TIN TỨC

Một phong vị rất riêng trong bút ký Ăn Tết ở Bát Tràng

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-01-22 10:30:53
mail facebook google pos stwis
1010 lượt xem

KIỀU BÍCH HẬU

Chờ mãi rồi chị phát hành báo Văn nghệ cũng gại gại vào cửa gỗ nhà tôi, cố nhét tờ báo Văn nghệ Tết 2026 qua cửa sắt kéo. Vừa lúc tôi chạy từ tầng hai xuống, mở cửa gỗ nhận tờ báo Tết xinh đẹp, ngát hương mực in. Thế là có tờ báo Văn nghệ Tết rồi! Thêm một cành đào cắm lọ sứ cao cổ nữa là đủ Tết! Trước kia, mấy nhân sĩ nghèo thường bảo nhau như thế.

Đọc bút ký “Ăn Tết ở Bát Tràng” của nhà văn Vũ Mai Phong, tôi khoái nhất những đoạn kể về món ăn hương vị Tết ở đây. Món Tết ở Bắc thường giống nhau, mà lại có cái rất khác nhé. Tôi háo hức đọc từng dòng để kiếm cái vị món ăn, hoặc cách chế biến kiểu khác của người Bát Tràng so với quê tôi (làng Thanh Đặng, xã Lạc Đạo, Hưng Yên).

Nhà văn Vũ Mai Phong.

Vũ Mai Phong là người tinh tế, mà một khi anh đã khen bánh chưng Bát Tràng “ngon nhất Việt Nam” thì hẳn là khó nghi ngờ. Tôi soi mắt vào từng chữ xem ngon là ngon như thế nào cho xứng lời khen ấy chứ. Và Phong rất khéo léo tung ra thương hiệu bánh chưng Bà Bông! Nói đến các thương hiệu ẩm thực Việt hoặc Trung Quốc, cứ phải đính kèm từ “Bà” vào thì mới đảm bảo uy tín, kiểu như giới trẻ nay thường nói “cơm mẹ nấu”. Hóa ra bí kíp của “Bà Bông” là loại bánh chưng nhỏ như lưỡi mèo, chỉ nấu từ 5h sáng tới qua 10h sáng là vớt. Chứ không như bánh chưng lớn ở nhà tôi, phải nấu đủ 12 tiếng thì bánh mới chín. Bánh nhỏ thế vừa một người ăn hết xoẳn, không phải cắt tư như bánh chưng tết bình thường. Ăn ít thì hẳn là ngon rồi! Vả lại ăn nóng, thợ gốm làm việc chân tay, nhanh đói, đang đói ngấu mà được ăn cái bánh chưng nóng vừa vớt từ nồi gang ra thì cao lương mỹ vị gì cũng chẳng sánh nổi.

Nếp nhung, nếp cái hoa vàng thì tôi biết rõ rồi, vì năm nào mẹ tôi cũng chọn loại nếp đỉnh ngon đó để gói bánh chưng, nhưng Vũ Mai Phong lại tiết lộ loại nếp quýt mà người Bát Tràng chọn, khiến tôi thêm ngỡ ngàng. Nếp quýt như thế nào nhỉ? Có nhẽ năm nay tôi phải lùng sục cho bằng được yến nếp quýt nấu bánh chưng chứ lỵ! Để còn có câu chuyện khác lạ mà khoe với đứa em dâu mấy ngày Tết! Cái lạ bằng tạ cái quen cơ mà. Phong còn kể nhân bánh chưng Bát Tràng có gừng, cái này cũng lạ với tôi. Chẳng hiểu vị gừng vào bánh thì có làm tôi thích hay không? Lại có nhẽ cũng cần về Bát Tràng thử bánh Bà Bông trước khi ra tay hành động! Vũ Mai Phong đã thành công trong việc dụ được người đọc siêu bận bịu là tôi có mong muốn chắt ra một ngày để tới Bát Tràng rồi đây. Lại còn nấu bánh bằng củi phi lao nữa thì quả là độc đắc. “Trước kia, làng làm lò củi, rất sẵn củi phi lao nên cái nồi bánh chưng vì thế mà được nấu rền, để ý kỹ còn thấy cả mùi thơm của khói củi phi lao quện vào lá bánh.” – Phong viết. Quả là chi tiết này thì khó bắt chước lắm đây. Thêm chi tiết đắt nữa, đó là “cái bánh chưng Bát Tràng để tủ lạnh vẫn mềm, nhuyễn mà vẫn giữ được vị thơm ngon.” – Cái này thì bánh chưng làng tôi thua cái chắc rồi, vì khi cất tủ lạnh, bánh làng tôi thường cứng, thậm chí bị lại gạo. Muốn ăn cần hấp lại rất lâu.

Đặc biệt, tác giả đã rất thành công khi khơi gợi được cái “tinh” trong ẩm thực của người dân nơi đây. Những món ăn đặc sản như măng mực, canh bóng, hay món "măng vẩy" trứ danh được miêu tả cầu kỳ, cho thấy sự hào hoa và sành sỏi của người Bát Tràng. Độc giả chắc chắn sẽ ấn tượng với món mồi cá mòi và cá lành canh – những sản vật của dòng sông Hồng được chế biến tinh tế, thể hiện sự kết nối mật thiết giữa làng nghề và dòng sông mẹ.

Không chỉ dừng lại ở ẩm thực, Vũ Mai Phong còn thể hiện sự uyên bác khi tìm hiểu về lịch sử và nề nếp gia phong của làng qua lời kể của nhà nghệ nhân Tô Thanh Sơn hay những điển tích về "lục tộc Bát Tràng". Tác giả đã khéo léo lồng ghép triết lý về "Ngũ hành" – Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ – hội tụ trong nghề gốm, tạo nên sức sống bền bỉ cho vùng đất này. Câu nói “Sinh ký Bát Tràng nam tử quý - Tử quy Kiêu Kị thượng linh thần” được nhắc lại như một niềm tự hào và sự gắn kết truyền đời của người dân với mảnh đất quê hương. Ở một đoạn bài viết, tác giả dẫn dắt chúng ta vào không gian của làng cổ bằng những ký ức rất riêng: từ bộ ấm chén men rạn đến con linh vật gốm mới ra lò. Nhưng cái hay của Vũ Mai Phong là không dừng lại ở vẻ bề ngoài của gốm, mà anh đi sâu vào "phong vị Bát Tràng" qua những con người cụ thể, những nhân vật sống động biết đánh thức sự tò mò muốn đến tận nơi để được nghe họ nói, chạm vào những thức, những món người Bát Tràng làm ra.

Đọc đến những trang cuối, người đọc cảm nhận được nỗi trăn trở nhưng cũng đầy kỳ vọng của tác giả về tương lai của làng nghề. Trong nhịp sống hiện đại, khi Bát Tràng đang chuyển mình thành một điểm du lịch văn hóa, Vũ Mai Phong vẫn nhận ra cái "tĩnh" trong tâm hồn những người thợ gốm. Mỗi sản phẩm gốm là "một sự gửi gắm của tâm hồn".

Với ngôn ngữ giàu hình ảnh và cảm xúc, "Ăn Tết ở Bát Tràng" của Vũ Mai Phong thực sự là một trang ký đẹp, như một bức tranh Đông Hồ thần thái, gợi thương gợi nhớ, khiến ta lưu luyến với quê nhà ngay khi ta vẫn đang dính chân vào bùn đất nhà quê. Bài ký còn là một bản giao hưởng giữa quá khứ và hiện tại. Tác phẩm đã chạm được vào phần hồn cốt linh thiêng của làng nghề, khiến người đọc thêm yêu, thêm trân trọng những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mỗi độ Tết đến, Xuân về. Đây thực sự là một mảnh ghép đẹp trên số báo Văn Nghệ chào năm mới 2026.

Thêm nữa, đọc bút ký “Ăn Tết ở Bát Tràng” của nhà văn Vũ Mai Phong, người đọc không chỉ được thưởng thức một phong vị Tết cổ truyền đậm đà mà còn như được đắm mình vào dòng chảy văn hóa ngàn năm của một làng nghề trứ danh. Bằng lối viết lịch lãm, ngôn từ chắt lọc, giàu chất liệu thực tế và sự quan sát tinh nhạy, Vũ Mai Phong đã khắc họa một Bát Tràng vừa cổ kính, vừa hiện đại và mới mẻ, nơi linh hồn của đất và lửa luôn rực cháy.

Bút ký này của Vũ Mai Phong thể hiện một đẳng cấp ngôn từ rất "sành điệu", thể hiện sự am tường của một trí thức sành văn hóa. Tác giả khá cao tay khi dùng sự hoán dụ tinh tế khi gọi nghề gốm là "bản giao hưởng của Đất và Lửa", biến một quy trình kỹ thuật thành một chỉnh thể nghệ thuật tâm linh đầy thăng hoa.

Cách chơi chữ của anh đặc biệt "đắt" ở những đoạn lý giải về từ "Thị" trong tên đệm của người dân Bát Tràng; anh không nhìn nó như một hư từ mà luận ra cái nghĩa "Thị là Phải, là Đúng", từ đó khẳng định cốt cách ngay thẳng của người làng nghề. Sự cao tay còn thể hiện qua cách anh đặt cái "động" của nhịp sống hiện đại đối diện với cái "tĩnh" của tâm hồn nghệ nhân, dùng chữ để khẳng định giá trị cốt lõi không nằm ở thương mại mà ở sự "hóa thân" của con người vào đất. Ngôn ngữ ẩm thực trong bài cũng đầy phong vị khi anh dùng từ "sành" gắn với những món "mồi cá mòi", "canh bóng", khắc họa rõ nét cốt cách hào hoa, phong lưu của người Tràng An cổ. Nhịp điệu văn chương uyển chuyển, lúc đan xen điển tích uyên bác, lúc lại mộc mạc như khói bánh chưng, đã tạo nên một phong cách ký vừa sang trọng, vừa gần gũi, rất riêng của Vũ Mai Phong.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm
Những con đường ký ức - Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Những con đường của Hội An là những sợi máu trong tôi. Chúng đã đi qua thời gian, chịu đựng bao thác ghềnh, nhiều lúc ngỡ tan biến như những bào ảnh của lãng quên để rồi cuối cùng vẫn lặng lẽ cất lên tiếng nói mơ hồ của ký ức, nhắc rằng đó là một phần không thể thiếu trong tôi.
Xem thêm
Làm du lịch từ lò gạch Sa Đéc xưa
Vào dịp tết Nguyên đán hàng năm, cứ từ 20 tháng chạp đổ lên, người miền Nam lại lũ lượt tìm về vãn cảnh nhà vườn hoa kiểng Tân Quy Đông (Sa Đéc- Đồng Tháp). Cạnh bên Tân Quy Đông là vùng đất Tân Quy Tây bạt ngàn vườn ruộng được bồi đắp phù sa quanh năm bởi con sông Tiền hiền hoà quê kiểng. Lớp phù sa dày dặn bám trên đồng ruộng lâu năm trở thành lớp đất nâu non (đất sét) dẻo quẹo, là loại nguyên liệu rất tốt để người địa phương nung gạch xây dựng các công trình.
Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm
Viết cho tuổi hai mươi: giữa chênh vênh và hoài bão – Tản văn Phạm Phúc Vinh
“Tuổi hai mươi giống như một cơn mưa rào mùa hạ. Người ta vừa sợ ướt áo, lại vừa muốn đằm mình vào cái mát lạnh của đất trời. Chênh vênh đó, nhưng cũng rực rỡ vô cùng.”
Xem thêm
Thấy gì sau những chiếc xe hút đinh tự nguyện – Tạp bút Trần Đôn
Trong dòng chảy hối hả của giao thông đô thị, đôi khi ta bắt gặp hình ảnh những chiếc xe tự chế gắn thanh nam châm miệt mài rà sát mặt đường để “giải cứu” người đi đường khỏi nạn “đinh tặc”. Hình ảnh ấy đã trở nên quen thuộc ở nhiều nơi.
Xem thêm
Sắc hoa tháng Ba ở Điện Biên - Tản văn Phan Anh
Thời bây giờ, hoa ban không còn là loài hoa độc quyền của Tây Bắc nữa. Người ta đã nhân giống và đưa cây ban về trồng ở khắp mọi nơi. Chỉ riêng ở Hà Nội, cứ mỗi độ xuân về, trong hơi ấm của nắng mới tháng ba, trên đường Điện Biên Phủ, Hoàng Diệu, Thanh Niên, Bắc Sơn, công viên Cầu Giấy, hồ Gươm, hồ Thiền Quang, hồ Tân Xã … người ta thấy nàng công chúa của xứ sở Tây Bắc tưng bừng bung nở trên các vòm cây, đua nhau khoe sắc ngập trời, rồi thoang thoảng gửi hương vào trong không gian êm dịu của mùa xuân; khiến cho chị em không khỏi xốn xang, quên cả cái tiết trời còn chưa hết gió lạnh lẫn mưa bụi mà nô nức sửa soạn áo váy, rủ nhau đi sống ảo làm cho phố phường những nơi ấy cũng trở nên vui tươi, náo nhiệt.
Xem thêm
​Đám rau mùi già tháng Giêng của mẹ - Tạp bút Lê Thị Hiệp
Là một người rất thích rau mùi(người miền Nam gọi là ngò rí) nên mẹ tôi ngay từ lúc còn trẻ cho tận tới nay khi đã về già, bà vẫn luôn duy trì thói quen gieo trồng loại rau gia vị cực kỳ ngon và có mùi thơm vô cùng hấp dẫn này. Mẹ tôi kể rằng, từ khi lấy bố về làm dâu nhà ông bà nội tôi, thì mảnh vườn sau nhà rộng rãi, dẫu có trồng loại rau gì đi chăng nữa thì mẹ vẫn luôn dành ra một khoảng đất màu mỡ gần ngay khu vực cầu ao để gieo trồng rau mùi.
Xem thêm
Chân Mây 3 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Anh kể: Một hôm đang trong cơn tuyệt vọng. Anh cố gượng dậy cho mấy con cá nhỏ trong bể ăn. Bỗng nhiên anh thấy viên cuội lấp lánh đáy bể và chợt nhớ ra. Hôm ở đảo Hòn Dáu anh có nhặt một viên cuội ở bãi biển. Viên cuội vân hoa nhiều màu rất đẹp nhưng nhỏ chỉ bằng ngón chân cái. Mang về anh thả viên cuội vào bể cá và quên.
Xem thêm
Lặng lẽ Tết – Tản văn Lê Trọng Bình
Sau 45 năm đằng đẵng Tết Nam, lần đầu tiên được về quê ăn Tết, cảm giác của tôi như được “chào đời không tiếng khóc” nơi quê cha đất tổ, bởi sinh tôi ra chưa được cái Tết nào thì gia đình đã Nam tiến. Thường thì tâm lý người xa quê đoàn tụ sẽ vui lắm, nhưng trong tôi thì khác hoàn toàn bởi những cung bậc đầu tiên ấy.
Xem thêm