TIN TỨC

Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-06-19 16:06:44
mail facebook google pos stwis
395 lượt xem

TRẦN TRUNG SÁNG

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người.  Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.

 

Bìa tập sách Tùy bút “ Mắt đá, Mắt cỏ cây và Mắt thức” của Phan Trang Hy

 

Phan Trang Hy là một trong những tác giả văn xuôi của TP Đà Nẵng, đã xuất bản  một số tác phẩm như: “Người thầy dạy búp bê” (2009), “Người hay là những cơn mơ mạo danh” (2015), “Phóng sinh chữ nghĩa” (2018), “Phạm Duy và lời ca lắng đọng”(2021)…  Với ngòi bút giàu tính nhân văn, hầu hết, các tác phẩm này phản ánh đa chiều những lát cắt của đời sống xã hội và tình cảm con người.

Mới đây, càng bất ngờ hơn, tai buổi ra mắt tập sách mới Tùy bút “ Mắt đá, Mắt cỏ cây và Mắt thức” của Phan Trang Hy (Nxb Văn học, tháng 5/2026), cái tựa đề lập tức gợi nhớ đến họa sĩ Bửu Chỉ - người đã dấn thân vào cuộc đấu tranh trong phong trào sinh viên Huế (từ 1968) khi trả lời phỏng vấn trên một tờ báo Pháp: “vì sao tranh ông chỉ thấy những gương mặt người mà không thấy  chùa chiền hay giáo đường?”, ông nói: "Tôi không vẽ giáo đường, bởi vì trong con mắt con người đã có giáo đường".

Và như thế, ở Phan Trang Hy dù qua bất cứ đề tài nào,  mảng tản văn và tùy bút của ông luôn mang đậm cái tôi chiêm nghiệm, dung dị, đong đầy hơi thở Phật giáo thiền định và tình cảm quê hương sâu nặng. Bản chất là một nhà giáo, những trang tản văn của ông không lạm dụng kỹ thuật câu chữ phức tạp mà hướng tới sự mộc mạc để khơi gợi cảm xúc từ những điều bình dị nhất. Những nét đặc trưng nổi bật trong phong cách tản văn của ông đáng nhớ nhất là: Chất thiền và tư duy chiêm nghiệm triết lý. Cụ thể, tác giả thường xuyên hướng ngòi bút vào thế giới nội tâm để tìm kiếm sự an yên.

Qua các bài viết như Nhất chi mai - chất người muôn thuở, ông mượn các điển tích, thơ thiền hay triết lý nhân sinh của Phật giáo để tự soi rọi bản thân, chia sẻ nỗi đau trần thế và hướng con người tới sự bao dung, tu tập. Đề tài hoài niệm, gắn liền với thời gian và không gian kỷ niệm. Văn phong của ông đặc biệt giàu cảm xúc khi viết về các cột mốc thời gian đặc biệt như những ngày cuối năm, mùa Giáng Sinh hay khoảnh khắc đón Tết, luôn mở ra một khoảng không gian ấm áp, kết nối câu chuyện của quá khứ và hiện tại. Ông dành nhiều trang viết xúc động để ca ngợi tình yêu thương của người mẹ và các giá trị gia đình. Tiêu biểu có tùy bút Bao la tình mẹ hay Thảo thơm rằm tháng Bảy, nơi ông nhắc nhở người đọc về chữ hiếu, sự sẻ chia giữa con người với con người theo đúng truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người.  Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.

Thể hiện qua thái độ "bình tâm nhìn vạn vật". Tác giả không đứng ngoài để miêu tả cảnh vật một cách vô cảm, mà ông quan sát sự biến chuyển của cuộc đời với tâm thế chánh niệm. Một nhành mai nở, một kiếp người vô thường hay một góc phố rác đều được nhìn nhận bằng con mắt bình đẳng, không phán xét, thấu hiểu quy luật thành - trụ - hoại - không của nhà Phật. Đó là chất thiền trong tùy bút ông vậy.

 

Nhà văn Phan Trang Hy tại buổi ra mắt sách Tùy bút “ Mắt đá, Mắt cỏ cây và Mắt thức”

 

Nâng đỡ cái nhìn triết lý đó bằng những hình tượng nghệ thuật lung linh, lãng mạn. Trong tùy bút Nhất chi mai - chất người muôn thuở, hoa mai không chỉ là một loài cây, mà là biểu tượng của cốt cách thanh cao, sự kiên cường sinh sôi giữa mùa đông giá rét. Chất trữ tình thấm đượm trong cách ông cảm nhận hương vị thời gian, màu sắc của ký ức, biến những triết lý khô khan thành những bức tranh ngôn từ đầy nhạc điệu. Đó là chất thơ trong tùy bút ông vậy.

Nằm ở dòng cảm xúc hoài niệm chảy trôi không ngừng. Văn xuôi của ông đầy rẫy những khoảng không gian hoài cổ: tiếng chuông nhà thờ đêm Giáng Sinh, mùi khói trầm ngày Tết, hay dáng hình lam lũ của người mẹ. Sự rung động tinh tế, nét buồn man mác trước sự trôi chảy của thời gian đã gieo vào lòng độc giả sự đồng cảm sâu sắc.  Ông đối diện với quá khứ và những mất mát bằng tinh thần buông bỏ và tự tại. Thay vì oán trách hay tuyệt vọng, ngòi bút của ông hướng về sự bao dung, xem nghịch cảnh là chất liệu để tu tập tâm thức. Nỗi đau trong văn ông luôn được xoa dịu bằng tình yêu thương vô điều kiện và niềm tin vào bản tính thiện lương của con người.

Bằng nhịp điệu văn xuôi chậm rãi và những khoảng lặng (nghệ thuật cấu trúc), Phan Trang Hy tạo ra một "không gian vô ngôn" trong cấu trúc tác phẩm. Các câu văn của Phan Trang Hy thường không dồn dập, kịch tính mà có xu hướng chậm rãi, mô phỏng nhịp thở của người thiền định. Ông biết cách tạo ra những khoảng lặng sau mỗi câu chuyện, bắt người đọc phải dừng lại để tự chiêm nghiệm, "nghe" thấy tiếng lòng của chính mình. Điều phối nhịp điệu chậm rãi đó bằng nhạc tính của ngôn từ. Cách ngắt nhịp uyển chuyển, sử dụng các từ láy nhẹ nhàng (như đau đáu, thảo thơm, ấm áp) tạo nên một giai điệu du dương riêng biệt. Sự kết hợp này biến văn xuôi của ông có xu hướng "thơ hóa", khiến người đọc cảm thấy như đang thưởng thức một bài thơ dài được viết dưới dạng văn xuôi.

Sự gặp gỡ lớn nhất giữa thơ và thiền trong văn Phan Trang Hy nằm ở sự tối giản. Ông không dùng những từ ngữ đao to búa lớn hay cấu trúc câu phức tạp để phô diễn kỹ thuật. Ngôn ngữ của ông quay về sự nguyên sơ, mộc mạc như lời ăn tiếng nói hằng ngày của người dân miền Trung nhưng lại hàm chứa dung lượng ý nghĩa rất lớn. Đó chính là tinh thần "Ý tại ngôn ngoại" (Ý ở ngoài lời) của thơ ca truyền thống và cũng là cốt lõi của thiền học — dùng cái hữu hạn của ngôn từ để gợi mở cái vô hạn của tâm tưởng.

T.T.S

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm