TIN TỨC

Một phong vị rất riêng trong bút ký Ăn Tết ở Bát Tràng

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-01-22 10:30:53
mail facebook google pos stwis
1634 lượt xem

KIỀU BÍCH HẬU

Chờ mãi rồi chị phát hành báo Văn nghệ cũng gại gại vào cửa gỗ nhà tôi, cố nhét tờ báo Văn nghệ Tết 2026 qua cửa sắt kéo. Vừa lúc tôi chạy từ tầng hai xuống, mở cửa gỗ nhận tờ báo Tết xinh đẹp, ngát hương mực in. Thế là có tờ báo Văn nghệ Tết rồi! Thêm một cành đào cắm lọ sứ cao cổ nữa là đủ Tết! Trước kia, mấy nhân sĩ nghèo thường bảo nhau như thế.

Đọc bút ký “Ăn Tết ở Bát Tràng” của nhà văn Vũ Mai Phong, tôi khoái nhất những đoạn kể về món ăn hương vị Tết ở đây. Món Tết ở Bắc thường giống nhau, mà lại có cái rất khác nhé. Tôi háo hức đọc từng dòng để kiếm cái vị món ăn, hoặc cách chế biến kiểu khác của người Bát Tràng so với quê tôi (làng Thanh Đặng, xã Lạc Đạo, Hưng Yên).

Nhà văn Vũ Mai Phong.

Vũ Mai Phong là người tinh tế, mà một khi anh đã khen bánh chưng Bát Tràng “ngon nhất Việt Nam” thì hẳn là khó nghi ngờ. Tôi soi mắt vào từng chữ xem ngon là ngon như thế nào cho xứng lời khen ấy chứ. Và Phong rất khéo léo tung ra thương hiệu bánh chưng Bà Bông! Nói đến các thương hiệu ẩm thực Việt hoặc Trung Quốc, cứ phải đính kèm từ “Bà” vào thì mới đảm bảo uy tín, kiểu như giới trẻ nay thường nói “cơm mẹ nấu”. Hóa ra bí kíp của “Bà Bông” là loại bánh chưng nhỏ như lưỡi mèo, chỉ nấu từ 5h sáng tới qua 10h sáng là vớt. Chứ không như bánh chưng lớn ở nhà tôi, phải nấu đủ 12 tiếng thì bánh mới chín. Bánh nhỏ thế vừa một người ăn hết xoẳn, không phải cắt tư như bánh chưng tết bình thường. Ăn ít thì hẳn là ngon rồi! Vả lại ăn nóng, thợ gốm làm việc chân tay, nhanh đói, đang đói ngấu mà được ăn cái bánh chưng nóng vừa vớt từ nồi gang ra thì cao lương mỹ vị gì cũng chẳng sánh nổi.

Nếp nhung, nếp cái hoa vàng thì tôi biết rõ rồi, vì năm nào mẹ tôi cũng chọn loại nếp đỉnh ngon đó để gói bánh chưng, nhưng Vũ Mai Phong lại tiết lộ loại nếp quýt mà người Bát Tràng chọn, khiến tôi thêm ngỡ ngàng. Nếp quýt như thế nào nhỉ? Có nhẽ năm nay tôi phải lùng sục cho bằng được yến nếp quýt nấu bánh chưng chứ lỵ! Để còn có câu chuyện khác lạ mà khoe với đứa em dâu mấy ngày Tết! Cái lạ bằng tạ cái quen cơ mà. Phong còn kể nhân bánh chưng Bát Tràng có gừng, cái này cũng lạ với tôi. Chẳng hiểu vị gừng vào bánh thì có làm tôi thích hay không? Lại có nhẽ cũng cần về Bát Tràng thử bánh Bà Bông trước khi ra tay hành động! Vũ Mai Phong đã thành công trong việc dụ được người đọc siêu bận bịu là tôi có mong muốn chắt ra một ngày để tới Bát Tràng rồi đây. Lại còn nấu bánh bằng củi phi lao nữa thì quả là độc đắc. “Trước kia, làng làm lò củi, rất sẵn củi phi lao nên cái nồi bánh chưng vì thế mà được nấu rền, để ý kỹ còn thấy cả mùi thơm của khói củi phi lao quện vào lá bánh.” – Phong viết. Quả là chi tiết này thì khó bắt chước lắm đây. Thêm chi tiết đắt nữa, đó là “cái bánh chưng Bát Tràng để tủ lạnh vẫn mềm, nhuyễn mà vẫn giữ được vị thơm ngon.” – Cái này thì bánh chưng làng tôi thua cái chắc rồi, vì khi cất tủ lạnh, bánh làng tôi thường cứng, thậm chí bị lại gạo. Muốn ăn cần hấp lại rất lâu.

Đặc biệt, tác giả đã rất thành công khi khơi gợi được cái “tinh” trong ẩm thực của người dân nơi đây. Những món ăn đặc sản như măng mực, canh bóng, hay món "măng vẩy" trứ danh được miêu tả cầu kỳ, cho thấy sự hào hoa và sành sỏi của người Bát Tràng. Độc giả chắc chắn sẽ ấn tượng với món mồi cá mòi và cá lành canh – những sản vật của dòng sông Hồng được chế biến tinh tế, thể hiện sự kết nối mật thiết giữa làng nghề và dòng sông mẹ.

Không chỉ dừng lại ở ẩm thực, Vũ Mai Phong còn thể hiện sự uyên bác khi tìm hiểu về lịch sử và nề nếp gia phong của làng qua lời kể của nhà nghệ nhân Tô Thanh Sơn hay những điển tích về "lục tộc Bát Tràng". Tác giả đã khéo léo lồng ghép triết lý về "Ngũ hành" – Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ – hội tụ trong nghề gốm, tạo nên sức sống bền bỉ cho vùng đất này. Câu nói “Sinh ký Bát Tràng nam tử quý - Tử quy Kiêu Kị thượng linh thần” được nhắc lại như một niềm tự hào và sự gắn kết truyền đời của người dân với mảnh đất quê hương. Ở một đoạn bài viết, tác giả dẫn dắt chúng ta vào không gian của làng cổ bằng những ký ức rất riêng: từ bộ ấm chén men rạn đến con linh vật gốm mới ra lò. Nhưng cái hay của Vũ Mai Phong là không dừng lại ở vẻ bề ngoài của gốm, mà anh đi sâu vào "phong vị Bát Tràng" qua những con người cụ thể, những nhân vật sống động biết đánh thức sự tò mò muốn đến tận nơi để được nghe họ nói, chạm vào những thức, những món người Bát Tràng làm ra.

Đọc đến những trang cuối, người đọc cảm nhận được nỗi trăn trở nhưng cũng đầy kỳ vọng của tác giả về tương lai của làng nghề. Trong nhịp sống hiện đại, khi Bát Tràng đang chuyển mình thành một điểm du lịch văn hóa, Vũ Mai Phong vẫn nhận ra cái "tĩnh" trong tâm hồn những người thợ gốm. Mỗi sản phẩm gốm là "một sự gửi gắm của tâm hồn".

Với ngôn ngữ giàu hình ảnh và cảm xúc, "Ăn Tết ở Bát Tràng" của Vũ Mai Phong thực sự là một trang ký đẹp, như một bức tranh Đông Hồ thần thái, gợi thương gợi nhớ, khiến ta lưu luyến với quê nhà ngay khi ta vẫn đang dính chân vào bùn đất nhà quê. Bài ký còn là một bản giao hưởng giữa quá khứ và hiện tại. Tác phẩm đã chạm được vào phần hồn cốt linh thiêng của làng nghề, khiến người đọc thêm yêu, thêm trân trọng những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mỗi độ Tết đến, Xuân về. Đây thực sự là một mảnh ghép đẹp trên số báo Văn Nghệ chào năm mới 2026.

Thêm nữa, đọc bút ký “Ăn Tết ở Bát Tràng” của nhà văn Vũ Mai Phong, người đọc không chỉ được thưởng thức một phong vị Tết cổ truyền đậm đà mà còn như được đắm mình vào dòng chảy văn hóa ngàn năm của một làng nghề trứ danh. Bằng lối viết lịch lãm, ngôn từ chắt lọc, giàu chất liệu thực tế và sự quan sát tinh nhạy, Vũ Mai Phong đã khắc họa một Bát Tràng vừa cổ kính, vừa hiện đại và mới mẻ, nơi linh hồn của đất và lửa luôn rực cháy.

Bút ký này của Vũ Mai Phong thể hiện một đẳng cấp ngôn từ rất "sành điệu", thể hiện sự am tường của một trí thức sành văn hóa. Tác giả khá cao tay khi dùng sự hoán dụ tinh tế khi gọi nghề gốm là "bản giao hưởng của Đất và Lửa", biến một quy trình kỹ thuật thành một chỉnh thể nghệ thuật tâm linh đầy thăng hoa.

Cách chơi chữ của anh đặc biệt "đắt" ở những đoạn lý giải về từ "Thị" trong tên đệm của người dân Bát Tràng; anh không nhìn nó như một hư từ mà luận ra cái nghĩa "Thị là Phải, là Đúng", từ đó khẳng định cốt cách ngay thẳng của người làng nghề. Sự cao tay còn thể hiện qua cách anh đặt cái "động" của nhịp sống hiện đại đối diện với cái "tĩnh" của tâm hồn nghệ nhân, dùng chữ để khẳng định giá trị cốt lõi không nằm ở thương mại mà ở sự "hóa thân" của con người vào đất. Ngôn ngữ ẩm thực trong bài cũng đầy phong vị khi anh dùng từ "sành" gắn với những món "mồi cá mòi", "canh bóng", khắc họa rõ nét cốt cách hào hoa, phong lưu của người Tràng An cổ. Nhịp điệu văn chương uyển chuyển, lúc đan xen điển tích uyên bác, lúc lại mộc mạc như khói bánh chưng, đã tạo nên một phong cách ký vừa sang trọng, vừa gần gũi, rất riêng của Vũ Mai Phong.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Về bến Lộc An
Bài đăng báo Cựu chiến binh Việt Nam
Xem thêm
Đồng xu nhỏ và những chuyến xe – Tùy bút Trương Văn Dân
Lâu lắm, có lẽ gần 30 năm sau tôi mới gặp lại Franco. Sau khi tốt nghiệp, mỗi người mỗi ngả để mưu sinh. Ai cũng đều trải qua những thăng trầm về công việc, đổi nhà, gia đình con cái… thế là chúng tôi mất tin nhau.
Xem thêm
Khoa phục hồi chức năng (A26) vững chuyên môn, sáng y đức
Y học hiện đại có thể kéo dài một nhịp tim, giành lại một mạng sống từ ranh giới sinh tử. Nhưng chính Phục hồi chức năng mới là người trả lại cho nhịp tim ấy một lý do để đập, trả lại cho sự sống ấy một phẩm giá để tồn tại. Bởi cứu sống một con người đã là kỳ tích, nhưng giúp họ tự tay nâng một ly nước, tự bước đi bằng đôi chân mình và sống một cuộc đời độc lập — đó mới là sự hoàn thiện trọn vẹn nhất của y đức.
Xem thêm
Lớn khôn bên cửa từ bi
Bài đăng Văn nghệ Gia Lai
Xem thêm
Mảnh vườn bên suối – Tản văn Nguyễn Hồng Quang
Năm nào cũng vậy, khi những đợt gió mùa đông bắc đầu tiên tràn về rét nhẹ cũng là lúc mẹ tôi cẩn thận lấy từ gác bếp xuống những ống nứa đựng hạt giống. Đó là những hạt cải thìa tròn lẳn, màu nâu bóng được chọn lựa kỹ càng từ những cây cải to nhất, khỏe nhất mùa trước. Khác với hoa cải bẹ hay cải nương có màu vàng tươi, hoa cải thìa lại mang màu trắng tinh khôi, dịu dàng như những vệt mây nhỏ đọng lại giữa vườn chiều. Khi những quả cải nhỏ như quả đỗ xanh chuyển từ màu xanh sang sắc vàng hanh, mẹ cắt cả chùm mang về bó lại, treo bên hiên nhà mươi hôm cho khô rồi mới vò lấy hạt phơi đem cất.
Xem thêm
Bỉ ngạn, một mùa hoa, một đời người – Tùy bút Nguyễn Thị Việt Nga
Bỉ ngạn theo tiếng Hán có nghĩa là bờ bên kia (bỉ: bên kia, ngạn: bờ). Trong cách giải thích của Phật giáo, đối diện với bỉ ngạn là “thử ngạn” bờ bên này. Bờ bên này là thế giới con người đang sống, nơi còn sinh tử, phiền não và mê lầm. Bờ bên kia là cảnh giới vượt thoát khỏi những ràng buộc ấy, là bờ giác ngộ. Trong truyền thống Tịnh Độ tông Nhật Bản, “bỉ ngạn” còn được dùng để chỉ Tây phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà. Bởi vậy, nếu chỉ hiểu bỉ ngạn là “cõi chết” thì có lẽ chúng ta đã làm nghèo đi ý nghĩa của hai chữ ấy.
Xem thêm
Lửa ơi! – Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Trở lại với “đời thường”, thì lửa là phương tiện thân thuộc khi đem đến cho con người cuộc sống dễ chịu hơn, sau thời kỳ sống trong dằng dặc đêm dài tăm tối của thời mông muội. Nói nôm na, thì lửa cho ánh sáng khi tối trời, để nấu ăn, xua đuổi các loài động vật-côn trùng, tạo các tín hiệu liên lạc từ xa… Lửa còn là ngôn ngữ của tình cảm, từ người bình dân Việt…
Xem thêm
Bồng bềnh trên mây – Tản văn Kỳ Nam
Tôi tình cờ “phát hiện” ra chị trong một lần lang thang tác nghiệp với chiếc Cub 50 cà tàng từ thời sinh viên và máy ảnh treo trước ngực. Chiếc xe dành để đi thực địa hôm đó giở chứng lần thứ chín mươi chín - cho đến khi một người xa lạ ngồi lên đạp cần khởi động nó mới chịu nổ máy.
Xem thêm
Đánh mất – Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có những sự phụ bạc không đi kèm tiếng cãi vã, không có kẻ thứ ba hay những cú tát nảy lửa trong một chiều giông bão. Sự phụ bạc tàn nhẫn nhất là khi một người tự nguyện đem trọn tuổi trẻ, xương máu và lòng tin của mình để kê chân cho người kia bước lên đài cao, để rồi khi đứng trên đỉnh vinh quang, kẻ ấy nhẹ nhàng buông tay như gạt đi một giọt sương đọng trên vạt áo...
Xem thêm
Một hải trình để những bến bờ xa gần lại
Khi tàu KN 491 đã cập bến Lữ đoàn 125 sau 8 ngày đi biển, tôi vẫn có cảm giác mình còn lênh đênh trên sóng. Sóng không còn dưới chân, nhưng tiếng sóng vẫn ở trong lòng. Những hòn đảo đã lùi lại phía sau, nhưng từng gương mặt, từng cái bắt tay, từng màu áo lính, từng ngọn đèn trên biển vẫn hiện lên rõ ràng như mới vừa đây thôi.
Xem thêm
Muộn màng - Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có một kiểu âm thanh mà chỉ khi đi qua phân nửa đời người, người ta mới bắt đầu thấy sợ. Đó không phải là tiếng còi xe cấp cứu xé màn đêm, cũng chẳng phải tiếng sấm sét đùng đùng trước cơn giông. Đó là tiếng cái gậy mây gõ tốc... tốc... xuống nền gạch tàu cũ kỹ vào mỗi năm giờ sáng.
Xem thêm
Thương nhớ những mùa trăng – Tản văn Trà Bình
- Ai trong đời cũng có một tuổi thơ hồn nhiên gắn liền với những mùa trăng thật đẹp. Tôi cũng vậy, ánh trăng của những mùa Tết Trung thu năm xưa luôn là miền ký ức dịu dàng, trong trẻo. Bây giờ, dù đã trưởng thành, tôi vẫn giữ nguyên thói quen mong đợi đêm rằm – khoảnh khắc khiến lòng lại ngập tràn niềm vui như thuở bé.
Xem thêm
Bão tháng 9 - Tản văn của Vũ Minh Phúc
Trong tất cả những điều này – như sự nổi giận của nhiên nhiên, bầu không khí an nhiên và trong lành bị nghiêng ngả bởi làn gió thổi liên hoàn không biết từ đẩu từ đâu, mặt trời bị biến dạng, không còn xuất hiện nữa, bức tranh cuộc sống đầy tiếng thở dài nặng nhọc, thậm chí chẳng ai có thể làm nổi việc nữa, mọi thứ đều phải dừng lại – nhưng việc người ta có thể làm trong lúc này là ngồi chờ đợi trong nhà và ước gì bão sẽ qua đi.
Xem thêm
Những ngọn đèn đứng gác trong đêm – Tản văn của Vũ Minh Phúc
Suốt đêm dài, họ không ngủ và như thể còn trong giấc ngủ chập chờn, tôi nói chuyện với họ, về công việc, gia đình, con gái, luôn trong trạng thái lo lắng; và sau một hồi tiếp nhận đủ các thông tin từ trung tâm báo về, họ ngập đầu trong các ca trực, nghe điện thoại, ghi chép nhật ký lịch trình thời gian tàu chạy, giải quyết ùn tắc ở ngã tư và đóng barie chắn ngang, tôi mới hiểu tại sao trong mọi tình huống giao thông nguy hiểm người gác chắn lại trở nên quan trọng hơn đối với tất cả mọi người.
Xem thêm
Tiếng trống ngày khai trường giữa hai thế hệ - Tản văn Nguyễn Đại Duẫn
Sáng nay, tôi đưa cháu đến trường dự lễ khai giảng năm học mới. Con đường đến trường như cũng vui hơn trong tiếng nói cười của trẻ nhỏ; tiếng ồn ào xe cộ, tiếng lao xao của các bậc phụ huynh. Cháu tôi năm nay vào lớp 1, cái tuổi vừa ngỡ ngàng, rụt rè vừa muốn tìm hiểu làm cho tâm trạng cháu vừa hồi hộp vừa náo nức. Cháu mặc bộ quần áo mới, đeo chiếc cặp trên vai, bàn tay nhỏ xíu nắm lấy tay ông. Nhìn cháu nhảy chân sáo bước vào cổng trường, lòng tôi bỗng rộn ràng một niềm vui khó tả.
Xem thêm
Từ mùa thu 1945 đến kỷ nguyên vươn mình của dân tộc – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Trong không gian phát triển mới đầy thách thức và cơ hội đó, mục tiêu chiến lược của Đảng vì con người được thể hiện một cách nhất quán, xuyên suốt và mang tầm vóc đột phá. Trước hết, đó là quyết tâm chính trị cao độ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm an sinh xã hội bền vững, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền để tinh thần không ai bị bỏ lại phía sau trở thành hiện thực sinh động trong từng cộng đồng dân cư.
Xem thêm
Tiếng chim trong vườn bà – Tản văn của Trà Bình
Tôi trở về ngôi nhà cũ của bà vào một buổi chiều mùa hạ. Ngôi nhà cấp bốn nằm nép mình trong xóm nhỏ giờ im lìm, cửa đóng then cài, mái ngói phủ rêu xanh. Tôi chậm rãi bước ra khu vườn trước nhà. Đứng bên gốc vải già còn sót lại vài quả cuối vụ, tôi chợt nghe tiếng chim lảnh lót từ vòm cây vọng xuống, như đánh thức miền ký ức tuổi thơ.
Xem thêm
Pha Đin – Nơi đỉnh trời vương vấn – Bút ký Đào Thị Thu Hiền
Trên cửa ngõ của chiến trường Điện Biên, tôi nghĩ đèo Pha Đin quả là một huyền thoại. Huyền thoại không phải chỉ được hiểu theo nghĩa là một phương pháp sáng tác trong văn học dân gian nhằm giải thích, phân chia ranh giới của hai tỉnh Sơn La và Điện Biên như người Thái từng kể, mà là cách gọi một hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường như người ta nghĩ. Cái hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường ấy không có gì khác ngoài sự khốc liệt của chiến tranh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp để bảo vệ đất nước diễn ra trên con đèo.
Xem thêm
Vận dụng nghệ thuật chỉ huy tác chiến của Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới
Kỷ niệm 115 năm Ngày sinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp (25/8/1911 - 25/8/2026) là dịp để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thành kính tưởng nhớ, tri ân sâu sắc công lao to lớn của vị Tổng Tư lệnh văn võ song toàn, người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Xem thêm
Ngoại tôi – Tản văn Nguyễn Đức Hải
Nhớ hồi nhỏ, ngoại và tụi bạn cùng trang lứa trong ấp lội đồng bắt cá, chân lấm tay bùn vô tư lắm. Bắt được con cá lóc, cả đám gom rơm rạ khô trui ngay bên bờ cỏ, da cá cháy xém, mùi thơm phức lan tỏa trong gió chiều. Cá chín được xé ra nóng hổi, chấm muối ớt cay xé lưỡi, đứa nào cũng hít hà, miệng mồm đen nhẻm. Những ký ức thời tuổi thơ ấy đã làm nên một tuổi trẻ thấm đẫm hồn quê miền Tây, vừa hồn hậu, vừa nguyên sơ. Ngoại mỉm cười, ánh mắt đong đầy bao hoài niệm của một thời đã xa.
Xem thêm