TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương

Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-06-13 09:10:50
mail facebook google pos stwis
17 lượt xem

TRẦN NGỌC TUẤN

Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.

 

Chân dung nhà văn Tô Hoài được tác giả T.N.T tạo bằng AI

 

Nhà văn Tô Hoài (1920-2014), tên thật Nguyễn Sen, là một trong những cây bút lớn của văn học Việt Nam hiện đại. Văn chương Tô Hoài giản dị, giàu chất đời sống, kết hợp nhuần nhuyễn giữa hiện thực và chất trữ tình…

Từ điển Văn học (bộ mới, NXB Thế giới mới, 2004, tr.1749, phần biên soạn của Nguyễn Văn Long, Nguyễn Huệ Chi) đánh giá về Tô Hoài như sau: “Năng lực quan sát và miêu tả tinh tường, sắc nhạy, vốn hiểu biết đời sống và phong tục các dân tộc khá phong phú, lối văn giàu hình ảnh và biến đổi nhịp điệu nhanh hoạt, những tìm tòi sáng tạo mới mẻ độc đáo về từ ngữ, về phương ngữ… có thể coi đó là những nét nổi bật trong sáng tác của Tô Hoài góp vào văn xuôi hiện đại Việt Nam”.

 

Truyện loài vật – triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc

Với mảng đề tài viết về loài vật, Tô Hoài để lại một trước tác vô cùng phong phú. Tác phẩm tiêu biểu viết về loài vật là Dế Mèn phiêu lưu ký (1941), viết về nhân vật chính là Dế Mèn, cùng thế giới các loài côn trùng được nhân hóa sống động. Tác phẩm kể lại hành trình trưởng thành, từ ngông cuồng đến biết sống có trách nhiệm của thanh niên buổi ấy. Trong lời NXB cuốn Dế Mèn phiêu lưu ký (NXB Măng non, 1981, tr.5) có viết: “Dế Mèn là một hình ảnh đẹp, tích cực, giàu lý tưởng trong xã hội lúc đó, khi mà các thế lực thống trị Nhật – Pháp đang siết chặt xiềng xích áp bức dân ta và trên thế giới”. “Không chịu nổi cảnh sống quanh quẩn, tù túng, tầm thường, chú Dế Mèn của chúng ta cất bước ra đi tìm ý nghĩa của cuộc đời”. Dế Mèn phiêu lưu ký đã được in ra nhiều thứ tiếng trên thế giới trước đây, như: Nga, Rumani, Ba Lan, Mông Cổ, Nhật Bản, Nam Tư, Ấn Độ, Miến Điện, Đức, Pháp… Các truyện O Chuột (1942) là truyện đồng thoại về loài chuột, khắc họa đời sống loài vật gắn với xã hội loài người. Trê Cóc (1943) kể chuyện về các loài sống dưới nước, mang màu sắc dân gian, hài hước. Ngoài ra còn nhiều truyện ngắn đồng thoại khác in rải rác trong các tập truyện thiếu nhi đều lấy thế giới tự nhiên làm không gian nghệ thuật.

 

Bìa cuốn Dế Mèn phiêu lưu ký - ảnh T.N.T

 

Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.

 

Người lưu giữ “hồn Hà Nội” qua tùy bút, bút ký

Bên cạnh truyện thiếu nhi, Tô Hoài còn được xem là bậc thầy về thể loại tùy bút – bút ký, đặc biệt khi viết về Hà Nội. Ông đã góp phần tạo nên một phong cách tùy bút hiện đại, giàu chất đời sống và ký ức văn hóa đô thị. Các tác phẩm tùy bút – bút ký tiêu biểu (đặc biệt về Hà Nội) của Tô Hoài như: Chuyện cũ Hà Nội (1994), Hà Nội trong mắt tôi (1995), Cát bụi chân ai (1992, hồi ký với nhiều trang viết sâu sắc về Hà Nội văn nghệ sĩ), Nhớ Hà Nội (nhiều bài in rải rác). Và các tác phẩm văn xuối khác như Truyện Tây Bắc (1953), Miền Tây (1967), Tự truyện (1978)… Trong đó, Chuyện cũ Hà Nội và Hà Nội trong mắt tôi được xem là đỉnh cao của thể loại tùy bút viết về đô thị.

Đóng góp về phong cách tùy bút – bút ký của Tô Hoài là rất lớn. Ông được coi là người lưu giữ “ký ức Hà Nội” bằng văn chương. Tô Hoài ghi lại nếp sống, phong tục, tiếng nói, hàng quán, phố phường Hà Nội xưa để biến nó trở thành “bảo tàng sống” của văn hóa Thăng Long. Lối viết văn của ông giàu chất tự sự kết hợp ký ức cá nhân. Ông không chỉ tả cảnh mà kể chuyện người thật, việc thật, hòa quyện giữa hồi ức riêng và lịch sử chung của thành phố. Giọng điệu trong các tác phẩm này cho thấy sự ung dung, thư thái, tinh tế và giàu khẩu khí Hà Nội. Vừa hóm hỉnh, vừa trầm tư, giàu hoài niệm. Chỉ riêng cuốn Chuyện cũ Hà Nội, trong lời giới thiệu, Nguyễn Vinh Phúc viết: “… Có thể coi là một tập điều tra xã hội học về Hà Nội thời nửa đầu thế kỷ XX bằng văn chương. Bất luận bạn đọc ở giới nào cũng có thể tìm được những điều mình cần biết mà chưa biết. Chuyện cũ Hà Nội được giải thưởng Thăng Long cũng vì lẽ đó” (Chuyện cũ Hà Nội, Tô Hoài, NXB Hà Nội, 2003, tr.10).

 

Những giai thoại thú vị về nhà văn Tô Hoài

Nhà văn Tô Hoài không chỉ để lại một sự nghiệp văn chương đồ sộ, mà còn có rất nhiều giai thoại thú vị về cuộc đời và sáng tác, phản ánh một cá tính nghệ sĩ hóm hỉnh, cần mẫn và gắn bó sâu nặng với đời sống.

 

Tác giả Trần Ngọc Tuấn

 

Một, giai thoại “Dế Mèn ra đời từ… trò nghịch đất”: Thuở nhỏ, Tô Hoài sống ở làng Nghĩa Đô ven Hà Nội. Ông mê quan sát côn trùng, thường đào hang dế, nuôi dế đá nhau. Những trò chơi trẻ con ấy sau này trở thành vốn sống quý giá để ông viết Dế Mèn phiêu lưu ký. Ông từng nói vui: “Tôi viết Dế Mèn vì hồi bé nghịch đất nhiều quá”. Đây là giai thoại cho thấy tác phẩm lớn bắt nguồn từ trải nghiệm đời thường.

 

Nhà văn Tô Hoài được trao nhiều giải thưởng danh giá, như Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 1996. Nhân dịp kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội (2010), Tô Hoài được trao giải “Bùi Xuân Phái – Vì tình yêu Hà Nội” (Love for Hanoi award) – một giải dành cho những cá nhân có đóng góp nổi bật trong việc sáng tác, nghiên cứu, hay quảng bá về Thủ đô Hà Nội, bởi ông đã viết hơn 30 tác phẩm về Hà Nội và có ảnh hưởng sâu sắc tới hình ảnh, văn hóa của thành phố trong văn học Việt Nam.

 

Hai, giai thoại “nhà văn mê đi bộ”. Tô Hoài rất thích đi bộ khắp Hà Nội. Ông bảo: “Muốn viết về Hà Nội thì phải đi bằng chân, không thể ngồi bàn mà tưởng tượng”. Nhờ những cuộc lang thang ấy, ông nhớ từng ngõ nhỏ, từng quán nước, từng giọng rao. Sau này, các tùy bút Hà Nội của ông đầy ắp chi tiết sống động chính từ những bước chân đó.

Ba, giai thoại về trí nhớ phi thường. Nhiều bạn văn kể rằng Tô Hoài nhớ gần như tuyệt đối những câu chuyện cũ, người cũ, địa danh cũ của Hà Nội. Chỉ cần nghe nhắc một cái tên, ông có thể kể lại cả một giai thoại dài. Vì thế, nhiều người gọi ông là: “Kho tư liệu sống của Hà Nội”.

Ngoài ra, các giai thoại về tính cách hóm hỉnh: “Viết lâu thì thành thói quen. Không viết thì ngứa tay”. Câu nói này trở thành giai thoại quen thuộc trong giới văn nghệ. Hay giai thoại về tình bạn văn chương với Nguyễn Tuân, Nam Cao, Nguyên Hồng… Trong hồi ký Cát bụi chân ai, ông kể nhiều câu chuyện “hậu trường đời sống văn nghệ sĩ” Hà Nội trước Cách mạng tháng 8 với những trang hồi ức được xem như “biên niên sử văn chương” sống động. Khi đã ngoài 90 tuổi, Tô Hoài vẫn tự viết mỗi ngày. Ông nói: “Còn viết được là còn sống”.

T.N.T

Nguồn: Tạp chí Giáo dục TP.HCM

Bài viết liên quan

Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm