TIN TỨC

“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-06-13 12:42:27
mail facebook google pos stwis
551 lượt xem

TRẦN HOÀI ANH

1. Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian. Bởi, nếu không có sự nghiệm sinh từ những được mất của của mình trong cuộc đời, thi nhân không dễ gì viết được những câu thơ giàu mỹ cảm triết luận nhân sinh mà khi đọc lên, ta không khỏi thấy nao lòng khi những ngữ ngôn thi ca chạm vào tâm cảm: “Lá về / theo gió cuốn đi/ Cành còn ở lại / nuối gì chuyển xoay/ Thời gian khắc tự an bày/ Dòng đời luôn chảy, chẳng ngoài riêng ai” (Dâu bể)

Rồi, cứ thế, thi cảm này trôi mãi như một tâm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân, là mạch nguồn làm nên những dự phóng sáng tạo kết tinh từ những trải nghiệm của thân phận nhà thơ như một hiện hữu chứ không phải tồn tại. Và đây là căn tố tạo nên những dằn vặt, ưu tư trong thơ Hoàng Thân như anh đã tự vấn: “Đời người tựa áng mây bay/ Cõng mưa đong nắng đêm ngày về đâu/ Rốt rồi tàn cuộc bể dâu / Niềm tin có đủ cho nhau đi về/ Ân tình chớ đổi lợi danh/ Nghĩa nhân vun đắp chớ đành đoạn nhau/ Phù hoa há mãi còn sau/ Niềm tin đánh mất bàn tay được gì” (Có đủ cho nhau). Để rồi, từ những nghĩ suy, trăn trở, ưu lo về phận người giữa cõi đời vô định nhuốm màu hiện sinh này, thi nhân đã nói lên những được mất vô thường trong cuộc sống như một sự tự vấn về ý nghĩa của hiện hữu từ cuộc đời chuyển hóa vào thơ: “Chừng như sau một lần đau/ Người càng thấu hiểu vì nhau vậy mà” (Chở nặng thời gian). Và, sự tồn sinh trong vũ trụ cũng chỉ là sự vận hành tất yếu của những quy luật biện chứng: “Chồi non cần nắng lên xanh/ Lá kia chẳng đậu bởi cành đà khô/ Đâu vì con nước đẩy xô/ Mà so rộng hẹp biển - hồ được sao” (Tịnh). Hiểu được phép biện chứng mang tính tất yếu từ những qui luật của đời sống trong sự vận hành của vũ trụ, con người sẽ thấy mình cần cái gì, mong cái gì, gìn giữ cái gì, mơ ước cái gì để cuộc sống của mình mỗi ngày sẽ không trôi đi trong vô vọng, vô ích, vô vị và vô nghĩa. Và, mỗi ngày sống là mỗi ngày tự chiêm nghiệm về cuộc đởi, về sự tồn sinh của thân phận. Đây là một trong những nhân tố làm nên cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân.

2. Thơ Hoàng Thân, vì thế là thơ của những ý niệm mang màu sắc hiện sinh hòa quyện trong những ưu tư vô thường của Phật giáo và vô vi của Lão giáo. Những ý niệm, suy tưởng này trong thơ Hoàng Thân không phải là mới, vì đây là điều mà nhiều văn nhân, thi sĩ cũng luận bàn trong sáng tác của mình và mỗi người có cách nói riêng theo mỹ cảm nghệ thuật của họ. Tuy nhiên không phải văn thi sĩ nào cũng nói về những ý niệm tư tưởng này một cách sâu sắc, để có thể chạm đến những ưu lo của người đọc. Rất may, thơ Hoàng Thân đã có những bài, những câu thơ, tuy không nhiều, khi luận về những điều ấy đã chạm được tâm cảm người đọc và tạo nên những thanh âm đồng vọng trong tâm hồn con người. Đó là những bài thơ trĩu nặng ưu tư về kiếp nhân sinh mà ngay tiêu đề bài thơ cũng gợi trong tâm thức người đọc những trở trăn về cuộc đời, về thân phận như: Dâu bể; Có đủ cho nhau, Chở nặng thời gian, Nghe mùa thay lá, Tịnh, Biết có an bằng, Khúc giao mùa, Nhân sinh... Và trong những bài thơ này, có lẽ Nhân sinh là bài thơ thể hiện rõ nhất cảm thức của sự kết hợp hài hòa giữa những suy tưởng mang màu sắc triết luận Đông - Tây: “Nắng mưa mấy độ đã từng/ Không không có có cũng chừng ấy thôi/ Tôi về nhặt lấy đời tôi/ Tự nhiên như đã, mặc trôi phận người / Nhân sinh kẻ khóc người cười/ Kẻ thành kẻ bại, dăm mười lạ quen/ Đếm đong chi / những sang hèn /Ta bà / cát bụi / vĩnh hằng được đâu/ Phàm thì / thế cuộc bể dâu/ Lòng người thâm hiểm / nông sâu khó lường/ Vậy nên đừng cố tỏ tường/ Vì trong sự thật vốn thường đắng cay/ Khi người đã quyết rũ tay/ Là khi đã hết, chớ quay lại vì/ Đã không tôn trọng, rời đi/ Đã không có chỗ, níu ghì cũng không”. (Nhân sinh)

Trong suy niệm của chủ nghĩa hiện sinh sự hiện hữu (Existence) của thân phận con người giữa cuộc đời luôn gắn với tâm thức lưu đày. Đây là một khái niệm được Albert Camus dùng như một ý niệm có tính siêu hình để nói về thân phận con người khi “bị ném vào thế giới” (Heidegger). Bởi, theo Albert Camus, lưu đày là một thảm trạng khi con người trải nghiệm tình cảm phi lý và chợt nhận ra sự hiện hữu của mình như bị đày ở một nơi xa lạ mà thế giới chung quanh chỉ là những “sa mạc hoang tàn”. Thơ Hoàng Thân, xét về một phương diện nào đó cũng thể hiện dấu chỉ của tâm thức lưu đày trong nỗi phiêu bạt của cuộc đời mỗi con người, trong đó có cuộc sống thi nhân: “Chân kiêu bạt /đứng ngang chiều lữ thứ/ Biết về đâu / những nỗi nhớ khôn nguôi / Căn gác trọ / giấu nỗi buồn phong kín/ Câm nín nằm nghe / từng tiếng mưa bay” (Kỷ niệm xô lòng). Thế nên, ý nghĩa của hiện hữu trong cái nhìn của chủ nghĩa hiện sinh không bao giờ là một quá trình trọn vẹn, viên mãn mà chỉ là những khoảnh khắc, ở đó con người được tự do sống là chính mình. Có hiểu được điều này chúng ta mới trân quí những gì cuộc sống đã đem đến cho ta.

Vì thế, một biểu hiện khác của ý niệm hiện sinh trong thơ Hoàng Thân mà chúng ta có thể cảm nhận được chính là sự cảm nghiệm về lẽ tuần hoàn của vũ trụ biểu hiện qua sự chuyển động của không - thời gian gắn với cuộc sống và phận người. Đó là điều, thơ Hoàng Thân có thể chạm đến chân tâm người đọc. Những cảm nghiệm này trong thơ anh tuy không mới, cũng không xa lạ với thi pháp thơ truyền thống khi luận về sự chuyển dịch của không - thời gian trong thơ nhưng đó là điều cần thiết của người làm thơ và là một trong những yếu tính kiến tạo nên tư duy thơ của người nghệ sĩ: “Thời gian vun vút bóng câu/ Sông quê nước chảy về đâu tháng ngày/ Dòng xanh, xanh biếc một màu/ Sóng xô dẫu chậm dẫu mau vẫn hoài. (Lời quê). Vậy đó, thời gian vẫn trôi, dòng sông vẫn chảy như chẳng bao giờ đứng yên và con người vẫn cứ trôi theo giòng đời. Sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ cũng là sự vận chuyển của không - thời gian trong thân phận con người, nên từng khoảnh khắc qua đi trong mỗi ngày, ta không còn là ta của hiện hữu. Bởi thế, triết gia nổi tiếng của Hy Lạp cổ đại Heraclitus mới xác quyết: “Không ai tắm hai lần trên cùng một dòng sông”. Chính vì vậy, cuộc đời con người mới mãi chuyển lưu theo sự chuyển lưu của vũ trụ mà nhiều khi chúng ta không thể định đoạt được phận số của mình. Thơ Hoàng Thân đã suy ngẫm về điều này khá sâu sắc: “Mình đã hẹn mùa xuân này về lại / Bao năm rồi còn mải miết tha hương/ Trời đất rộng biết cánh chiều có mỏi/ Thời gian trôi dâu bể cuộc vô thường” (Hẹn). Bởi lẽ: “Thị thành / xê dịch mãi tìm/ Chợt hay ngoảnh lại / nỗi niềm chân quê/ Đà bao năm tháng bộn bề/ Bỏ quên thềm cũ bên lề bể dâu” (Chở nặng thời gian). Để rồi, tất cả chỉ còn là hoài niệm, là nuối tiếc, là nhớ mong khi mọi sự đã trôi đi và dấu tích để lại chỉ là những hình bóng mờ xa trong những khoảng lặng dư âm của không - thời gian vô định: “Vai gầy chải tóc ra hong / Nghe mùa thay lá bên lòng còn xanh/ Nghe con sóng vỗ đầu gành/ Chợt thương màu nước quẩn quanh bến chiều” (Nghe mùa thay lá) và : “Người về/ nằng nặng sầu vương/ Bờ xưa bến cũ / niềm thương vơi đầy/ Hoàng hôn lùa nắng qua tay/ Môi thơm vừa chạm đã say cuộc trần” (Đã thuộc về nhau). Thơ Hoàng Thân luôn có những liên tưởng bất ngờ tạo nên những hình ảnh thơ lạ, “găm” được vào tâm hồn người đọc. Phải chăng, đây là những cố gắng của anh trong việc chọn lựa chất liệu ngữ ngôn để tạo nên những hình ảnh thơ sinh động: “Hoàng hôn lùa nắng qua tay/ Môi thơm vừa chạm đã say cuộc trần” (Đã thuộc về nhau)

Thế nên, sự vận chuyển của thời gian, của tạo vật trong thơ Hoàng Thân cũng chính là sự vận chuyển của phận người trong cõi nhân sinh mà nhiều khi chúng ta không thể nào quyết định được sự hiện hữu của mình. Bởi, đời người là một cuộc phiêu linh giữa chốn vô thường: “Người ngồi đếm tiếng mưa tan/ Cơn mưa đến sớm lá vàng chơ vơ/ Ta ngồi ghép nốt vần thơ/ Hình như lỗi vận nên ngờ nghệch câu/ Gió mưa rồi sẽ về đâu/ Hợp tan, tan hợp, bể dâu vô thường” (Khúc giao mùa). Có thể nói, các câu thơ trên đã chuyên chở ý niệm về cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân nên mang sắc màu suy tưởng.

 3. Như đã nói, trong ý niệm của chủ nghĩa hiện sinh, sự hiện hữu của mọi sinh thể, trong đó có con người chỉ là những khoảnh khắc với một tương lai bất định. Nhận thức được qui luật biến dịch này nên trong thơ Hoàng Thân thường hướng về những hoài niệm, những ký ức đã neo lại trong tâm thức thi nhân ở từng phút giây kỷ niệm của đời mình. Đây cũng là một phương diện thể hiện cảm thức hiện sinh không chỉ trong Nghe mùa thay lá mà gần như hiện diện ở hầu hết các tập thơ khác của Hoàng Thân suốt hành trình sáng tác như: Nguyên màu thời gian (2016), Miên khúc (2018), Dòng lữ thứ (2019), Trầm tích (2020). Những cảm thức hoài niệm đó đã dệt nên những nuối tiếc, nhớ thương chất ngất trong tâm hồn thi nhân làm nên những “trầm tích”của ký ức thơ: “Nuối gì qua mấy bão giông/ Mấy mùa nước lũ lòng sông vẫn hoài/ Thời gian nào thể ngược xoay/ Đành trầm tích lại tháng ngày riêng mang” (Trầm tích). Còn trong Nghe mùa thay lá, cảm thức luyến lưu về những hoài niệm như một hành trình sống mà thi nhân đã “chỡ nặng” theo từng khoảnh khắc trong không - thời gian và kết tinh thành thi tứ đầy ám ảnh: “Người về/ vốc nước bến xưa/ Sông quê mát rượi /thỏa vừa khát khao/ Bao nhiêu kỷ niệm ngọt ngào/ Len vào ký ức dạt dào con tim” (Chỡ nặng theo thời gian).

Và, cảm thức hoài niệm đó như một ám ảnh hiện sinh làm nên những dự phóng sáng tạo, nên nguồn thi hứng trong Nghe mùa thay lá, thể hiện khá tinh tế ở các thi phẩm như: “Con về quê mẹ”, “Con thèm tiếng mẹ ru”, “Về đây”, “Hạ nhớ”, “Đã thuộc về nhau”, “Tóc thơm”, “Gởi lại mùa thư”, “Bão lòng”, “Nước soi bến lở”, “Kỷ niệm xô lòng” ... tạo nên những mỹ cảm riêng có của tập thơ còn đọng lại trong tâm cảm người đọc khi tiếp nhận tập thơ này. Bởi, khi chạm đến những ký ức thơ, người đọc không chỉ cảm nhận về sự hoài niệm của thi nhân mà còn thấy cả những ký ức của mình trong những vần thơ đó. Đó là những ký ức đẹp về tuổi thơ qua tình cảm người Mẹ gắn kết trong tình yêu quê hương với những hình ảnh thơ bình dị, chân mộc mà ẩn chứa trong đó những nghĩa tình sâu nặng của tình mẫu tử mà nếu không có sự yêu kính sâu sắc đối với bậc sinh thành, khó viết được những vần thơ lắng sâu như vậy: “Con về quê Mẹ chiều nay/ Để nghe hơi ấm vòng tay Mẹ gầy/ Tuổi thơ ùa chảy về đây/ Nghe thương, nghe nhớ trải đầy lối xưa” (Con về quê Mẹ); Hay thê thiết, cảm động hơn như: “Chạn buồn/ thương cả nồi niêu/ Bếp buồn / thương cả khói chiều/ vào không/ Thu còn chưa chạm triền đông /Mà cay mắt mẹ, chạnh lòng chái quê/ Ngạch buồn / mong bước con về / Ngõ hờ chẳng khép/ mưa rê nỗi sầu (Con thèm tiếng mẹ ru nôi). Không có một tình yêu đủ lớn và nồng nàn với quê hương, với người Mẹ yêu kính của mình, không thể viết nên những vần thơ sáng đẹp và tha thiết như vậy. Bởi thế, thi sĩ Đỗ Trung Quân trong thi phẩm “Bài học đầu cho con”, được nhạc sĩ Giáp Văn Thạch phổ nhạc thành ca khúc “Quê hương” nỗi tiếng, đã xác quyết: “Quê hương là gì hở mẹ/ Mà cô giáo dạy phải yêu/ Quê hương là gì hở mẹ/ Ai đi xa cũng nhớ nhiều (...) Quê hương mỗi người chỉ một/ Như là chỉ một mẹ thôi/ Quê hương nếu ai không nhớ...” (Bài học đầu cho con)

  Vâng! “Quê hương nếu ai không nhớ...”, một câu hỏi tu từ đặt ra như một dấu chỉ của tình yêu quê hương, khiến mỗi người chúng ta khi chạm đến những ngữ ngôn trong bài thơ, không khỏi thấy chạnh lòng khi nghĩ về quê mẹ của mình, nhất là những người, vì một hoàn cảnh nào đó phải sống ly hương. Những hoài niệm về mẹ, về quê hương trong thơ Hoàng Thân cũng không nằm ngoài qui luật tình cảm này vì thế, nó chạm đến trái tim người đọc...

 Một điều không thể không nói đến khi luận về cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân, khi anh gợi thức về những hoài niệm, những ký ức từ những trải nghiệm của thi nhân, đó là những nhớ mong về tình yêu trong trắng của tuổi mộng mơ khi còn cắp sách mà mỗi bước đi của thời gian được tính bằng những mùa phượng vĩ thắm đỏ sân trường, nơi thi nhân đã dệt bao mơ ước: “Niềm mơ nhuộm đỏ bên thềm/ Phượng thêm mấy hạ càng thêm ngọc ngà / Sân trường ve vẫn thiết tha/ Dõi người xưa cũ phương xa trở về” (Hạ nhớ). Thế nên, sự mong ước trở về với “kỷ niệm” để gặp lại dấu chân xưa, con đường cũ, nơi mùa thu qua đi trong mơ màng bên dòng sông trăng, bên bến nước... luôn là điều day dứt trong tâm cảm thi nhân: “Về đây /Đếm bước thu tàn/ Đường xưa lá đổ/ ngỡ ngàng dấu chân/ Đã từng xao xuyến bâng khuâng/ Dòng sông, bến nước, trăng ngần nhớ ai” (Về đây). Và, hình như, trong cảm thức của Hoàng Thân, những hoài niệm này không chỉ là những ký ức khó mờ phai mà đó còn là một món nợ ân tình ám ảnh tâm cảm thi nhân suốt cuộc đời. Phải chăng, vì vậy, ở tập thơ nào của Hoàng Thân cảm hứng về tình yêu vẫn luôn hiện hữu như một tâm thức hiện sinh: “Tình còn / nợ một vòng tay/ Bến khao khát nhớ / sóng lay vỗ bờ / Nhỡ mai / mây trắng hững hờ /Lòng ta nắng hạ / đợi chờ mưa qua/ Người về / người lại cách xa/ Thuyền vui biển rộng/ mơ hoa thuở nào / Mộng đành /trả lại trăng sao/ Dù soi bóng nước /dạt dào mỗi khi” (Nợ một vòng tay). Chẳng biết, cảm hứng này chỉ là những khoảnh khắc bất chợt, hay đó là những ám ảnh luôn dày vò tâm cảm thi nhân? Câu trả lời chắc còn bỏ ngõ vì đây chưa phải là tập thơ sau cùng của anh!?  Và, nếu còn duyên nợ với thơ, chắc những cảm hứng này cũng luôn dệt nên những mộng ước trong thơ Hoàng Thân, để anh mãi đi tìm, cho dẫu là đi tìm cái không còn hiện hữu, cái đã biến thành ảo ảnh: “Biết chiều nay nín gió/ Ai dìu mây lên cao?/ Miền em qua không nắng/ Ta muôn trùng nao nao” (Lời tình si). Bởi, nói như Huỳnh Phan Anh: “Thơ là mộng ước. Trong mộng ước không còn cái hữu hạn. Mộng ước là cơ hội để con người mơ màng vô hạn”.[1] Và đây chính là những nhân tố làm nên phẩm tính trong hành trình sáng tạo thi ca.

4. Nghe mùa thay lá, tập thơ thứ 5 của Hoàng Thân xuất hiện trên thi đàn lần này đã xác tín niềm đam mê thi ca của Hoàng Thân, một thầy thuốc mà thực tiễn của y nghiệp vốn xa lạ với sự lãng mạn của thi ca. Nhưng đọc thơ Hoàng Thân, ta thấy phẩm tính thi ca đến với anh một cách tự nhiên như một phần không thể thiếu của đời anh. Phải chăng, sự chọn lựa thi ca như một cuộc đời khác, bổ sung hoàn thiện cuộc đời thầy thuốc của anh. Đó là một sự lựa chọn mang cảm thức hiện sinh mà nếu thiếu nó chắc hẳn đời anh sẽ thiếu đi một phần sắc hương của cuộc sống tâm hồn vốn mang nhiều cảm xúc trước con người và tạo vật, điều đã làm nên tính nhân bản trong thơ Hoàng Thân, nhằm hướng đến sự hoàn thiện phẩm cách của anh: một Thi nhân – Thầy thuốc. Nói như P. Reverdy: “Nhà thơ gần như chỉ sống bằng cảm giác, hướng lên ý tưởng, và rốt cuộc, chỉ bày tỏ những tâm tình”[2]. Và, đây cũng là điều được anh chia sẻ khá thành thực trong thơ của mình: “Đà sinh/ cốt cách hình hài/ Đã soi Nhật Nguyệt /há nài bể dâu / Sông kia càng tịnh càng sâu/ Nước trong là bởi đủ lâu lắng lòng” (Bể dâu).

 Chia sẻ về “Cảm thức hiện sinh” trong Nghe mùa thay lá của Hoàng Thân, tập thơ đã thể hiện khá rõ những cố gắng của anh về khát vọng làm mới thơ mình. Nhưng có lẽ, để có sự hoàn thiện trong thi pháp thơ của mình, thi nhân cần phải có thêm “độ chín của tư duy và chiều sâu tâm hồn” trong việc tinh lọc ngữ ngôn, ảnh hình thơ, cũng như việc chọn lựa, tứ thơ, thể thơ, kết cấu cho từng bài thơ phù hợp với sở trường của mình. Có thể nói, điểm mạnh của thơ Hoàng Thân là thơ trữ tình và thể thơ phù hợp với anh là thơ lục bát. Tuy nhiên, thể thơ lục bát dễ làm nhưng khó thành công, cần có sự phá cách để hiện đại hóa thể thơ truyền thống này. Rất may ở tập thơ Nghe mùa thay lá Hoàng Thân đã có những thể nghiệm bước đầu, có thể xem là thành công, thể hiện trong việc ngắt nhịp để tạo nhạc tính cho thơ, cũng như việc chọn lựa ngôn từ để kiến tạo hình ảnh thơ mà những câu thơ viện dẫn trong bài, có thể minh chứng cho điều đó. Đây cũng là điều khả dĩ tạo nên dấu ấn thơ Hoàng Thân trong lòng người đọc, còn các thể thơ khác, viết theo lối chính luận, không phù hợp với giọng thơ của anh, vốn thiên về trữ tình. Bởi, theo Léopardi: “Thơ trữ tình có thể coi như tổng hợp hết cả thơ, là tuyệt đỉnh của thơ, cũng như thơ là tuyệt đỉnh tiếng nói của loài người”.[3] Vì vậy, để có những câu thơ hay, những bài thơ hay đọng lại trong tâm cảm người đọc, nhà thơ cần phải để cho cảm xúc mình lắng sâu, chín dần theo suy tưởng của tư duy sáng tạo, mới mong chạm được tới trái tim người đọc. Nói như Friedrich Schiller: “Tiềm thức hợp với suy tưởng, tạo thành nhà thơ”.[4] Còn Alain thì cho rằng: “Một bài thơ hay, nẩy nở dần dần như một trái chín”.[5]

 Tôi và người đọc kỳ vọng sẽ còn tìm thấy những trái chín tỏa hương trong thơ Hoàng Thân sau tập thơ Nghe mùa thay lá, nếu anh còn say mê với thơ và còn khát vọng dấn thân trên con đường sáng tạo thi ca lắm khổ đau nhưng cũng ngập tràn thi vị và quyến rũ giữa chốn nhân gian đầy những bất an này. Bởi, theo Huỳnh Phan Anh: “Thơ bộc lộ để không bộc lộ gì hết. Nó bộc lộ để giấu ẩn (…) Thơ ở giữa có và không, thực hữu và hư vô, mời gọi và từ chối”.[6] Và, trong những khoảng lặng và khoảng trắng của những suy tưởng giàu mỹ cảm vốn là yếu tính của thi ca, hy vọng, thơ Hoàng Thân sẽ là lời “mời gọi” đối với độc giả yêu thơ ca...

 Xóm Đình An Nhơn, Gò Vấp, 7/5/2026


[1] Huỳnh Phan Anh, “Tại sao những bài thơ tình đó”, Văn, số 91 ra ngày 1/10/1967, tr.93

[2]Đoàn Thêm (trích dịch), Quan niệm và sáng tác thơ, Viện Đại học Huế Xb., 1962, tr.201

[3] Léopardi) (Đoàn Thêm (trích dịch), Quan niệm và sáng tác thơ, Viện Đại học Huế Xb., 1962, tr.194

[4] Đoàn Thêm (trích dịch), Quan niệm và sáng tác thơ, Viện Đại học Huế Xb., 1962, tr.189

[5] Trần Hoài Anh, Thơ - Quan niệm và cảm nhận, Nxb. Thanh niên, H, 2010, tr.292

[6] Huỳnh Phan Anh, Văn chương và kinh nghiệm hư vô, Nxb. Hoàng Phương Đông, Sài Gòn,1968, tr.104

Bài viết liên quan

Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Trần Hạ Vi và hành trình nỗi nhớ
Phiến hạ là tập thơ thứ 3 của Trần Hạ Vi. Là người quan tâm đến đời sống văn học, tác giả và tác phẩm, nên trong những người Việt sống và viết ở hải ngoại, tôi khá quan tâm đến các tác giả như Trương Anh Tú (Đức), Võ Thị Như Mai (Úc) và Trần Hạ Vi (Canada). Vì thế, tôi tìm đọc Phiến hạ.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm