TIN TỨC

Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-08-14 15:27:36
mail facebook google pos stwis
142 lượt xem

ĐẶNG HUY GIANG

Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi  tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.  

 
1. Ướp gió Lào khét lẹt mật vành môi/ Bẻ trăng, bẻ sao cho thuyền người yêu neo đậu

 Hai câu này có một giọng điệu rất riêng, rất "Nghệ": Quyết liệt, táo bạo, mộc mạc mà dữ dội. Cái hay của hai câu thơ không nằm ở tính hiện thực, mà ở việc biến những điều không thể thành những cử chỉ rất tự nhiên của tình yêu.

 Ngay câu đầu, Ướp gió Lào khét lẹt mật vành môi đã là một nghịch hợp đầy sáng tạo. Gió Lào vốn tượng trưng cho cái bỏng rát, khô khốc, khắc nghiệt của miền Trung. "Khét lẹt" càng làm cái nóng trở nên cực điểm. Thế nhưng nhà thơ lại đem "ướp" cái gió ấy bằng "mật vành môi". Mật là ngọt, môi là yêu thương, là nụ hôn, cũng mang hương vị ngọt. Cái khắc nghiệt của thiên nhiên được tình yêu thuần hóa. Điều vốn cay nghiệt bỗng trở thành gia vị của hạnh phúc. Đây là một cách nói rất Nghệ: Không than thân trách phận, không trốn chạy gian lao, mà lấy tình yêu để hóa giải gian lao.

Nhà thơ Đặng Huy Giang (trái) và nhà thơ Đinh Nho Tuấn.

 Câu thơ thứ hai còn táo bạo hơn: Bẻ trăng, bẻ sao cho thuyền người yêu neo đậu. Trăng và sao vốn là những vật thể không ai có thể chạm tới, càng không thể "bẻ". Nhưng trong logic của tình yêu, điều phi lý ấy lại trở nên hoàn toàn bình thường. "Bẻ trăng, bẻ sao" không phải để chiếm hữu vũ trụ, mà chỉ nhằm một mục đích rất giản dị: Cho thuyền người yêu neo đậu.

 Đó là một hình ảnh đẹp. Người yêu được ví như con thuyền lênh đênh giữa trời nước mênh mang. Người ở lại sẵn sàng bẻ cả ánh trăng, uốn cả vì sao thành chiếc cọc neo, thành bến đợi để người mình yêu có nơi dừng chân. Cái lớn lao của vũ trụ rốt cuộc chỉ quy về một điều nhỏ bé mà thiêng liêng: Giữ lấy người mình thương. Hai câu thơ còn mang đậm tính cách xứ Nghệ ở tinh thần nói quá mà chân thật.

 Điều đáng quý nhất là hai câu thơ đã biến cái khác thường thành bình thường. Trong thế giới của lý trí, không ai có thể ướp gió, bẻ trăng hay bẻ sao. Nhưng trong thế giới của tình yêu, tất cả những việc ấy đều trở nên tự nhiên như một bản năng. Khi yêu đến tận cùng, con người không còn tính toán xem điều gì có thể hay không thể. Họ chỉ nghĩ làm sao để người mình yêu bớt khổ, có chỗ bình yên mà neo đậu.

 Vì thế, đằng sau vẻ ngông nghênh, mạnh bạo của ngôn từ là một triết lý rất đẹp: Tình yêu chân thành luôn có khả năng cải biến thế giới trong cảm nhận của con người. Nó không làm gió Lào bớt nóng hay trăng sao gần hơn, nhưng nó khiến cái khắc nghiệt hóa thành ngọt ngào và cái không thể hóa thành điều hiển nhiên. Đó cũng chính là vẻ đẹp của thi ca: Không mô tả hiện thực như nó vốn có, mà diễn tả hiện thực như trái tim người đang yêu cảm nhận.

 
2. Một tiếng choa người dầm trong nước/ Mùa chết trôi, cây lúa cũng phong trần/ Một khúc ruột, tiếng choa quặn thắt/ Chuông nhà thờ nghẹn giọng, chiều ngân

 Bốn câu thơ có một hạt nhân thẩm mỹ rất đặc biệt: "Tiếng choa". Nếu thay "choa" bằng "tôi", "ta", hay "chúng tôi", bài thơ sẽ vẫn có nghĩa, nhưng sẽ mất gần như toàn bộ linh hồn. Chính "choa" đã nâng bài thơ từ một nỗi đau cá nhân lên thành một nỗi đau mang căn cước văn hóa.

 Trước hết, "choa" là đại từ xưng hô đặc trưng của vùng Nghệ Tĩnh, một tiếng gọi mộc mạc, chân chất, nghe đã thấy hơi đất, hơi gió Lào, vị mặn của mồ hôi và cả sự lam lũ. Nó không chỉ là ngôn ngữ mà còn là quê hương. Chỉ cần cất lên một tiếng "choa", người đọc đã hình dung được cả một miền đất.

 Một tiếng choa người dầm trong nước - đây là câu thơ gây ấn tượng mạnh. Điều đáng chú ý là nhà thơ không viết "người Nghệ dầm trong nước" mà viết "tiếng choa người dầm trong nước", có nghĩa là không chỉ thân xác con người ngâm trong nước lũ, mà ngay cả tiếng nói, tiếng quê, linh hồn quê cũng chìm trong nước. Một chữ "tiếng" đứng trước "choa" làm cho "choa" không còn là đại từ nữa mà trở thành âm thanh của cả một cộng đồng.

 Nước lũ ngập nhà, nhưng sâu hơn, nước lũ còn làm nghẹn tiếng nói. Đó là một phát hiện rất tinh.

 Đến câu: Mùa chết trôi, cây lúa cũng phong trần. "Mùa chết" là một cách nói đầy ám ảnh. Không phải một người chết mà cả mùa vụ chết, cả hy vọng trôi đi theo nước."Cây lúa cũng phong trần" là một nhân hóa rất đắt."Phong trần" vốn dành cho đời người. Đem đặt vào cây lúa, tác giả khiến cây lúa cũng mang số phận con người. Nó không còn là cây lúa nữa mà là người nông dân hóa thân. Đến câu thứ ba: Một khúc ruột, tiếng choa quặn thắt. Đây là câu thơ hay nhất. "Khúc ruột" vốn là hình ảnh quen thuộc để chỉ quê hương. Nhưng ở đây không viết: Một khúc ruột quặn thắt mà lại viết: Một khúc ruột, tiếng choa quặn thắt. Nghĩa là điều quặn thắt nhất không phải thân thể mà là tiếng nói.

 Điều tôi thích nhất là tác giả không hề giải thích "choa" là gì. Bài thơ tin vào sức nặng của chính ngôn ngữ địa phương. Một chữ dân dã, khi được đặt đúng chỗ, có thể mang sức chuyên chở mà nhiều khái niệm trừu tượng không làm được. Có thể nói, nếu bốn câu thơ này là một bản nhạc thì "tiếng choa" chính là nốt chủ âm. Và "tiếng choa" không chỉ là một từ địa phương, mà là tiếng nói của một khúc ruột đất nước.


3. Giang Đình một bến ai còn đợi/ Còn phả hương nng chốn hư không

Câu thơ đem đến một cảm giác rất lạ. Chúng không kể chuyện, không tả cảnh theo lối thông thường, mà mở ra một không gian của ký ức, của sự vắng mặt và của dư hương. Cái hay nằm ở chính sức gợi nhiều hơn sức tả.

Trước hết, Giang Đình một bến ai còn đợi là một câu hỏi không cần lời đáp. Giang Đình (một địa danh ở Nghi Xuân, Hà Tĩnh, bên sông Lam) vốn đã gợi một không gian cổ kính, nơi chia ly và hội ngộ. Nhưng điều quan trọng là "một bến" chứ không phải "bến". Chữ "một" khiến bến ấy trở thành một bến riêng của tâm tưởng, một địa điểm độc nhất trong ký ức. Rồi câu hỏi "ai còn đợi?" không hướng đến một con người cụ thể. "Ai" vừa là một người, vừa là tất cả những người từng chờ đợi, từng hẹn ước, từng lỡ làng. Câu hỏi ấy treo lơ lửng, nên nỗi buồn cũng không khép lại. Nếu câu đầu còn có bến nước hữu hình, thì câu sau lập tức đưa người đọc sang một cõi khác: Còn phả hương nồng chốn hư không. Đây là liên tưởng rất đẹp. Động từ "phả" thường dùng cho hương hoa, hơi đất, hơi rượu... Nó là một sự lan tỏa âm thầm nhưng mãnh liệt. Điều đặc biệt là cái được phả không hiện diện bằng hình hài mà bằng hương. Và nơi hương ấy lan tỏa lại là "chốn hư không".

 "Hư không" vốn là khoảng trống tuyệt đối, tưởng như không thể lưu giữ điều gì. Thế mà hương vẫn "còn phả". Điều đó khiến câu thơ vượt khỏi tả cảnh để trở thành một ẩn dụ về ký ức và tình cảm. Người có thể đã xa, bến có thể đã vắng, thời gian có thể đã trôi rất lâu, nhưng dư hương của một cuộc gặp gỡ, một tình yêu hay một đời người vẫn âm thầm tỏa trong cõi vô hình.

 Điều đáng nói là tác giả không viết "hương còn phảng phất" mà viết "phả hương nồng". "Phảng phất" thì nhẹ, còn "nồng" là đậm, là đầy, là mãnh liệt. Vì thế, đây không phải thứ ký ức nhạt dần theo năm tháng, mà là một ký ức càng xa càng thấm, càng mất càng hiện hữu. Đó là một nghịch lý rất thơ: Cái không còn hình bóng lại còn hương, cái ở chốn hư không lại trở nên đậm đặc nhất.   Đó là hành trình từ ngoại cảnh vào nội tâm, từ hữu hình sang vô hình, từ thực tại sang tâm linh.

 Hai câu thơ này cho thấy: Cái đẹp không ở chỗ nói hết mà ở chỗ để lại một khoảng lặng. Bến sông rồi sẽ vắng, con người rồi sẽ đi qua, nhưng có những điều vô hình - tình nghĩa, ký ức, linh hồn của một cuộc gặp gỡ vẫn "phả hương nồng" giữa cõi hư không. Chính vì thế, đọc xong người ta thấy bâng khuâng mà không rõ mình đang nhớ một người, một bến hay một kiếp đã xa. Đó là dấu hiệu của một câu thơ có sức gợi bền lâu.


 4. Đi khắp năm châu nơi đâu cũng húc đầu vào người Nghệ?

 Đây là một câu thơ ngắn nhưng có nhiều tầng nghĩa và sức gợi của nó nằm ở cụm từ rất "đời" và rất "Nghệ": Húc đầu vào người Nghệ. Trước hết, nếu hiểu theo nghĩa bề mặt, câu thơ nói rằng: Đi khắp năm châu, ở đâu cũng gặp người Nghệ. Đây là một cách nói cường điệu để diễn tả sự có mặt của người xứ Nghệ ở khắp mọi nơi. Quả thực, người Nghệ nổi tiếng là chịu khó, ham học, thích đi xa lập nghiệp, nên từ miền Nam, Tây Nguyên đến nước ngoài đều có cộng đồng người Nghệ đông đảo. Nhưng nếu chỉ hiểu như vậy thì câu thơ chưa có gì đặc sắc. Cái hay nằm ở động từ "húc đầu".

 "Húc đầu" không phải là "gặp", mà là va phải một cách bất ngờ, mạnh, không tránh được. Nó tạo cảm giác rằng người Nghệ có mặt dày đặc đến mức đi đâu cũng "đụng". Đó là một lối nói dân dã, hài hước, rất đúng chất khẩu ngữ xứ Nghệ. Đồng thời, chữ "húc" còn gợi đến cá tính của người Nghệ: Cứng cỏi, thẳng thắn, bướng bỉnh, quyết liệt. Vì vậy, câu thơ như ngầm nói rằng: Đi đến đâu cũng gặp những con người mang cái khí chất Nghệ vừa gan góc, vừa chịu thương chịu khó, ít chịu khuất phục. Nếu hiểu theo tầng nghĩa văn hóa, đây còn là một lời tự hào pha chút tự trào. Người Nghệ vốn nổi tiếng hay đùa về chính mình. Họ có thể nói những câu như: "Ở đâu có đất là ở đó có người Nghệ." Câu thơ này cũng mang tinh thần ấy: Vừa khoe, vừa cười. Với tư cách một câu thơ mang giọng dân gian hiện đại, tôi cho rằng nó khá thành công. Chỉ với mười mấy chữ, tác giả đã làm hiện lên cả một hiện tượng xã hội và một nét tính cách vùng miền bằng một động từ rất "đắt". Đọc lên, người ta vừa bật cười, vừa thấy trong đó có chút tự hào, chút ngang tàng và cả cái chất "đi mô rồi cũng gặp người nhà" rất riêng của xứ Nghệ.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm