá khắc ghi lòng

Khoảng thức nhân thế trăm vòng bẫy giăng

Đường chân trời - ánh sao băng...

Năm câu lục bát - 5 tập thơ. Lúc ấy chưa có tập thứ 6 "Đối diện chính mình". Người đọc sẽ thấy một hành trình thơ gian khổ mà rõ ràng, mộc mạc mà chân chính trong từng ý niệm, nhất định sẽ khắc vào thời gian nhiều ấn tượng.

Nhân đây, tôi xin viết tặng nhà thơ Phạm Trung Tín câu bát cho tập thơ thứ 6, nối vào ánh sao băng:

Đối diện mình với ánh trăng... chính mình!

Viết nối tiếp để hy vọng rằng anh đi qua miền khát vọng, vẫn luôn thao thức làm mới thơ, dâng hiến chất xám cho cuộc đời, mà vẫn giữ được sự trong sáng, hồn nhiên của làng quê. Tôi tin đó là phẩm giá của thơ ca giữa bộn bề cuộc sống, trong khi thơ giả thơ, thơ lắp ghép, thơ thị trường đang làm xáo trộn niềm tin yêu của công chúng, thì thơ có bản chất sẽ mang lại giá trị độc đáo cho người yêu thơ.

Ai làm thơ mà không dâng hiến cho đời, nhưng dâng hiến những giá trị cốt lõi, thấm đượm hồn dân tộc, sẽ như hoa nhài thoang thoảng mà thơm lâu...

TP. HCM, tháng 12. 2024
N.T.N

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm