TIN TỨC

Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-06-11 21:20:46
mail facebook google pos stwis
381 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.

 

Ảnh minh họa. Nguồn internet

 

Trong chương trình Ngữ văn lớp 10, tập 1 của bộ sách “Kết nối tri thức với cuộc sống” nhóm biên soạn có đưa chùm thơ Hai - cư với ba bài thơ vô đề của ba nhà thơ - ba thiền sư nổi tiếng Nhật Bản: Basho, Chiyo và Issa. Mỗi bài thơ Hai - cư đều phản ánh tâm hồn người Nhật - tâm hồn ưa thích hòa nhập với thiên nhiên.

Tiếp cận và tìm hiểu ba bài thơ này, bên cạnh niềm vui khi được thưởng thức một “đặc sản thi ca”, tinh hoa tinh thần của con người Nhật Bản thì điều hấp dẫn, ấn tượng đầu tiên đối với độc giả khi tiếp xúc chùm thơ Hai – cư là ở: hình thức kiệm lời và hình ảnh giàu sức gợi.

Về mặt hình thức ngôn ngữ, thơ Hai – cư có hình thức ngắn gọn, cô đọng (cả bài chỉ 17 âm tiết, ngắt thành 3 đoạn 5-7-5). Nguyên bản tiếng Nhật chỉ có một câu thơ ( Dòng 1: Giới thiệu; Dòng 2: Tiếp tục ý trên và chuẩn bị cho dòng 3; Dòng 3: Ý thơ kết lại nhưng không rõ ràng, mở ra những suy ngẫm, cảm xúc cho người đọc ngân nga, lan tỏa).

Với hình thức này, người đọc sẽ rất dễ dàng tìm hiểu, khám phá từng câu thơ, bài thơ ( ở đây, người đọc căn cứ vào bản dịch thơ của Nhật Chiêu). So với một số bài thơ với các thể thơ khác, có số tiếng và số câu thơ dài hơn thì việc tìm hiểu, khám phá văn bản sẽ có những khó khăn nhất định. Nghĩa là độc giả vừa tiến hành cùng một lúc cả hai quá trình: đọc và cắt nghĩa từng từ ngữ, từng câu rồi mới khái quát và rút ra ý nghĩa của toàn bộ câu thơ. Còn ở đây, với bài thơ của Basho thì chỉ cần đọc một hay cả bài thơ, người đọc bước đầu cũng có thể hình dung phần nào nội dung của cả bài thơ một cách nhanh nhất, dễ dàng nhất. Đây được xem là bước quan trọng và là một thành công làm nên sức hấp dẫn của thể thơ này. Phải chăng, hình thức này cũng chỉ là một minh chứng trong tư duy của người Nhật -  hướng tới sự tối giản nhất có thể. Cố nhiên với thơ, điều này cũng nằm trong tư duy ấy. Thơ vì vậy không cần quá cầu kỳ về hình thức, vừa tiết kiệm được ngôn từ, lạ vừa đảm bảo được nội dung, ý nghĩa mà họ muốn truyền tải qua thi phẩm.

Như trên đã đề cập, điều hấp dẫn của thơ Hai - cư là về mặt hình thức cô đọng ngắn gọn. Nhưng bên cạnh đó, một yếu tố nữa cũng làm nên sức hấp dẫn của thơ Hai - cư chính là hình ảnh thơ. Hình ảnh thơ có vai trò quan trọng trong việc truyền đạt nội dung thơ. Hình ảnh thơ là phương tiện đã được các nhà thơ tinh tuyển. Dĩ nhiên, hình ảnh thơ ở đây, được hiểu là hình ảnh trung tâm, là hình tượng thơ, cốt lõi ở mỗi bài. Thơ Hai - cư không cầu kỳ trong việc lựa chọn hình ảnh thơ như thơ Đường - Trung Quốc, mà ngược lại, hình ảnh trong thơ lại mộc mạc, tự nhiên nhưng không kém phần tinh tế, chuẩn xác. Có cảm giác dường như mỗi hình ảnh đều được các nhà thơ chọn lọc ngoài thế giới tự nhiên nhưng lại không làm cho người thưởng thức biết được sự chọn lọc có ý đồ đó một cách lộ liễu, công khai. Rồi cũng từ hình ảnh này lại trở thành hình tượng nghệ thuật. Sự tài tình của những nhà thơ, thiền sư chính là ở chỗ đó chăng?.

Trong bài thơ của Basho tác giả viết: “Trên cành cây / cánh quạ  đậu / chiều thu”, hình ảnh trung tâm trong bài thơ này không gì khác chính là hình ảnh: “cánh quạ”. Đây là một hình ảnh quen thuộc trong thi ca cổ điển. Chỉ với một hình ảnh “cánh quạ đậu” đã  gây ấn tượng thị giác đối với người đọc. Điều này đã gợi lên bao nhiêu sự liên tưởng thú vị, độc đáo. Thông thường, “cánh chim” là thi liệu cổ điển thường báo hiệu thời gian là buổi chiều sắp tàn, tối bắt đầu nhe nhóm. Theo đó, ở đây, có thể hiểu “cánh quạ” có màu sắc đặc trưng là màu đen, vì vậy hình ảnh này phù hợp với thời gian của buổi chiều thu. Đây là thủ pháp chỉ gợi chứ không cần tả hay diễn giải của thơ Hai - cư. Cũng từ hình ảnh này, người đọc tiếp tục bắt gặp hình ảnh thứ hai, đó là: “Trên cành khô”. Tại sao không phải là: “Trên cành tươi” mà lại là “trên cành khô”, phải chăng “cành khô” là cành không còn sự sống, không còn sự phát triển của cây cối?. Bỗng nhớ tới câu thơ mà sau này nhà thơ Huy Cận ở bài Tràng Giang đã viết: “ Củi một cành khô lạc mấy dòng”. Thêm nữa “cánh quạ đâu” chứ không còn là “con quạ đậu”. Rõ ràng hình ảnh này, cũng gợi lên cho độc giả nhiều suy ngẫm, liên tưởng. Hai hình ảnh: “Cánh quạ đậu” “ trên cành khô” là hai hình ảnh dễ bắt gặp ở ngoài tự nhiên. Một điều độc đáo nữa là hai hình ảnh trên còn có mối liên hệ với không gian của buổi chiều thu. Nên vì lẽ đó, đã gợi lên một không gian chiều thu vắng lặng, đơn sơ, nhẹ nhàng. Rõ ràng, sự tương phản của thân hình đen muội nhỏ xíu của con quạ với bóng tối bao la, vô định của buổi chiều hôm. Trên cành khô quạ đậu và chiều thu là hai phần hoàn toàn độc lập, tương phản với nhau. Một bên nhỏ hẹp, hiện hữu, một bên rộng lớn, mơ hồ. Mọi vật thể đối lập ấy đã tạo thành một chỉnh thể, một bức tranh hoàn chỉnh: trên cái nền hoang vắng mơ hồ của buổi chiều thu, nổi bật lên hình hài màu đen của một chú quạ đậu trên cành khô.

Như vậy, hình ảnh trong bài thơ của Basho có lẽ phần nào thể hiện tâm cảm thi nhân mặc dù nó như chi được chớp lấy trong một ánh nhìn, một không gian, thời gian nhất định. Bài thơ mang nỗi buồn của buổi chiều tà, của lúc tàn thu, sự ngưng đọng, lặng im của cảnh vật. Giống như mọi bài thơ Hai-cư khác, cái tôi thi nhân không bao giờ xuất hiện trong thi phẩm nhưng từ những gì nhà thơ gửi gắm sẽ khởi sự cho trí tưởng tượng vô biên của độc giả.

Sang đến bài thơ của Chiyo: “ Ôi hoa triêu nhan! / Dây gàu vương hoa bên giếng / Đành xin nước nhà bên”, hình ảnh trung tâm là “hoa triêu nhan” và “dây gàu bên giếng”. Hai hình ảnh của những bông hoa triêu nhan tím đang quấn chặt vào sợi dây gàu bên giếng. Cùng nhau tồn tại, cùng nhau làm nên vẻ đẹp dịu dàng, kín đáo. Có thể nói, hai hình này thật gần gũi, bình dị, không cao sang quý phái như hoa cúc, hoa mai, mà dường như, chính sự bình dị ấy đã cộng hưởng vào nhau trong một bài thơ khiến cho bài thơ trở nên trong sáng, thuần khiết hiếm có. Cũng thông qua hai hình ảnh trên, người đọc nhận ra rằng: Trước cái đẹp, trước sự sống, nhà thơ nâng niu, trân trọng, không nỡ làm tổn thương nên bà chọn giải pháp “xin nước nhà bên”, để sự sống và cái đẹp được hiện hữu. Đây chính là tinh thần ý tại ngôn ngoại, lại cũng chính là sự vô ngôn của Thiền và là tính nhân văn của Phật giáo. Cần phải có một nội tâm tĩnh lặng, một tính cách dịu dàng và hơn cả là một tình thương lớn, một tấm lòng trắc ẩn lớn mới có cách hành xử như vậy. Một đóa triêu nhan mỏng manh làm tỏa sáng một tình thương mênh mông và cảm động.

Cuối cùng là bài thơ của Ít – sa: “chậm rì, chậm rì/ Kìa con ốc nhỏ/ Trèo núi Phu – gi”, hình ảnh nổi bật trong bài thơ là hình ảnh: “Con ốc” và núi “Fu-ji”. Hình ảnh “con ốc” gợi lên hình ảnh một con vật nhỏ bé, chậm chạp, sống thụ động. Còn “Núi Fu-ji” là một ngọn núi nổi tiếng ở Nhật Bản, nó gợi lên sự hùng vĩ, tráng lệ của tự nhiên. Câu thơ thứ hai “Kìa con ốc nhỏ” thể hiện cái nhìn ngỡ ngàng trước sự  xuất hiện nhỏ bé, bình dị của chú ốc nhỏ. Trạng thái “chậm rì” được đảo lên câu thơ đầu để nhấn mạnh trạng thái, đặc điểm của chú ốc bình dị nhỏ bé ấy. Câu thơ thứ ba “Trèo núi Fuji” chỉ có ba chữ tái hiện hình ảnh ngọn núi Phú Sĩ - biểu tượng Nhật Bản. Hình ảnh chú ốc sên nhỏ trèo chầm chậm lên núi Phú Sĩ - ngọn núi cao bậc nhất Nhật Bản.

Bài thơ của Is - sa ngắn gọn súc tích, với hình thức độc đáo đã truyền tải thông điệp mang đầy tính nhân văn đến người đọc. Trên thực tế cuộc sống, mỗi người đều là chú ốc nhỏ bé bình dị nhưng đều ấp ủ một giấc mơ cháy bỏng của riêng cuộc đời mình. Sức mạnh nội tại của chính bản thân chúng ta là nguồn sức mạnh động lực để thúc đẩy đưa chúng ta lên đến đỉnh cao của cuộc đời mình. Nếu như chú ốc sên khát khao chinh phục núi Phú Sĩ thì mỗi người đều có một đỉnh cao của cuộc đời mình mà muốn chinh phục. Điều mà chúng ta cần làm đó chính là luôn luôn cố gắng không ngừng nghỉ trên hành trình, nỗ lực hết sức mình trên hành trình chinh phục lý tưởng sống của mình. Ta có thể đi chậm hơn so với người khác nhưng điều quan trọng đó chính là ta không ngừng lại mà luôn nỗ lực, kiên trì đến cùng với ước mơ của mình. Đó chính là điều làm nên ý nghĩa của cuộc sống của chúng ta.

Như vậy, chùm thơ Hai - cư đều ngắn gọn về hình thức, sử dụng hình ảnh ẩn dụ của con vật, cây cối tự nhiên, giàu sức gợi. Trên hết, mỗi bài thơ đều truyền tải thông điệp sâu sắc, triết lý, đầy nhân văn sâu sắc, ý nghĩa về cuộc sống. Thơ Hai-cư đã rời cách đây hơn 400 năm, tuy vậy, sức hấp dẫn của thể thơ này vẫn còn nhiều điều cần khám phá. Vẻ đẹp của thể thơ này luôn mời gọi người đọc cùng thưởng thức. Chính vì lẽ đó, thơ Hai - cư chắc chắn sẽ còn mãi một vị trí quan trọng trong thi ca nhân loại. Thơ Hai – cư xứng đáng một thế giới huyền diệu, dĩ nhiên, mỗi bài thơ là một điệu huyền xao xuyến, bâng khuâng.

Đoàn Văn Hân

Bài viết liên quan

Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm