TIN TỨC

Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-08-14 15:27:36
mail facebook google pos stwis
979 lượt xem

ĐẶNG HUY GIANG

Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi  tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.  

 
1. Ướp gió Lào khét lẹt mật vành môi/ Bẻ trăng, bẻ sao cho thuyền người yêu neo đậu

 Hai câu này có một giọng điệu rất riêng, rất "Nghệ": Quyết liệt, táo bạo, mộc mạc mà dữ dội. Cái hay của hai câu thơ không nằm ở tính hiện thực, mà ở việc biến những điều không thể thành những cử chỉ rất tự nhiên của tình yêu.

 Ngay câu đầu, Ướp gió Lào khét lẹt mật vành môi đã là một nghịch hợp đầy sáng tạo. Gió Lào vốn tượng trưng cho cái bỏng rát, khô khốc, khắc nghiệt của miền Trung. "Khét lẹt" càng làm cái nóng trở nên cực điểm. Thế nhưng nhà thơ lại đem "ướp" cái gió ấy bằng "mật vành môi". Mật là ngọt, môi là yêu thương, là nụ hôn, cũng mang hương vị ngọt. Cái khắc nghiệt của thiên nhiên được tình yêu thuần hóa. Điều vốn cay nghiệt bỗng trở thành gia vị của hạnh phúc. Đây là một cách nói rất Nghệ: Không than thân trách phận, không trốn chạy gian lao, mà lấy tình yêu để hóa giải gian lao.

Nhà thơ Đặng Huy Giang (trái) và nhà thơ Đinh Nho Tuấn.

 Câu thơ thứ hai còn táo bạo hơn: Bẻ trăng, bẻ sao cho thuyền người yêu neo đậu. Trăng và sao vốn là những vật thể không ai có thể chạm tới, càng không thể "bẻ". Nhưng trong logic của tình yêu, điều phi lý ấy lại trở nên hoàn toàn bình thường. "Bẻ trăng, bẻ sao" không phải để chiếm hữu vũ trụ, mà chỉ nhằm một mục đích rất giản dị: Cho thuyền người yêu neo đậu.

 Đó là một hình ảnh đẹp. Người yêu được ví như con thuyền lênh đênh giữa trời nước mênh mang. Người ở lại sẵn sàng bẻ cả ánh trăng, uốn cả vì sao thành chiếc cọc neo, thành bến đợi để người mình yêu có nơi dừng chân. Cái lớn lao của vũ trụ rốt cuộc chỉ quy về một điều nhỏ bé mà thiêng liêng: Giữ lấy người mình thương. Hai câu thơ còn mang đậm tính cách xứ Nghệ ở tinh thần nói quá mà chân thật.

 Điều đáng quý nhất là hai câu thơ đã biến cái khác thường thành bình thường. Trong thế giới của lý trí, không ai có thể ướp gió, bẻ trăng hay bẻ sao. Nhưng trong thế giới của tình yêu, tất cả những việc ấy đều trở nên tự nhiên như một bản năng. Khi yêu đến tận cùng, con người không còn tính toán xem điều gì có thể hay không thể. Họ chỉ nghĩ làm sao để người mình yêu bớt khổ, có chỗ bình yên mà neo đậu.

 Vì thế, đằng sau vẻ ngông nghênh, mạnh bạo của ngôn từ là một triết lý rất đẹp: Tình yêu chân thành luôn có khả năng cải biến thế giới trong cảm nhận của con người. Nó không làm gió Lào bớt nóng hay trăng sao gần hơn, nhưng nó khiến cái khắc nghiệt hóa thành ngọt ngào và cái không thể hóa thành điều hiển nhiên. Đó cũng chính là vẻ đẹp của thi ca: Không mô tả hiện thực như nó vốn có, mà diễn tả hiện thực như trái tim người đang yêu cảm nhận.

 
2. Một tiếng choa người dầm trong nước/ Mùa chết trôi, cây lúa cũng phong trần/ Một khúc ruột, tiếng choa quặn thắt/ Chuông nhà thờ nghẹn giọng, chiều ngân

 Bốn câu thơ có một hạt nhân thẩm mỹ rất đặc biệt: "Tiếng choa". Nếu thay "choa" bằng "tôi", "ta", hay "chúng tôi", bài thơ sẽ vẫn có nghĩa, nhưng sẽ mất gần như toàn bộ linh hồn. Chính "choa" đã nâng bài thơ từ một nỗi đau cá nhân lên thành một nỗi đau mang căn cước văn hóa.

 Trước hết, "choa" là đại từ xưng hô đặc trưng của vùng Nghệ Tĩnh, một tiếng gọi mộc mạc, chân chất, nghe đã thấy hơi đất, hơi gió Lào, vị mặn của mồ hôi và cả sự lam lũ. Nó không chỉ là ngôn ngữ mà còn là quê hương. Chỉ cần cất lên một tiếng "choa", người đọc đã hình dung được cả một miền đất.

 Một tiếng choa người dầm trong nước - đây là câu thơ gây ấn tượng mạnh. Điều đáng chú ý là nhà thơ không viết "người Nghệ dầm trong nước" mà viết "tiếng choa người dầm trong nước", có nghĩa là không chỉ thân xác con người ngâm trong nước lũ, mà ngay cả tiếng nói, tiếng quê, linh hồn quê cũng chìm trong nước. Một chữ "tiếng" đứng trước "choa" làm cho "choa" không còn là đại từ nữa mà trở thành âm thanh của cả một cộng đồng.

 Nước lũ ngập nhà, nhưng sâu hơn, nước lũ còn làm nghẹn tiếng nói. Đó là một phát hiện rất tinh.

 Đến câu: Mùa chết trôi, cây lúa cũng phong trần. "Mùa chết" là một cách nói đầy ám ảnh. Không phải một người chết mà cả mùa vụ chết, cả hy vọng trôi đi theo nước."Cây lúa cũng phong trần" là một nhân hóa rất đắt."Phong trần" vốn dành cho đời người. Đem đặt vào cây lúa, tác giả khiến cây lúa cũng mang số phận con người. Nó không còn là cây lúa nữa mà là người nông dân hóa thân. Đến câu thứ ba: Một khúc ruột, tiếng choa quặn thắt. Đây là câu thơ hay nhất. "Khúc ruột" vốn là hình ảnh quen thuộc để chỉ quê hương. Nhưng ở đây không viết: Một khúc ruột quặn thắt mà lại viết: Một khúc ruột, tiếng choa quặn thắt. Nghĩa là điều quặn thắt nhất không phải thân thể mà là tiếng nói.

 Điều tôi thích nhất là tác giả không hề giải thích "choa" là gì. Bài thơ tin vào sức nặng của chính ngôn ngữ địa phương. Một chữ dân dã, khi được đặt đúng chỗ, có thể mang sức chuyên chở mà nhiều khái niệm trừu tượng không làm được. Có thể nói, nếu bốn câu thơ này là một bản nhạc thì "tiếng choa" chính là nốt chủ âm. Và "tiếng choa" không chỉ là một từ địa phương, mà là tiếng nói của một khúc ruột đất nước.


3. Giang Đình một bến ai còn đợi/ Còn phả hương nồng chốn hư không

Câu thơ đem đến một cảm giác rất lạ. Chúng không kể chuyện, không tả cảnh theo lối thông thường, mà mở ra một không gian của ký ức, của sự vắng mặt và của dư hương. Cái hay nằm ở chính sức gợi nhiều hơn sức tả.

Trước hết, Giang Đình một bến ai còn đợi là một câu hỏi không cần lời đáp. Giang Đình (một địa danh ở Nghi Xuân, Hà Tĩnh, bên sông Lam) vốn đã gợi một không gian cổ kính, nơi chia ly và hội ngộ. Nhưng điều quan trọng là "một bến" chứ không phải "bến". Chữ "một" khiến bến ấy trở thành một bến riêng của tâm tưởng, một địa điểm độc nhất trong ký ức. Rồi câu hỏi "ai còn đợi?" không hướng đến một con người cụ thể. "Ai" vừa là một người, vừa là tất cả những người từng chờ đợi, từng hẹn ước, từng lỡ làng. Câu hỏi ấy treo lơ lửng, nên nỗi buồn cũng không khép lại. Nếu câu đầu còn có bến nước hữu hình, thì câu sau lập tức đưa người đọc sang một cõi khác: Còn phả hương nồng chốn hư không. Đây là liên tưởng rất đẹp. Động từ "phả" thường dùng cho hương hoa, hơi đất, hơi rượu... Nó là một sự lan tỏa âm thầm nhưng mãnh liệt. Điều đặc biệt là cái được phả không hiện diện bằng hình hài mà bằng hương. Và nơi hương ấy lan tỏa lại là "chốn hư không".

 "Hư không" vốn là khoảng trống tuyệt đối, tưởng như không thể lưu giữ điều gì. Thế mà hương vẫn "còn phả". Điều đó khiến câu thơ vượt khỏi tả cảnh để trở thành một ẩn dụ về ký ức và tình cảm. Người có thể đã xa, bến có thể đã vắng, thời gian có thể đã trôi rất lâu, nhưng dư hương của một cuộc gặp gỡ, một tình yêu hay một đời người vẫn âm thầm tỏa trong cõi vô hình.

 Điều đáng nói là tác giả không viết "hương còn phảng phất" mà viết "phả hương nồng". "Phảng phất" thì nhẹ, còn "nồng" là đậm, là đầy, là mãnh liệt. Vì thế, đây không phải thứ ký ức nhạt dần theo năm tháng, mà là một ký ức càng xa càng thấm, càng mất càng hiện hữu. Đó là một nghịch lý rất thơ: Cái không còn hình bóng lại còn hương, cái ở chốn hư không lại trở nên đậm đặc nhất.   Đó là hành trình từ ngoại cảnh vào nội tâm, từ hữu hình sang vô hình, từ thực tại sang tâm linh.

 Hai câu thơ này cho thấy: Cái đẹp không ở chỗ nói hết mà ở chỗ để lại một khoảng lặng. Bến sông rồi sẽ vắng, con người rồi sẽ đi qua, nhưng có những điều vô hình - tình nghĩa, ký ức, linh hồn của một cuộc gặp gỡ vẫn "phả hương nồng" giữa cõi hư không. Chính vì thế, đọc xong người ta thấy bâng khuâng mà không rõ mình đang nhớ một người, một bến hay một kiếp đã xa. Đó là dấu hiệu của một câu thơ có sức gợi bền lâu.


 4. Đi khắp năm châu nơi đâu cũng húc đầu vào người Nghệ?

 Đây là một câu thơ ngắn nhưng có nhiều tầng nghĩa và sức gợi của nó nằm ở cụm từ rất "đời" và rất "Nghệ": Húc đầu vào người Nghệ. Trước hết, nếu hiểu theo nghĩa bề mặt, câu thơ nói rằng: Đi khắp năm châu, ở đâu cũng gặp người Nghệ. Đây là một cách nói cường điệu để diễn tả sự có mặt của người xứ Nghệ ở khắp mọi nơi. Quả thực, người Nghệ nổi tiếng là chịu khó, ham học, thích đi xa lập nghiệp, nên từ miền Nam, Tây Nguyên đến nước ngoài đều có cộng đồng người Nghệ đông đảo. Nhưng nếu chỉ hiểu như vậy thì câu thơ chưa có gì đặc sắc. Cái hay nằm ở động từ "húc đầu".

 "Húc đầu" không phải là "gặp", mà là va phải một cách bất ngờ, mạnh, không tránh được. Nó tạo cảm giác rằng người Nghệ có mặt dày đặc đến mức đi đâu cũng "đụng". Đó là một lối nói dân dã, hài hước, rất đúng chất khẩu ngữ xứ Nghệ. Đồng thời, chữ "húc" còn gợi đến cá tính của người Nghệ: Cứng cỏi, thẳng thắn, bướng bỉnh, quyết liệt. Vì vậy, câu thơ như ngầm nói rằng: Đi đến đâu cũng gặp những con người mang cái khí chất Nghệ vừa gan góc, vừa chịu thương chịu khó, ít chịu khuất phục. Nếu hiểu theo tầng nghĩa văn hóa, đây còn là một lời tự hào pha chút tự trào. Người Nghệ vốn nổi tiếng hay đùa về chính mình. Họ có thể nói những câu như: "Ở đâu có đất là ở đó có người Nghệ." Câu thơ này cũng mang tinh thần ấy: Vừa khoe, vừa cười. Với tư cách một câu thơ mang giọng dân gian hiện đại, tôi cho rằng nó khá thành công. Chỉ với mười mấy chữ, tác giả đã làm hiện lên cả một hiện tượng xã hội và một nét tính cách vùng miền bằng một động từ rất "đắt". Đọc lên, người ta vừa bật cười, vừa thấy trong đó có chút tự hào, chút ngang tàng và cả cái chất "đi mô rồi cũng gặp người nhà" rất riêng của xứ Nghệ.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Đời vẫn xanh, tình vẫn xanh và thơ…
Bài đăng tạp chí Sông Hương, tháng 9/2026
Xem thêm
Đi qua “nham thạch”, đón mùi “lụa hương”
Có những bài thơ, vừa đọc qua, đã cảm thấy độ nóng bỏng như lửa, nhưng ngẫm kỹ, lại thấy bên trong ấy, chứa đầy một thế giới rất mềm mại, dịu êm. Cũng có những bài thơ chỉ thoảng qua như một mùi hương, tưởng nhẹ tênh mà lại đủ sức níu lấy cả một miền ký ức.
Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm