- Truyện
- Giấc ngủ đại ngàn – Truyện ngắn Vũ Minh Phúc
Giấc ngủ đại ngàn – Truyện ngắn Vũ Minh Phúc
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Khi bắt đầu viết truyện ngắn này, em đã cố gắng hình dung và nhớ lại khu rừng mang tên ông: Tướng giáp. Ông là vị tướng của nhân dân, vị tướng của hòa bình, có điều gì cuốn hút đến thế. Và những nơi ông đi qua, những chiến tích ông từng làm cho nhân dân ta, đều khiến lớp trẻ chúng em muôn phần kính trọng, tự hào và ngưỡng mộ. Làm sao có thể quên đi được những trang sử hào hùng ấy. Làm sao không kính trọng một con người, một vị tướng đã trở thành huyền thoại ngay cả khi ông còn sống. Em cứ nghĩ đã có một cánh rừng đại ngàn đã đi vào giấc ngủ và cũng có một vị tướng huyền thoại cũng chìm trong giấc ngủ ngàn thu ở Vũng Chùa – Đảo Yến: Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
.jpg)
Vũng Chùa, Đảo Yến
Giấc ngủ đại ngàn
“Hương các loài hoa thơm
Không bay ngược chiều gió
Nhưng hương của người đức hạnh
Ngược gió khắp tung bay”
-lời dạy của Phật-
Mưa bắt đầu rơi từ chiều hôm qua và đến nửa đêm thì trắng xoá cả cánh rừng xanh thẳm.
Mưa rừng thường xuất hiện đột ngột ở đây, ở bản Nhọt này. Năm qua tháng lại tiếng mưa rả rích không ngớt và A Lý đã quen với tiếng cây cỏ thì thầm đến nỗi anh không còn muốn để ý đến mọi vật xung quanh nữa.
Mưa tạnh và những cơn mưa rào bất chợt đổ xuống trên cánh rừng mênh mông phản chiếu thứ ánh sáng lấp lánh bên con suối Bùa, lúc huyền ảo lúc dữ dội. Vả lại, sự tĩnh lặng ở đây khiến tâm trạng anh cảm thấy bối rối. Anh có cảm giác như cùng với tiếng mưa đêm đêm, vô tình đang từ trời cao đổ xuống.
A Lý đi một mình. Vẫn là cái phong thái ung dung đó, lại vẫn cái thật thà và chất phác! Đối với họ, những người dân từ các xứ sở khác ấy, lại có thể đi bộ hàng ngày đường vượt qua con suối nhỏ để có mặt trong nhà anh thì hạnh phúc biết bao! Họ sẽ cảm nhận được gì ở đây? Khu rừng mang tên vị tướng huyền thoại yên ắng, ánh nắng, chiếc võng dù lính và bếp dã chiến. Và A Lý, anh quấn chiếc khăn thổ cẩm, người run lên bần bật vì lạnh và xúc động đến mức không thể nói lên lời. Bởi vì A Lý là người giữ rừng cô đơn, không ai cô đơn như A Lý. Cả những con vật lục đục trong đám cỏ khô kia cũng còn hạnh phúc hơn anh. Nó là gà trống rừng có lông màu đỏ có ánh kim rực rỡ, còn ông là một người lính dạn dày sương gió và tiếng tăm ông không ai không biết, vang đến tận cả nước Mỹ, Pháp, đất nước bên kia bán cầu, nơi mùa đông lạnh giá đang bắt đầu.
Đôi khi họ không thích nói về chiến tranh. Nhưng không ai biết rằng để có được niềm hạnh phúc hòa bình đích thực hơn hết là sự hy sinh. A Lý không thích sự vinh quang, không mong cầu hạnh phúc. Anh chỉ muốn có một điều duy nhất làm sao cho người ta hiểu rằng ở cánh rừng này từng có một con người vĩ đại và huyền thoại đã sống, tài năng và đức độ của ông đến mức lan truyền đến hang triệu triệu người chứ không chỉ vài ba người.
Anh muốn nói về một con người bất tử với thời gian. Anh yêu quý cánh rừng này bao nhiêu lại càng kính trọng con người giản dị và phi thường bấy nhiêu.
Anh có thể ngồi hàng giờ liền bên bờ suối Tắc Tè ở chỗ tảng đá nhẵn thín mà kể cho cậu bé da ngăm ngăm đen nghe về một trận phục kích đêm qua của Binh đoàn mình. Trận chiến đó giống như một hào quang chói lòa, kể mãi đến mức A Lý xúc động tận tâm can vì những điều phi thường chỉ có trong tâm hồn những con người yêu đất nước chân thật mà anh biết. Và cái cậu bé da ngăm đen kia, một thời được gọi với cái tên cậu bé giao liên, bỗng cũng trào dâng niềm kính trọng vô bờ bến với những hy sinh lớn lao và chiến công rực rỡ trong hành trình bất tận của những người lính quả cảm vẫn thỉnh thoảng dội về đâu đây trong ký ức thơ trẻ.
Anh có thể nói với những người bạn trẻ về tình yêu đầu chớm nở của vị anh hùng huyền thoại đó, ngay lúc này, với em, mọi người. Câu chuyện tình yêu đơm hoa kết trái có lúc ngắn ngủi: nó kết thúc trong tình cảm riêng tư để rồi nhường chỗ cho tình yêu lớn – tình yêu của cả một dân tộc mà ông gánh vác trên vai, khi đứng trước những giờ sinh tử đã định. Nhưng đồng thời A Lý nghĩ rằng mối tình thoáng qua ấy sẽ không mất đi. Bởi vì trong trí nhớ và ký ức sẽ chẳng bao giờ nguội lạnh trong ta.
A Lý luôn hình dung ra cái phong thái điềm tĩnh và quyết đoán của vị anh hùng đến nỗi tưởng chừng anh ngồi sụp xuống ngay phiến đá để viết những dòng suy nghĩ đầy xúc động. Cả gương mặt phờ phạc vì những ngày vượt núi băng rừng của con gái ông trưởng bản, tiếng chim rừng reo vui trên rừng cây nhiệt đới, tiếng đất dưới chân rung chuyển, tiếng bước chân hành quân rầm rập và lúc đó, sau vài phút suy tư của anh bởi một điều kỳ diệu xảy đến, cả khu rừng nở đầy những bông hoa phóng tín thuần khiết.
Người tiều phu nhìn lên ngọn đồi phía trước nhà, cười thầm và anh nhận thấy vẻ bối rối trên khuôn mặt ông cụ. Người già này là ai? Phải chăng là người xa lạ từ cái xứ sở xa xôi nào đó mà có thời vị anh hùng đã đi qua, nhưng lại làm nên một chiến công vang dội rất thực? Hay là một người hoa tiêu hoặc giữ khu rừng, đại loại thế?
Vì sao nắng lại chiếu rọi xuyên qua những kẽ lá trong buổi chiều tà và hạt sương mai đọng lại trên cành cây như giọt nước mắt trong ngần của đại dương? Tại sao người tiều phu lại hát những lời ca ngợi người anh hùng giải phóng quân đã hy sinh tuổi trẻ và thời gian mà không hề muốn nhận lấy bất kỳ sự đền đáp xứng đáng nào? Tại sao bên con suối róc rách ở đầu bản lại vẳng lại tiếng thì thầm của rừng già, còn những hạt mưa rừng hiếm hoi lại rơi xuống thấm sâu vào lớp đất đá và rửa trôi những quá khứ lẫm lỗi? Tại sao cầu vồng lại xuất hiện sau cơn mưa lạnh giá trên cánh rừng như một dải mây hình vòng cung rực rỡ trên bầu trời? Có tiếng nói thì thầm bên tai nghe như hơi thở nhè nhẹ? Không lẽ có một con vắt đen bám dưới gót dày để hút máu? Tại sao cô gái đang thuyết minh về câu chuyện lịch sử trong rừng lại xúc động và môi nàng mím lại? “Anh chàng kỳ lạ này là ai? Có phải người được gửi đến từ trời cao để thử lòng trái tim của em đó.”
A Lý nghĩ cô gái đã nói đúng, rằng anh đã quên đi tuổi trẻ ở đây mà năm tháng vinh quang đã bỏ quên trong trí nhớ, và nơi ấy chiếc lán dừng chân của vị anh hùng, lời động viên gần gũi của anh, tiếng nhịp điệu đều đều của chày giã gạo và những người thật thà, bản lĩnh –tất cả những con người vạm vỡ đó trong hình dung của cô sẽ chẳng bao giờ mất đi và đáng lưu giữ như một cuốn hồi ký tự thuật sống động - tấm gương vinh quang của quá khứ, hiện tại và tương lai.
“Thời gian làm sao có thể xoá nhoà đi tên tuổi của những người lính và vị anh hùng năm xưa?, - A Lý nghĩ thầm.
Thôi ta hãy quên đi. Để nó ngủ yên. Ta sẽ kể chuyện của hôm nay, đến bệnh viên đặc biệt trong rừng sâu và cô nữ sinh điều dưỡng túc trực bên giường bệnh. Vị anh hùng đã đi hết quãng đường đời như ngọn đèn dầu đã cạn và chỉ muốn ra đi nhẹ nhàng.
Và dĩ nhiên, vị anh hùng nhiều tuổi đã trút hơi thở cuối cùng. Nhưng đêm ấy, trước hai giờ nằm hôn mê bất động bên giường bệnh, ông mở to cặp mắt nhìn A Lý và hỏi:
- Anh bác sĩ ơi, anh bác sĩ? Anh có biết khu rừng nơi tôi từng đến đó, bây giờ nó thế nào không?
- Tất nhiên, biết chứ ạ!-Sau một vài phút suy tư, A Lý nói –Nó đã trở thành một khu rừng cổ tích, nơi đưa ta về với hoài niệm, và cảm giác yên lành hơn so với thế giới đầy vọng niệm ngoài kia. Rừng cây im phăng phắc, chuyển động và nắng biến mất dần trên phiến lá xanh như trong một khoảng mênh mông vô tận. Và nếu có một chú chim nào vô tình ghé xuống nói chuyện với ta và kêu lên những tiếng thì điều đó là một niềm vui, cách cái lán sơ sài mấy bước chân có những chò chỉ cao lớn. Tìm cho được đường ra khỏi khu rừng âm u ấy và không để bất cứ thời gian nào trôi qua vô ích thì quả là khó. Bác có thể mở chiếc hộp ấy ra và tìm thấy trong đó, không phải những viên đá lửa màu vàng đâu, mà là những trang nhật ký thấm đẫm nước mắt. Hình như tên cô ấy là Trà Giang có phải không?
- Vâng, - Bác tiều phu nói – Tên cháu là Trà Giang.
- Thế bác đã gặp hổ bao giờ chưa?- A Lý hỏi.
- Dĩ nhiên rồi!, -Bác tiều phu đáp - Nó rướn đôi mắt dữ tợn nhìn tôi giận dữ, cuối cùng tôi và nó nháy mắt ra hiệu rồi ai đi đường nấy. Chúng tôi là những người giữ rừng, không có lý do gì xung đột với nhau. Còn với cháu Trà Giang “Chim Sơn ca của núi rừng”,- đột nhiên bác tiều phu nói thêm, - lúc này mới mười sáu tuổi, trông em như đoá hoa rừng rực rỡ. Tôi đã không gặp em thêm một lần nào nữa, cho đến khi trở lại.
- Có gì lấy làm tin tưởng với ông cụ ấy không? Có lẽ chỉ còn lời nói dối muộn màng.
- Bác yêu quý ạ. –A Lý nói – Bác hãy cố nhớ lại xem, ở chỗ con suối Tắc Tè kia, chúng ta đã gặp nhau và thế là hình thành một tình cảm gần gũi như bác nói. Bác cố hình dùng xem nào! Ồ! Khu rừng về chiều bao giờ cũng yên tĩnh hơn và nắng chiếu chênh chếch trên những trên cái lều lán tạm bợ. Bác hãy nhìn lên đỉnh nhí Dưn và dù có phóng hết tầm mắt bác cũng chỉ thấy một màu xanh hùng vĩ, nó trầm mặc và uy nghi như biểu tượng của một đất nước nghìn năm tuổi và không gì đẹp hơn thế. Tôi nghĩ rằng bác đang đợi chiều xuống, cho đến khi trên bầu trời đêm kia xuất hiện những vì sao lấp lánh. Vậy là một ngày đã kết thúc. Và một cuộc sống mới lại bắt đầu, dĩ nhiên, đã kết thúc; Trà Giang đang cố làm xong việc nhà và ngồi hát nghêu ngao một mình. Bài hát đó, sao buồn quá, tôi đã quên khuấy lời của nó rồi!
- Không sao, - bác tiều phu phỏng đoán, - hẳn là bài hát về người chiến sĩ giải phóng quân đã yêu thầm một cô nữ văn công lúc mười tám tuổi.
- Hạnh phúc, hạnh phúc quá đi! Tôi đã nhớ ra bài hát năm ấy rồi. Tôi sẽ hát lại nhé, nhưng bình tĩnh lại chút nào đừng để các cô y sĩ biết chuyện ấy. Chúng ta nghĩ rằng tất cả những gì xảy ra trong đời sống đều có lý do rõ ràng của nó.
Pa Cô đã mất. Người ta gọi nàng là “Bông hoa của núi rừng”. Đó là cái tên đẹp đẽ mà người ta đặt cho tuổi trẻ của một tâm hồn thanh khiết.
A Lý thấy nuối tiếc sự ra đi đột ngột của nàng. Chàng không có khả năng làm cho nàng sống lại bằng thứ thuốc thần tiên, để thổi bùng lên ngọn lửa ấm áp trong cái lán cũ kỹ của người lính năm xưa và làm cho Pa Cô gọi là lấy một nơi trú ngụ yên lành. Chàng chỉ có một niềm tin. Đó là một cô gái thuỷ chung để đi hết với chàng trong đoạn đường đời phía trước.
Chàng sẽ làm được nhiều điều tốt đẹp hơn thế nữa chứ? Chàng chỉ biết lấy chiếc áo nhuộm bằng vỏ cây rừng của mình mà đắp lên thân hình nhỏ bé của Pa Cô khi nàng lên cơn sốt rét trong cái lều cỏ khô. Và im lặng, để giọt nước mắt lặng chảy vào trong. Đến nỗi những con lợn rừng có bộ lông cứng và rậm đã quen với cuộc sống tự do của nó cũng có lúc cảm thấy lạc lõng trong khu rừng hơn là gần gũi A Lý. Những ngày cuối cùng nó cứ quấn quýt bên cạnh A Lý và hơi ấm núi rừng làm ấm lại cơ thể của nàng.
Khi ấy vào những mùa đông lạnh giá như thế này và cánh rừng xào xạc như tiếng lá rụng mùa thu. Cánh rừng đại ngàn đã chìm sâu vào giấc ngủ hơn là bận tâm với sự lo lắng của Pa Cô! Hàng nghìn năm khu rừng vẫn đẹp như cổ tích với những màu xanh bất diệt. Công việc đi rừng cao cả đến mức những lo lắng của con người phía trước mắt chỉ là ánh hồi quang của buổi chiều thoáng qua, như tiếng nước chảy róc rách bên bờ con suối Bùa.
- Không lẽ cuộc đời ngắn ngủi thế ư? - A Lý thảng thốt và quay lại nhìn túp lều trong đêm tối.
Vì sao mà chàng có thể sống một thời gian dài thiếu thốn này lâu đến thế! Sao mà chúng có thể làm bạn với chàng như cuộc sống cô đơn giữa núi rừng hoang vắng đến như vậy! Khi Pa Cô còn trẻ tuổi, chúng đã có mặt ở đây, ở sườn núi Tang Tú này. Tự tay nàng đã cất giữ những món kỷ vật quý giá ấy. Ta luôn luôn nói chuyện thì thầm với rừng mà không sợ lạc lõng, không bao giờ lòng ta bị rối bời bởi những tiếng vọng động tẻ nhạt ấy.
- Tại sao những người anh hùng thì sống còn nàng thì ra đi mãi mãi thế được?
A Lý tự hỏi mình. Những kỷ vật nhỏ bé im lặng. - Được thôi, không hề hấn gì, - A Lý nói:
- Xin các ngươi đừng giận. Ta sẽ không bao giờ dễ dàng bỏ đi các ngươi đâu.
Các kỷ vật vẫn nằm im, không trả lời.
-Than ơi!- A Lý kêu lớn tiếng.- Làm sao có thể thức hết đêm nay đây.
Chàng ngồi bên con suối Tắc Tè và bắt đầu mường tượng về những năm tuổi trẻ. Cuộc sống trong rừng khiến chàng cảm thấy thoải mái hơn rất nhiều mặc dù chàng luôn hiểu rằng số phận con người mong manh như chiếc lá rụng rơi sẽ khiến ta nuối tiếc đến nhường nào, hoặc thậm chí, một nỗi trống trải hoang vắng trong tâm hồn. Trong mắt mọi người, chàng bị coi như một kẻ cô độc hoàn toàn.
Tại sao những người trẻ tuổi kia lại dám hy sinh tất cả và hoài bão của mình để giữ lấy cái màu xanh cao cả và không bao giờ nuối tiếc, khiến cây rừng tỏa bóng thời gian, thành biểu tượng cho một đất nước hiên ngang và cao thượng? Sao người ta lại dám đứng ra bảo vệ cái miền đất nhỏ bé ấy, giấc ngủ chiêm bao của anh với công việc lầm lụi, như thể sự chiến thắng của những anh hùng, của màu cờ đỏ, đất nước và vinh quang?
Cái sự sống trong rừng già cho ta niềm hạnh phúc tận hưởng và nuôi dưỡng tâm hồn ấy mãi trong tim ta? Che chở những cuộc đời và nói về những điều đẹp đẽ chỉ có trong trí tưởng tượng mà thôi? Để cho nhân loại phải suy nghĩ về chiến tranh ư? Để giấc mơ trên đỉnh núi mù sương kia ư? Để màu xanh kia hồi sinh ư?
- Không, không đúng lắm! - A Lý tự vấn. - Tôi là anh chàng chân chất và mộc mạc. Xin đừng nhìn tôi với cặp mắt nghi ngờ ấy nữa? Hãy chào đón tôi như một người muốn hòa bình cho thế giới! Tôi muốn hái tặng mọi người một bông hoa buổi sớm. Vì sao mà người ta từ bỏ sự xa hoa để tìm về với niềm hạnh phúc cô độc ấy, như cuộc trốn chạy thoát ẩn thoát hiện. Thật dại dội!
A Lý viết lên sổ tay nhật ký:
“Tôi nghĩ rằng con người sẽ làm nên điều tuyệt diệu trong tương lai. Nếu thời gian không quay trở lại điều đó có nghĩa một năm hoặc một trăm năm sau sẽ xuất hiện một con người khác, người đó sẽ mang niềm hy vọng đến mọi người và cả tôi nữa. Xin trời cao minh chứng cho lòng tôi, tôi không hề muốn nói quá lên rằng con người sẽ làm nên điều tuyệt diệu. Nhưng nói gì thì nói tôi vẫn cứ hiểu rằng người ta không lấy làm hứng thú với những câu chuyện hoang đường mà tôi cố tình phóng đại lên và mỗi người đều là mảnh ghép của cuộc sống này. Vì sao trong họ nảy sinh tình cảm để rồi cứ tin vào sự màu nhiệm vô hình của tạo hoá, cái mà tôi tin tưởng và là cái cớ biện minh cho cuộc đời mà thôi. Cái lý tưởng ấy là một tín hiệu tuyệt vời sao?
“Chúng ta đều biết rằng trên con tàu vũ trụ Liên hợp 37 do Gorbatko phi công Phạm Tuân đã du hành vòng quanh trái đất và nữ phi hành gia Amanda Nguyễn, đã cùng tàu vũ trụ New Shepard của công ty Blue Origin thực hiện thành công sứ mệnh NS-31, đưa nhóm phi hành gia toàn nữ lên không gian. Và có sự kiện ngẫu nhiên như vậy, chúng ta biết rằng đã có một thánh Gióng lẫm liệt, còn sông Bạch Đằng thì vẫn còn đó chưa khô những vết máu thời gian…
Có tiếng gọi lớn rền vang, như thể vọng lại từ xa. A Lý lấy một mảnh giấy ố vàng rồi viết lên đó những dòng chữ đầy xúc động trên bàn giấy đã bị bỏ quên, rồi khẽ khàng đứng dậy và đi ra phía bờ suối. Những cơn gió nhẹ nhàng thổi bay sợi tóc, nghe rõ tiếng thở của rừng kim tước, bước chân chậm rãi trên nền cây lá ải mục ở bìa rừng.
Không rõ vị khách đặc biệt này đến đây giữa đêm khuya khoắt làm gì, A Lý mở cửa rồi nói vọng ra:
- Ồ!- Chàng cất giọng – bác sĩ Hồ Cơ! Ông đột ngột đến tìm tôi trong đêm khuya vắng vào lúc này có chuyện gì chứ?
Hồ Cơ nở nụ cười, bước vào phòng khách, cởi chiếc choàng và bỏ mũ xuống. Đó là một người vạm vỡ, sáng sủa với gương mặt vuông vức đầy tin tưởng. Ông nhắm nghiền đôi mắt để lộ chiếc mí mắt sụp xuống, khẽ mỉm cười và chủ động bắt tay A Lý.
- Đó là nghĩa vụ của tôi, - Ông nói quả quyết bằng thứ giọng ngấc ngứ trong cổ họng, -Tôi vừa ở nhà trưởng bản A Thi, cách đây vài tiếng đồng hồ. Ông đang rất mệt vì chứng bệnh suy nhược cơ thể. Đã nhiều ngày nay không thấy ông lên núi Luốt nhặt củi, tôi vừa nhận được thông tin nên qua xem ông có được khoẻ không, ông A Lý thân mến ạ.
Họ đi vào trong.
- Rất lấy làm tiếc…A Lý lẩm nhẩm và nhìn ngọn lửa cháy dở trong gian bếp ấm.
- Nghĩ làm gì chuyện đã qua…Hồ Cơ đáp – khi trong túi áo lúc nào cũng có vật dụng…còn cái ly lúc nào mà chẳng sạch bóng.
Hồ Cơ lấy trong túi ra một chai rượu sâu chít và sẽ sàng đặt lên bàn.
Lúc đầu họ uống chậm rãi và nhâm nhi. Cánh rừng mênh mông mỗi lúc một dữ dội hơn, nó đã nổi trận cuồng phong. Ngọn lửa rừng rực cháy trên khuôn mặt của nữ thần Y A Na - tượng nữ thần trầm mặc đặt trên cái kệ vững chãi.
- Nhà ông thật trống trải. - Hồ Cơ đột nhiên cất lời – Lộn xộn và lạnh lẽo quá.
Ông nhìn về tượng nữ thần bất tử Y A NA.
Ông hãy dỡ bỏ cái gương mặt bà ấy đi cho tôi ngay lúc này, cái vị nữ thần bất khả chiến bại này này.
- Nhưng để làm gì mới được chứ?
- Bà ta chẳng mang lại chút may mắn nào cho ông hết, vinh quang cũng không mà cả hạnh phúc cũng không nốt.
- Không ai học được chữ ngờ.
A Lý trả lời đầy ngầm ý.
- Biết điều gì nữa! - Hồ Cơ kêu lên – Cuộc đời ông như giấc mộng chiêm bao ấy. Ông muốn nghĩ mình là gì cũng được. Thiên thần bất tử. Hoặc thần chết của địa ngục tối tăm. Đối với tôi mà nói, không có gì đáng sợ hết. Ông còn tưởng tượng ra những câu chuyện trên trời dưới biển nào nữa hả ông A Lý? Nhiều lắm chứ? Tuyệt vời biết bao! Và rồi ông sẽ được trả bao nhiêu tiền công cho tuổi trẻ để giấu kín câu chuyện trong khu rừng mang tên vị tướng huyền thoại kia chứ? Cô đơn và lạnh lẽo. Và tiếng kêu thất thanh của những con chồn nóng nảy ngoài kia, trong khu rừng?
A Lý chăm chú nhìn Hồ Cơ. Bác sĩ già không uống nhưng có vẻ đã say mèn và như một phản xạ tự nhiên, bắt đầu nổi nóng. A Lý tủm tỉm cười.
- Ông tự hào về công việc của mình - Hồ Cơ nổi giận - Dường như ông không muốn đánh đổi cả đời mình cho cái công việc vô ích ở rừng sâu. Ông không hề biết thời gian là thế nào. Ông đi xuyên qua đếm tối như người lạc đường muốn tìm về ánh sáng bình minh ấy. Trong rừng gió vẫn thổi mạnh kia. Cố thuần phục con lừa già. Nhưng để làm gì mới được chứ? Để những kẻ rỗi hơi và cô đơn nhớ ơn mình hay sao? Lòng biết ơn của mọi người, cũng như tấm lòng thánh thiện của ông, không hề đổi nấy được một xu nào.
-Tôi đang nghe những gì ông nói đây.
Bác sĩ già đập mạnh tay xuống bàn.
- Chao ôi, đáng lẽ tôi không phải chịu cảnh sống lưu đầy này! Tôi đã giữ lời thề trước Tổ Quốc như lẽ sống của người anh hùng Lê Anh Xuân. Cuộc chiến ở Điện Biên Phủ, tôi không sợ hãi. Ở đó chỉ có lòng quả đảm tuyệt vời.
- Nước Pháp đầy rẫy những kẻ tham vọng và bọn đầu cơ gian trá.
A Lý từ tốn nhận định.
- Những kẻ đi xâm chiếm nước khác, - Hồ Cơ nói lại –Trong cuộc sống này làm một người yếu đuối là hèn hạ, ông A Lý ạ!
Hồ Cơ nhìn chăm chú vào gương mặt thất thần của A Lý.
- Hình như tôi đã có phần quá chén. Đúng, có phải tôi đang chuếnh choáng không ông? Ông có thể bỏ đi những hoài bão lớn của ông để bước ra thế giới ngoài kia được không? Và sau cùng ông sẽ được trả giá bao nhiêu tiền cho cái ý tưởng mờ hồ đó?
- Ông cứ nói thật đi.
- Ồ! - Bác sĩ già kêu lên - Tôi sẽ không muốn là kẻ đối địch với ông thậm chí trong ánh mắt của tôi.
- Tôi không muốn nghe bất cứ câu chuyện ma mị nào trong khu rừng huyền thoại của tôi. Ông không thể cản trở tôi làm công việc giữ rừng nguy hiểm kia.
A Lý bình tĩnh nói.
- Dù sao ông cũng chẳng thể nào tìm đâu được người kế cận sẽ thay ông làm công việc cao cả ấy - Hồ Cơ lẩm nhẩm – Tôi sợ hãi điều gì? Trốn chạy khỏi sự cô độc trong rừng sâu ư? Hay tìm ra thứ thuốc trường sinh từ đám cỏ dại?
Gương mặt A Lý tối sầm lại vì giận dữ.
- Được thôi!- Chàng lớn tiếng nói – Nếu ông đã nghi ngờ sự cô độc trong rừng sâu…thì ông sẽ chẳng tìm thấy ở đâu cái niềm hạnh phúc an lành với những con người bí ẩn này không?
- Đó là tính cách của một người trịch thượng – Hồ Cơ nói và uống một ngụm nước ngon lành. – Tôi đã biết tất cả rồi. Để xem ông còn bịa ra những chuyện hoang đường nào của chúng tôi nữa. Trong đời sống cô độc hoàn toàn của ông.
- Đây không phải là tính cách thật thà của một người trịch thượng đâu, ông lão ạ. Ông là một người yêu đất nước, thiên nhiên, cây cỏ, ông Hồ Cơ ạ! Nhất là khi ông đã say mèm và ăn nói vụng về. Tôi tìm thấy mẩu giấy này trong cuốn sổ tay nhật ký của một người lính cảm tử quân. Đó là cuốn nhật ký phát hiện ra bí mật mập mờ về cái sự kiện tên Sĩ quan pháo binh Pháp tự sát tại Điện Biên Phủ là Trung tá Charles Piroth. Tôi mua được cuốn sách lịch sử đặc biệt này của một bà lão ở Nhà xuất bản Sự thật. Nó còn thơm mùi giấy mới và mùi của quá khứ lãng quên.
- Chỉ còn thuốc súng hăng nồng. - Hồ Cơ than thở.
- Những ký tự này được in nổi bật trên thứ giấy Couche. Căn cứ vào bề mặt giấy và chữ viết thì chúng đã tồn tại gần một trăm năm. Đó là một mẩu giấy ghi chép những sự kiện chưa từng xảy ra. Liệu ông có thể khám phá ra điều gì từ nó không?
- Tôi cũng không có ý định khám phá điều gì trong đó làm gì!
- Đó chẳng qua là sức lực của một mình ông không đủ để giữ lấy khu rừng nguyên sinh ấy - A Lý mỉm cười lạc quan, sự sống của cánh rừng gắn liền với lịch sử và số phận của những con người và cả dân tộc - Cần phải giữ gìn di sản đó. Tôi đã sống trong đó nhiều năm và hiểu được tại sao những cây rừng ở đó vẫn đứng vững lạ thường. Trong suốt mấy trăm năm.
- Quả là kỳ diệu! - Hồ Cơ thở dài một cách nặng nhọc - Vậy điều gì chứa đựng trong khu rừng đặc biệt đó, thưa ông?
- Trong nhà trường, ông đã được nghe môn địa lý nói về địa hình, khí hậu, tài nguyên, đất, nước, gió, lửa, nhưng lịch sử lại dạy chúng ta bài học về tính kiên nhẫn và lòng bao dung. Dĩ nhiên, ông cũng biết về những người lính hải quân thiện chiến và bọn cướp nước ngỗ ngược. Trong đó có một người tên là Gurkha. Hắn là người lính đánh thuê người Australia, nhưng phụng sự cho những kẻ cướp nước.
- Cảm ơn ông đã cho tôi biết một bí mật bị che giấu bấy lâu nay – Hồ Cơ tức giận - Gurkha! Một kẻ máu lạnh nhất trái đất này.
- Trước khi chết, Gurkha cất giấu toàn bộ tài sản của hắn... Không ai biết hắn tên là gì, của cải bao nhiêu, và vì lý do gì lại đến đây gây hấn. Người ta tìm kiếm ngôi mộ án táng hắn gần trăm nay và rốt cuộc…
- Không thấy? - Hồ Cơ hỏi.
- Ồ, không. Nhưng đến bây giờ thì nó vẫn bặt vô âm tín...
Hồ Cơ bất lực vỗ tay.
- Ôi! Đó là những chuyện hoang đường, ông A Lý ạ! Những câu chuyện lừa dối dành cho người già và lũ trẻ.
- Ông hãy nhớ kỹ nó đi! - A Lý nghiêm nghị nói. – Tôi sẽ giải thích vì sao những rừng cây cổ thủ mấy trăm năm tuổi kia lại có thể che chở được một cả một ngôi làng trước giông bão và cả vị tướng mà không ai biết. Giờ đây, tôi biết rằng khu rừng này cũng mang đầy dấu tích huyền thoại như tên tuổi của con người lẫy lừng năm xưa ấy. Nhưng đến tận bây giờ, tôi vẫn chưa một lần nào đi hết khu rừng đó để khám phá từng con người phi thường đó.
- Lớp trẻ sẽ biết đấy! - Hồ Cơ lẩm nhẩm, cầm cái bút, đập mạnh xuống những trang ghi chép lịch sử nhoè nhoẹt của A Lý mà không cần nghĩ và viết lại lời tựa.
- Ông đã sẵn sàng chưa! - “Ta, sứ giả từ trời cao, là Gurkha, không ai không biết đến, may mắn cho ai đọc được bức thư của ta, kẻ không vì lòng tham mà đánh đổi tất cả ngày cả những điều bất thiện, ta nhận lời phó thác của người ấy sẽ mang đến những điều tốt lành trước tấm lòng quảng đại của trời cao. Nếu kẻ đó tìm thấy tài sản mà ta tích luỹ được cả đời trong các cuộc chinh phạt không mệt mỏi – Xin ơn trên hãy tha thứ cho ta vì những cuộc đời vô tội đã phải chết chìm trong biển máu! – Thì hãy lại đây nào, hãy dành phần đời tội lỗi của ta mà dạy dỗ đứa con gái nhỏ bé mà ta gặp lần đầu ở vùng quê nghèo khó, với niềm hy vọng là trả lại sự xứng đáng và đáng kính cho các gia đình thiệt thòi mà không cần sự bú đắp nào khác.
Nếu như những lời khuyên nhủ đầy tình người của ta được hiện thực trong mỗi con người thì ta sẽ sống dậy từ nấm mộ xanh mà trừng phạt kẻ bất lương bằng những hình phạt đích đáng mà ngay cả những bộ óc não luyện nhất cũng không thể nghĩ tới.
Kho vàng ròng cất giấu ở phía Đông vương quốc Phù Nam, trên vùng đất Trung Sơn, bên thị trấn Óc Eo, nằm sâu dưới lớp đất đá hàng nghìn năm tuổi từ ngọn đồi phía Tây của Châu Thành, từ một đến vài tấn. Từ đây đến ngôi làng đó, phải đi cả hàng trăm bước chân về phía Đông Nam, đến chỗ có một phiến đá màu xám nằm ngổn ngang khắc những kí tự cổ xưa. Từ chỗ dựng phiến đá đi thêm vài bước nữa theo một góc kinh độ và lúc đó sẽ sự vật hiện ra.
Những thỏi vàng ròng ở đây sẽ khiến cả nhân loại phải thèm khát. Đến cả những vị vua từng trị vì lững lẫy của đất nước chúng ta cũng mơ ước có được số của cải ấy, dù cho trên xứ sở bình yên của người Việt cổ mặt trời sẽ không bao giờ lặn và cho dù trận cuồng phong nào thổi đến trên các miền đất nóng bỏng ấy cũng chẳng thể chạm đến!”.
- Ông đã ghi lại tất cả chưa? - A Lý bất giác hỏi sau khi chờ Hồ Cơ chép nốt dòng chữ cuối cùng.
- Xin cảm ơn ông - A Lý cầm lấy mẩu giấy mà Hồ Cơ vừa viết đặt dưới lòng bàn tay của anh và cẩu thả trong cuốn sách. Nào, giờ thì ông đã tin sức mạnh của những của con người can đảm và cả dân tộc kiên cường chưa?
Hồ Cơ nhìn về phía A Lý, ngắm nghía cuốn sách một lượt, lấy cánh tay lực lưỡng đập đập vào mắt cá chân và cười ồ lên.
- Ông khéo đánh lừa người ta lắm - Ông ta hồn nhiên nói. – Cho đến nay ông vẫn chưa đếm hết dấu chân của người lính trong khu rừng này, ông A Lý? Không có đủ sức lực sao? Hay là ông quá yêu thích cuộc sống đơn độc trong rừng nên chẳng để ý đến mọi thứ ồn ã ngoài kia?
A Lý trả lời dứt khoát.
- Được thôi? - Hồ Cơ dịu giọng – Đừng ngần ngại nhé. Tay sẽ gạt những câu chuyện nhạt nhẽo hằng ngày ấy qua một bên. Tôi đang để ý đến chuyện sẽ làm gì vào ngày mai. Ông thấy trong người khoan khoái lên chút nào chưa?
- Giấc ngủ chập chờn lắm – A Lý đáp lại –Chuyện đó sẽ qua nhanh thôi. Tôi muốn ghi lại những chuyện kì lạ xảy đến trong cuộc đời tôi. Nhưng ngay lúc này những ý nghĩ ấy xáo trộn.
- Và rõ ràng nữa chứ?- Hồ Cơ hỏi.
- Vâng, và rõ ràng.
- Đầu óc quay cuồng như hội chứng mất ngủ. - Hồ Cơ nhận xét -Mà nó lại bền chặt hơn một sợi tơ tằm.
Ông ta ngập ngừng.
- Tôi biết nói thế nào với ông đây? Tôi nói để ông biết: Ông cần thời gian để nhìn lại quá khứ và lịch sử-Trời ơi!-Hồ Cơ thở dài. Ông lúc nào cũng ung dung đến thế! Tôi có thể ngủ dưới gốc cây rừng một mình. Như thể nắm ngải cứu đã cứu sống vị tướng lẫy lừng kia. Hồ Cơ nghiêm nghị nhìn A Lý, lục tìm trong túi áo quân phục ra một mẩu giấy, cẩn trọng đưa một ít thức ăn cho A Lý:
- Ông ăn ngay bây giờ đi, kẻo đói. Như thế sẽ no bụng. Uống thêm một chút sữa nữa. Nước sẽ hoà tan thức ăn.
A Lý lấy một thứ cây quả dại từ trong túi áo ra và uống một hụm ngon lành.
- Đêm tối mênh mông quá – Hồ Cơ nói –Tôi có thể ngồi trò chuyện với ông đến sáng mà không sợ ai làm phiền. Nhưng ai sẽ thay thế tôi canh gác cửa rừng kia chứ?
- Tôi có thể canh giữ suốt đêm ngay bây giờ.
Ông lúc nào cũng niềm nở chẳng bao giờ nổi giận.
Hồ Cơ đứng phắt ngay dậy nhanh như một cơn gió đến nỗi hành động đột ngột đó làm chuyển động cả đám lá rừng. Đêm tối màu đen và qua cửa rừng A Lý nhìn thấy mặt trời đỏ rực như quả cầu lửa, nhìn thấy gốc cây khô cứng nặng nề bên con suối trong một thứ ánh sáng diệu kỳ như thể phản từ ánh trăng lạnh lẽo.
- Sao vậy ông? – Hồ Cơ nói một cách thô lỗ - Ông có ý định ở lại khu rừng này ngay không? – Tôi nghĩ ông nên thắp vài ngọn nến cho ấm áp.
Hồ Cơ bước ra khỏi bìa rừng và vấp phải một hòn đá: Ông ấy bước ra, cởi trói cho con ngựa hoang vỗ nhẹ vào hông nó rồi nói lớn:
- Cảm ơn ông, chúc buổi tối tốt lành!
A Lý cùi đầu im lặng. Chàng ra con suối Bùa ngoài kia khi qua cửa rừng khép kín đã nghe tiếng bước chân ngựa từ xa vọng lại. Ngựa phi nước đại.
- Tiếng vó ngựa ngoạn mục giữa rừng lá khô xào xạc - A Lý nghĩ ngợi, cố gắng để âm sắc của những tiếng thì thầm ăn khớp với tiếng bước chân ngựa. Tiếng vó ngựa thong dong trong rừng biếc!
Chàng đi vào lán, thắp nến, cầm lấy cuốn sổ tay, đặt nhẹ nhàng lên trước mặt và chờ đợi. Rồi chàng lật giở hết trang này đến trang khác cho đến chữ cuối cùng. Tờ giấy Hồ Cơ không còn giữ kín nữa. A Lý cười phá lên:
- Ta đã chiến thắng sự cực đoan của chiến tranh. Cả đến cái nỗi niềm hòa bình thầm kín một mình kia, ta cũng thắng. Cho dù hắn lật tung cả cánh rừng lên. Ở đó nhiều lá đến nỗi hắn đếm hết đời cũng không xuể.
A Lý cầm tờ giấy có ghi các ký tự. Đó là một trang giấy của một người lính viết cho người mình yêu trong lúc hành quân vội vã. Người ta đã cẩn thận gửi cho A Lý để anh giữ lấy nó. Trên mẩu giấy vẫn còn sót lại những mùi giấy mực của thời gian.
“Khổ thân cậu bé ngốc ngếch? Nó không tài nào ghi nhớ hết những sự kiện lịch sử số của một thiên sử vàng”.
Một tiếng đại bác từ xa bỗng nhiên dội đến cánh rừng. Âm thanh đó vang rền như tiếng pháo hoa rồi vụt tắt hẳn.
A Lý vặn nhỏ ngọn nến đang cháy dở và nhìn vào bóng tối vô định. Có tiếng bước chân ngoài bìa rừng đang lại gần kia? Hoàng hôn biến mất dần phía chân trời với sắc vàng của từng thếp sóng biển cuộn trào và chàng trông rõ con tàu thuỷ lực khổng lồ lao đi. Con tàu mở hết tốc lực và lướt đi trên mặt biển yên ả. Trước mũi thuyền, lá cờ năm màu phấp phới bay trong gió mang niềm hy vọng của triệu trái tim nhân loại.
Gurkha! Hắn ta đang nghĩ gì vậy? Khói súng bốc lên thành những cột khói hình trụ. Phải chăng đó là Gurkha, người đưa tin từ thế kỷ khác đến.
Nhưng vì sao hắn lại tìm đến cánh rừng mà A Lý sống, chân bước trên đường mòn và ngọn gió khiến cho chiếc áo choàng rộng rãi của hắn lay động? Tên Gurkha vẻ mặt dữ tợn. Tên hung bạo và là kẻ thích châm ngòi cho chiến tranh đã cố tình nghĩ ra chuyện vẽ mặt người trên lá cờ.
“Tôi không dễ gì thoả hiệp với hắn” - Lý Sáng nói và nhắm nghiền mắt lại, đầu óc choáng váng.
Trời đã về khuya và không khí bực bội, nhưng trong bóng đêm mênh mông A Lý vẫn nhìn thấy cánh rừng đại ngàn hùng vĩ nở đầy hoa dã quỳ tím. Từ những bông hoa phát ra một thứ mùi hương đặc biệt, tường chừng trong mỗi bông hoa có một mặt trời lấp lánh bé nhỏ.
“Hình như, đó là giấc mơ - A Lý nghĩ một cách lạc quan - Sự thật mới khó nghe làm sao? Ta luôn ham sống, nhưng ta không còn thời giờ nữa. Pa Cô, hoa Tam Đảo của lòng em nở rồi kia. Đưa bàn tay đây cho anh nào! Thế chứ! Tay em có vẻ lạnh lắm đấy và anh không nhận ra đôi mắt em? Anh nhớ ngón tay búp măng mũm mĩm của em, bởi vì có lúc vô tình anh đã chạm đến rồi kể cho chúng nghe những câu chuyện cổ tích. Ta như bị hút vào một cái hố sâu tuyệt vọng của thung lũng Tu Sản kia đó?
Hãy lại gần anh, gần thêm chút nữa! Nắm chặt tay anh, Pa Cô!”.
Một sáng nọ, cô gái gầy gò, rụt rè đi về phía cái lán chỗ A Sáng. Đó là Trà Giang.
Gió đã yên ả, nhưng trời còn mờ tối. Một màu xanh hiện rõ trên đường chân trời.
Trà Giang cố tình gõ cửa nhưng không ai trả lời. Cô thấy cánh cửa vẫn im lìm. Cô rón rén bước vào trong.
Một người đàn ông gầy gò, lực lưỡng ngồi trên chiếc ghế. Ông ngồi trầm tư bên cuốn sổ nhật ký đã úa màu thời gian bỏ trống.
- Ông là A Lý! - Trà Giang gọi lớn.
Người đàn ông vẫn không trả lời.
Trà Giang tim đập thình thịch, bước lại gần A Lý và từ từ nâng đầu chàng lên. Chàng đã không còn thở thêm một hơi nào được nữa.
Trà Giang phải dùng hết sức mới kéo được thân hình nặng nề của chàng lên chiếc giường người lính.
Trên tay A Lý vẫn nắm chặt một bông hồng nhỏ. Trong đó có bức chân dung một thiếu phụ tươi trẻ. Ở ngay cạnh tấm ảnh có dòng chữ mờ nhạt mà tự tay A Lý viết: “Mẹ tôi”.
Trà Giang cúi gập xuống nâng thân hình A Lý lên, hạnh phúc ôm chặt lấy và đặt lên môi anh một nụ hôn.
Mặt A Lý lúc này thật rạng rỡ. Dường như trong đời chàng chưa bao giờ cảm nhận thấy sự xứng đáng với một tình yêu mạnh liệt đến thế.
A Lý được đặt yên nghỉ trên một ngọn đồi gần bìa rừng.
Trên mộ chàng người ta đặt một tấm bia đá có khắc tên chàng và nơi hàng mộ chí ghi rằng chàng đã hy sinh để cho những cuộc đời khác được sống.
Một năm sau khi A Lý qua đời, trong một đêm mưa giông lạnh lẽo, bác sĩ Hồ Cơ cưỡi một con ngựa khó tính đến trước mộ chàng. Ông chậm rãi bước xuống ngựa, nhìn qua nhìn lại một hồi rồi đến bên nhanh nhẹn rút trong túi áo ra một chiếc rìu đá tạ và dùng hết sức lực, đập mạnh xuống tấm bia. Tấm bia vỡ tan thành nhiều mảnh, bay khắp nơi.
Cú vung búa làm con ngựa hoảng hốt, nó rụt người lại và phi nước đại về phía bìa rừng. Hồ Cơ vội vã đuổi rượt theo, nhưng lại đột ngột dừng bước ném chiếc rìu xuống con suối. Và cả người và ngựa biến mất.
Mùa xuân trên bức tượng đài bất tử ngập đầy cỏ rêu phong, những nhánh lan rừng trắng xinh, những nụ hoa Dã Quỳ hé nở và không bao lâu sau cả tấm bia đá đã bị ngập trong những vòng hoa mặc niệm đầy kiêu hãnh ấy. Có một cánh rừng đại ngàn đã đi vào giấc ngủ và cũng có một vị tướng huyền thoại cũng chìm trong giấc ngủ ngàn năm ở Vũng Chùa – Đảo Yến: Tướng Giáp.
V.M.P
Tên các nhân vật trong truyện.
A Lý: Tên thật là Mùi Văn Lý, người trực tiếp quản lý khu rừng tại bản Nhọt, xã Gia Phù, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Khu rừng mang tên vị tướng huyền thoại: Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Hồ Cơ: Tên nhà giáo từng viết câu đối ca ngợi công lao của Đại tướng.
Trà Giang: Là một nghệ sĩ từng hoạt động trong đội “Chim sơn ca”
Charles Piroth: Là một Trung tá, Sĩ quan pháo binh Pháp tự sát tại Điện Biên Phủ.
Vũng Chùa - Đảo Yến: Nơi yên nghỉ cuối cùng của Đại tướng huyền thoại.