- Bút ký - Tạp văn
- Một phong vị rất riêng trong bút ký Ăn Tết ở Bát Tràng
Một phong vị rất riêng trong bút ký Ăn Tết ở Bát Tràng
KIỀU BÍCH HẬU
Chờ mãi rồi chị phát hành báo Văn nghệ cũng gại gại vào cửa gỗ nhà tôi, cố nhét tờ báo Văn nghệ Tết 2026 qua cửa sắt kéo. Vừa lúc tôi chạy từ tầng hai xuống, mở cửa gỗ nhận tờ báo Tết xinh đẹp, ngát hương mực in. Thế là có tờ báo Văn nghệ Tết rồi! Thêm một cành đào cắm lọ sứ cao cổ nữa là đủ Tết! Trước kia, mấy nhân sĩ nghèo thường bảo nhau như thế.
Đọc bút ký “Ăn Tết ở Bát Tràng” của nhà văn Vũ Mai Phong, tôi khoái nhất những đoạn kể về món ăn hương vị Tết ở đây. Món Tết ở Bắc thường giống nhau, mà lại có cái rất khác nhé. Tôi háo hức đọc từng dòng để kiếm cái vị món ăn, hoặc cách chế biến kiểu khác của người Bát Tràng so với quê tôi (làng Thanh Đặng, xã Lạc Đạo, Hưng Yên).

Nhà văn Vũ Mai Phong.
Vũ Mai Phong là người tinh tế, mà một khi anh đã khen bánh chưng Bát Tràng “ngon nhất Việt Nam” thì hẳn là khó nghi ngờ. Tôi soi mắt vào từng chữ xem ngon là ngon như thế nào cho xứng lời khen ấy chứ. Và Phong rất khéo léo tung ra thương hiệu bánh chưng Bà Bông! Nói đến các thương hiệu ẩm thực Việt hoặc Trung Quốc, cứ phải đính kèm từ “Bà” vào thì mới đảm bảo uy tín, kiểu như giới trẻ nay thường nói “cơm mẹ nấu”. Hóa ra bí kíp của “Bà Bông” là loại bánh chưng nhỏ như lưỡi mèo, chỉ nấu từ 5h sáng tới qua 10h sáng là vớt. Chứ không như bánh chưng lớn ở nhà tôi, phải nấu đủ 12 tiếng thì bánh mới chín. Bánh nhỏ thế vừa một người ăn hết xoẳn, không phải cắt tư như bánh chưng tết bình thường. Ăn ít thì hẳn là ngon rồi! Vả lại ăn nóng, thợ gốm làm việc chân tay, nhanh đói, đang đói ngấu mà được ăn cái bánh chưng nóng vừa vớt từ nồi gang ra thì cao lương mỹ vị gì cũng chẳng sánh nổi.
Nếp nhung, nếp cái hoa vàng thì tôi biết rõ rồi, vì năm nào mẹ tôi cũng chọn loại nếp đỉnh ngon đó để gói bánh chưng, nhưng Vũ Mai Phong lại tiết lộ loại nếp quýt mà người Bát Tràng chọn, khiến tôi thêm ngỡ ngàng. Nếp quýt như thế nào nhỉ? Có nhẽ năm nay tôi phải lùng sục cho bằng được yến nếp quýt nấu bánh chưng chứ lỵ! Để còn có câu chuyện khác lạ mà khoe với đứa em dâu mấy ngày Tết! Cái lạ bằng tạ cái quen cơ mà. Phong còn kể nhân bánh chưng Bát Tràng có gừng, cái này cũng lạ với tôi. Chẳng hiểu vị gừng vào bánh thì có làm tôi thích hay không? Lại có nhẽ cũng cần về Bát Tràng thử bánh Bà Bông trước khi ra tay hành động! Vũ Mai Phong đã thành công trong việc dụ được người đọc siêu bận bịu là tôi có mong muốn chắt ra một ngày để tới Bát Tràng rồi đây. Lại còn nấu bánh bằng củi phi lao nữa thì quả là độc đắc. “Trước kia, làng làm lò củi, rất sẵn củi phi lao nên cái nồi bánh chưng vì thế mà được nấu rền, để ý kỹ còn thấy cả mùi thơm của khói củi phi lao quện vào lá bánh.” – Phong viết. Quả là chi tiết này thì khó bắt chước lắm đây. Thêm chi tiết đắt nữa, đó là “cái bánh chưng Bát Tràng để tủ lạnh vẫn mềm, nhuyễn mà vẫn giữ được vị thơm ngon.” – Cái này thì bánh chưng làng tôi thua cái chắc rồi, vì khi cất tủ lạnh, bánh làng tôi thường cứng, thậm chí bị lại gạo. Muốn ăn cần hấp lại rất lâu.
Đặc biệt, tác giả đã rất thành công khi khơi gợi được cái “tinh” trong ẩm thực của người dân nơi đây. Những món ăn đặc sản như măng mực, canh bóng, hay món "măng vẩy" trứ danh được miêu tả cầu kỳ, cho thấy sự hào hoa và sành sỏi của người Bát Tràng. Độc giả chắc chắn sẽ ấn tượng với món mồi cá mòi và cá lành canh – những sản vật của dòng sông Hồng được chế biến tinh tế, thể hiện sự kết nối mật thiết giữa làng nghề và dòng sông mẹ.
Không chỉ dừng lại ở ẩm thực, Vũ Mai Phong còn thể hiện sự uyên bác khi tìm hiểu về lịch sử và nề nếp gia phong của làng qua lời kể của nhà nghệ nhân Tô Thanh Sơn hay những điển tích về "lục tộc Bát Tràng". Tác giả đã khéo léo lồng ghép triết lý về "Ngũ hành" – Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ – hội tụ trong nghề gốm, tạo nên sức sống bền bỉ cho vùng đất này. Câu nói “Sinh ký Bát Tràng nam tử quý - Tử quy Kiêu Kị thượng linh thần” được nhắc lại như một niềm tự hào và sự gắn kết truyền đời của người dân với mảnh đất quê hương. Ở một đoạn bài viết, tác giả dẫn dắt chúng ta vào không gian của làng cổ bằng những ký ức rất riêng: từ bộ ấm chén men rạn đến con linh vật gốm mới ra lò. Nhưng cái hay của Vũ Mai Phong là không dừng lại ở vẻ bề ngoài của gốm, mà anh đi sâu vào "phong vị Bát Tràng" qua những con người cụ thể, những nhân vật sống động biết đánh thức sự tò mò muốn đến tận nơi để được nghe họ nói, chạm vào những thức, những món người Bát Tràng làm ra.
Đọc đến những trang cuối, người đọc cảm nhận được nỗi trăn trở nhưng cũng đầy kỳ vọng của tác giả về tương lai của làng nghề. Trong nhịp sống hiện đại, khi Bát Tràng đang chuyển mình thành một điểm du lịch văn hóa, Vũ Mai Phong vẫn nhận ra cái "tĩnh" trong tâm hồn những người thợ gốm. Mỗi sản phẩm gốm là "một sự gửi gắm của tâm hồn".
Với ngôn ngữ giàu hình ảnh và cảm xúc, "Ăn Tết ở Bát Tràng" của Vũ Mai Phong thực sự là một trang ký đẹp, như một bức tranh Đông Hồ thần thái, gợi thương gợi nhớ, khiến ta lưu luyến với quê nhà ngay khi ta vẫn đang dính chân vào bùn đất nhà quê. Bài ký còn là một bản giao hưởng giữa quá khứ và hiện tại. Tác phẩm đã chạm được vào phần hồn cốt linh thiêng của làng nghề, khiến người đọc thêm yêu, thêm trân trọng những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mỗi độ Tết đến, Xuân về. Đây thực sự là một mảnh ghép đẹp trên số báo Văn Nghệ chào năm mới 2026.
Thêm nữa, đọc bút ký “Ăn Tết ở Bát Tràng” của nhà văn Vũ Mai Phong, người đọc không chỉ được thưởng thức một phong vị Tết cổ truyền đậm đà mà còn như được đắm mình vào dòng chảy văn hóa ngàn năm của một làng nghề trứ danh. Bằng lối viết lịch lãm, ngôn từ chắt lọc, giàu chất liệu thực tế và sự quan sát tinh nhạy, Vũ Mai Phong đã khắc họa một Bát Tràng vừa cổ kính, vừa hiện đại và mới mẻ, nơi linh hồn của đất và lửa luôn rực cháy.
Bút ký này của Vũ Mai Phong thể hiện một đẳng cấp ngôn từ rất "sành điệu", thể hiện sự am tường của một trí thức sành văn hóa. Tác giả khá cao tay khi dùng sự hoán dụ tinh tế khi gọi nghề gốm là "bản giao hưởng của Đất và Lửa", biến một quy trình kỹ thuật thành một chỉnh thể nghệ thuật tâm linh đầy thăng hoa.
Cách chơi chữ của anh đặc biệt "đắt" ở những đoạn lý giải về từ "Thị" trong tên đệm của người dân Bát Tràng; anh không nhìn nó như một hư từ mà luận ra cái nghĩa "Thị là Phải, là Đúng", từ đó khẳng định cốt cách ngay thẳng của người làng nghề. Sự cao tay còn thể hiện qua cách anh đặt cái "động" của nhịp sống hiện đại đối diện với cái "tĩnh" của tâm hồn nghệ nhân, dùng chữ để khẳng định giá trị cốt lõi không nằm ở thương mại mà ở sự "hóa thân" của con người vào đất. Ngôn ngữ ẩm thực trong bài cũng đầy phong vị khi anh dùng từ "sành" gắn với những món "mồi cá mòi", "canh bóng", khắc họa rõ nét cốt cách hào hoa, phong lưu của người Tràng An cổ. Nhịp điệu văn chương uyển chuyển, lúc đan xen điển tích uyên bác, lúc lại mộc mạc như khói bánh chưng, đã tạo nên một phong cách ký vừa sang trọng, vừa gần gũi, rất riêng của Vũ Mai Phong.