TIN TỨC

Người Mẹ ở cồn Bình Hưng

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-07-05 11:17:55
mail facebook google pos stwis
2091 lượt xem

 CUỘC THI "ĐỀN ƠN ĐÁP NGHĨA"

PHẠM THỊ TOÁN

Cồn Bình Hưng, một cù lao nhỏ thuộc xã Bình Thạnh, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp. Từ Ủy ban xã, chúng tôi tới ấp Bình Mỹ A, xuống đò. Con sông Cái mênh mông sóng nước chia 3 ngả: một về Bình Mỹ A, một qua cồn Bình Hưng của Bình Thạnh và một nhánh sang xã Mỹ Hiệp. Hơn 30 năm tôi mới trở lại nơi đây, cảnh vật gần như lột xác hoàn toàn. Cái hoang sơ, trống trải không còn, thay vào đó là cả một vùng quê trù phú với đủ loại cây trái quanh năm: xoài, ổi, mít, chanh, sầu riêng… Anh Vinh, chuyên viên văn hóa - xã hội phụ trách công tác thương binh - xã hội của xã Bình Thạnh dẫn tôi chạy luồn lách vào những con đường nhỏ, trên đầu mát rượi bởi những hàng cây trái đan xen, tít tắp. Cái nắng chói chang dường như núp hết ở trên những bóng cây.

Được biết Bình Thạnh là một xã anh hùng trong kháng chiến, anh hùng trong lao động. Ngày trước nơi đây là căn cứ của nhiều cơ quan cách mạng. Cuối những năm 60, 70, những đơn vị thuộc cấp huyện, tỉnh, khu và trung ương tới trú đóng bởi địa bàn qua lại rất khó khăn. Muốn qua sông Cái lớn không đụng địch, anh em cán bộ phải dừng chân ở đây, nghe ngóng tình hình địch êm, ghe xuồng mới lẹ phóng qua đưa anh em về những vùng căn cứ của tỉnh Kiến Phong, Sa Đéc, Vĩnh Long… công tác an toàn.


Mẹ Việt Nam Anh hùng Lữ Thị Thôi

Chúng tôi gặp Mẹ Việt Nam Anh hùng Lữ Thị Thôi bên con rạch Khém Sâu, ấp Bình Hưng, với nụ cười rạng rỡ. 85 tuổi, bà say sưa kể chuyện ngày xưa. Là gia đình rặt Việt cộng, bà nội là mẹ Việt Nam Anh hùng tên Thái Thị Kim Anh, với 4 người con và 1 cháu nội đều là liệt sĩ, còn người con thứ 8 cũng là thương binh nặng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Tôi thật ngạc nhiên khi bà lôi cái thùng luộc bằng sắt nhỏ cho tôi xem những Tài liệu tập huấn in roneo, những Danh sách chiến sĩ, Danh sách đoàn viên viết tay trong đơn vị của chồng bà đã ép nilon cẩn thận gần như vẫn còn nguyên vẹn, dù cách nay đã hơn 50 năm rồi: Đề án công tác quí 3/1968 của ngành Giao bưu; Tài liệu chỉnh huấn “Bản chất quân đội” cho cán bộ trung đội và chiến sĩ năm 1967; Tài liệu học tập thời sự “Tiếp tục đánh mạnh, đánh đau, đánh cho đến khi Mỹ - ngụy thất bại hoàn toàn”… Danh sách cán bộ, chiến sĩ đơn vị là giấy pelure mỏng dính, úa vàng, hình chữ nhật bằng bàn tay nối dài chừng 30, 40cm. Các ông đa phần sinh năm 1951, 1952, họ và tên thật, họ tên bí danh, cha mẹ, quê quán, có vợ hay chưa, học mới lớp 1, lớp 2… Cái thùng sắt nhỏ này ông luôn xách theo bên mình. Khi địch càn, bố, ông bỏ hết các giấy tờ “bửu bối” này vô thùng thảy xuống ao, đìa rồi trốn xuống hầm bí mật hoặc né sang vùng bên. Phải nói loại thùng luộc của Mỹ ngày xưa kín thật, nằm dưới nước rất lâu mà không hề bị rò rỉ nước vô dù một giọt. Còn tụi địch có “trời” cũng không mò ra được, bà nói. Tụi Mỹ chắc không bao giờ nghĩ ra chúng đã cung cấp cho ta một dụng cụ bảo vệ tài liệu mật quá tuyệt vời nhất là những tháng mùa mưa của vùng miền Tây Nam bộ này.

Chồng bà là người con thứ ba của bà Kim Anh, tên Nguyễn Văn Thọ (còn gọi Ba Thọ). Ông sinh năm 1932, khi theo cách mạng là giao bưu Quân khu 8 đóng ở kinh Bùi, Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang (Quân khu 9 hiện nay) lúc gặp máy bay đổ quân, bị địch bắn bị thương, mất máu nhiều quá. Đơn vị đưa ông về chôn ở nghĩa trang tạm của dân. Sau ngày thống nhất đất nước mới đưa về nằm ở nghĩa trang tỉnh nhà. Còn con trai là Nguyễn Văn Chiến. Anh sinh năm 1959. Lớn lên trong một gia đình, dòng họ đi theo cách mạng gần hết nên anh cũng nhiễm “cái máu” Việt cộng. Lúc nhỏ, tầm 10 tuổi, anh trốn nhà theo mấy chú, bị lựu đạn nổ, gia đình chở qua Nhà thương Sa Đéc băng bột rồi đem về nhà tr thương. Lớn hơn một chút, ba hy sinh, căm thù tụi lính làng chuyên ức hiếp dân lành, cậu bé lén bỏ kíp nổ vô túi tên trưởng, phó ấp khi tụi này ngồi khề khà uống rượu. Hai tên này đi về một đoạn phát hiện có gì cồm cộm trong túi, thò tay móc ra thấy trái. Hoảng hồn, chúng thảy vội xuống sông, trái nổ nhưng hên cho chúng không sao. Bị lộ, anh chạy trối chết về nhà, mượn vội ghe chú Tám kế bên, lấy máy của gia đình chạy trốn vào du kích xã Bình Thạnh luôn. Gia đình lo lắng thắt ruột. Mấy tháng sau loa phóng thanh bên sông, thông báo Việt cộng về công đồn Khém Sâu của ấp, cả nhà và bà con lối xóm mới biết anh theo bộ đội. Rồi trong một lần đi công tác, anh bị địch bắn tỉa, hy sinh ngày 25/5/1974 khi vừa tròn 15 tuổi. Bốn năm, 2 cái tang 2 người đàn ông trụ cột của gia đình, tim bà muốn đông cứng lại. Bà không khóc nổi nữa, chỉ lo sao nuôi nổi bẩy miệng ăn khi bà còn trơ trọi một mình. Nhiều đêm thao thức, khóc chán rồi lại tự an ủi mình: Thôi, cha con ông ngã xuống để ngày thống nhất càng gần hơn…

Nhìn bà vẫn có những nét đẹp, phúc hậu của thời con gái. Khi kể về ông, về con trai, những người đã ra đi từ những năm 70, tôi vẫn thấy nét mặt rạng rỡ, tự hào trên gương mặt đầy nếp nhăn của bà. Có lẽ thời gian quá xa, bà coi sự ra đi của ông, của con như một lẽ đương nhiên vì non sông đất nước.

Tôi đùa: - Ông, bà có yêu nhau không?

Bà cười, bẽn lẽn quay đi: - Yêu cái gì mà yêu! Ngày ấy không như bây giờ đâu. Nhờ người quen mai mối cho tôi và ông ấy gặp nhau. Ông nhà tôi cũng qua lại năm bẩy lần tôi mới chịu đó! Nói thật với cô, chúng tôi không biết thế nào là yêu, thế nhưng khi ông đi hai ba tháng không về, không tin tức là tôi lo thắt ruột thắt gan bởi hồi đó chiến tranh, nay sống, mai đã chết rồi, nhất là những người đi theo cách mạng, đi Việt cộng như cha con ông. Gửi con trứng gà trứng vịt cho mẹ tôi, tranh thủ làm bánh tét, bánh ít, mua vải, thuốc hút, thuốc tây, muối, đường, bột ngọt… gom góp chút tiền bán lúa, bán mía, đi làm mướn, làm thuê có được, giấu kín rồi quầy quả bơi xuồng một mình đi thăm ông. Còn tôi không biết chữ, chỉ biết thay chồng nuôi con, cáng đáng mọi việc nhà để ông ấy yên tâm đi du kích. Con cái lớn lên một chút là cho nó nối gót theo ông luôn. Lúc đó mà nhắc tới hai từ “yêu nước” tôi chưa hiểu hết. Nhưng tôi nghĩ đi đằng mình là một lẽ đương nhiên. Đàn ông nơi đây không theo cách mạng thì phải đăng lính cho chúng thôi. Mà đi lính thì… nói thật, nhục nhã lắm, chắc tôi bỏ ông luôn! Xã này là cái nôi của cách mạng, dân tốt lắm cô à, không có ai theo giặc đâu. Mà ông ấy thoát ly gia đình đi cách mạng, có nghĩa tất tần tật mọi việc trong nhà đều do tôi phải gánh vác, thỉnh thoảng ông mới tranh thủ ghé thăm vợ con ít tiếng rồi lại đi liền sợ chúng bố ráp thình lình. Nghĩ lại cũng sợ thật! Sao mà chúng tôi vẫn có thể sống được qua cái thời đạn bom ác liệt ấy. Lúc đó tôi chỉ hơn 40 kí nhưng phải cầm cày, đạp lúa, lợp nhà, kéo cá, chặt tràm mướn… tất cả mọi việc kiếm gạo, kiếm cá để mẹ con sống qua ngày như một người đàn ông thực thụ trong gia đình. Nói thật tôi “không dám” bệnh đâu, nuôi cả bầy con thơ dại để ông khỏi bận tâm, yên lòng mà đi hoạt động.

- Sao bà nuôi con hay vậy!? Một mình nuôi 6 người con và mẹ già ở quê.

- Ngày xưa tôm cá xung quanh mình nhiều lắm. Mấy đứa nhỏ nhảy xuống sông hay ra ngoài ruộng kéo lưới một lát là đủ ăn vài ngày. Rau rác cũng vậy, này rau muống, bông súng, điên điển, lục bình… Chỉ cần có gạo sẵn là không ai bị đói. Con thì cách nhau 3 năm, cứ đứa lớn giữ đứa nhỏ. Tôi còn nhớ khi gặp, nắm bàn tay chai sần, còn trầy trụa của vợ, ông hay thủ thỉ:

- Tôi biết bà ở nhà vất vả lắm, nhưng về thăm nhà, lính tới sao chạy kịp. Tôi không sao đâu. Bà ráng về nhà thay tôi nuôi con. Chuyện nước để tôi lo…!

Tôi ứa nước mắt khi nghe bà kể. Lo cho mẹ già, con gái gánh nặng không nhẹ nhưng bà vẫn sẵn lòng mà không hề than thở hay đòi hỏi gì, dù nhỏ ở ông. Ông và bà tuy không nói ra nhưng như một mặc nhiên, chuyện lớn lo cho nước sẽ do ông gánh vác. Thật đáng quí với những con người Việt Nam sẵn sàng xả thân vì dân tộc.

Tranh thủ 2, 3 ngày ở với ông rồi lại quay quả trở về cặm cụi làm ăn nuôi con. Không ngờ lần gặp ông hôm ấy là lần bà và ông âm dương cách biệt. Ông và con chết đi, đơn vị nhắn vào gặp ông và sau này là con thì chỉ còn thăm nấm mộ mới được đắp vội lên chưa kịp xanh cỏ. Gìàn giụa nước mắt, bà chỉ biết thầm trách ông: Sao không giữ lời hứa với tôi? Tôi có lỗi gì đâu, sao ông và con không về? Còn thằng con. Đau đớn lắm, mới 15 tuổi, nó chưa kịp lớn mà phải chết tức tưởi!            

Xẻo Quýt, Bình Thạnh là vùng căn cứ cách mạng nhưng dài xuống Mỹ Hiệp, Mỹ Long… là dày đặc đồn bốt của địch. Riêng rạch Khém Sâu là vùng cồn ngày ấy còn nhỏ, hẹp. Đa phần là dân nghèo nhưng đi theo cách mạng. Còn bà cũng là cơ sở chuyên móc nối bà con đi thăm những anh em thoát ly, nuôi giấu cán bộ, mua đồ tiếp tế cho anh em trong căn cứ. Thời ấy cách mạng không có dân thì sao mà sống nổi. Không được lòng dân là mất nước. Thương lắm! Bà con, cô bác chèo xuồng qua lại buôn bán, sinh hoạt, dưới những đống trái cây, rau cỏ, tôm cá… luôn có cả những đồ tiếp tế thiết yếu cho anh em.

Chiến tranh đã đi qua gần nửa thế kỷ, mỗi tấc đất chúng ta giành được đều thấm máu thịt của những liệt sĩ đã ngã xuống nhưng nỗi đau và những vết thương, mất mát vẫn còn hằn sâu đến hôm nay. Cả dân tộc này mãi mãi biết ơn họ trong đó có những Bà mẹ Việt Nam Anh hùng như mẹ Lữ Thị Thôi bên con rạch Khém Sâu, cồn Bình Hưng. Sự hy sinh của các Mẹ vô cùng lớn.

Chính các Mẹ là những người phụ nữ anh hùng và vĩ đại nhất của dân tộc Việt Nam.

Nguồn: Tạp chí Văn nghệ TPHCM.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Ai mà chẳng biết… Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Nếu hơn 1300 năm trước, một hôm trên bước đường tiêu dao hay giữa một cơn say rượu túy lúy càn khôn nào đó, Lý Bạch đã thốt lên lời cảm khái: Xử thế ngược đại mộng/ Hồ vi lao kỳ sinh (*) thì cũng từ lâu lắm, người bình dân Việt đã từng trải nghiệm, rằng: Sự đời như giấc chiêm bao… Hoặc nếu từ 2400 năm trước ở Hy Lạp cổ đại, lời dặn của triết gia Socrates (về sau được khắc vào đá ở đền thờ Delphi), rằng Connais-toi, toi-même (Know thyself - Hãy tự hiểu chính mình), thì tại phương Đông, mấy mươi năm sau sinh thời của Socrates, nhà quân sự Tôn Võ Tử cũng đã ghi vào binh pháp điều mà bất cứ người cầm quân nào cũng không được quên, là: Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất đãi/ Bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ/ Bất tri bỉ bất tri kỷ, mỗi chiến tất đãi (tức là: Biết mình biết người, trăm trận đánh không thua. Không biết người mà biết mình, một thắng một thua, Không biết người không biết mình, mỗi lần đánh ắt thua).
Xem thêm
Dư âm mùa hạ – Tản văn Đinh Thu Huế
Có lẽ, những mùa hạ oi nồng nhất lại là những năm tháng xa mẹ. Nắng hanh vàng nơi phố thị đôi khi khiến lòng tôi chùng xuống bởi khoảng trống cô đơn. Bỗng dưng nhớ da diết cảm giác thức dậy ở quê nhà, lắng nghe tiếng bước chân mẹ tảo tần lúc tờ mờ sáng, tiếng đàn gà lục cục dưới gốc khế già, hay tiếng gàu nước va vào thành giếng đánh thức cả một vùng thanh âm trong trẻo. Bao rung cảm bình dị ấy cứ vang vọng, để khi đi xa mới nghẹn lòng nhận ra: đó chính là khoảng trời chân phương nhất mà mình thuộc về. Chẳng có bóng râm nào xanh mát và chở che hơn đôi cánh tay của mẹ.
Xem thêm
Cõng hàng về căn cứ - Bút ký của Ngọc Tấn
Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...
Xem thêm
Theo những dấu chân hoài niệm
Gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan (1940–2010) phối hợp với Bảo Tàng Mỹ thuật Đà Nẵng và Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh tổ chức hai cuộc triển lãm: tại Đà Nẵng (09/05/2026 – 16/05/2026) và Tp. Hồ Chí Minh (25/05/2026 – 31/05/2026 trong tháng 5 năm 2026). Triển lãm mang ý nghĩa hồi cố, tưởng niệm và tri ân, do KTS Phan Trường Sơn, con trai và gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan thực hiện, đồng thời giới thiệu đến những người yêu mến mỹ thuật và bạn bè, người thân của họa sĩ tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan, những năm tháng và sắc màu hoài niệm” (Nxb Hội nhà văn), cũng là tên của cuộc triển lãm.
Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm
Những con đường ký ức - Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Những con đường của Hội An là những sợi máu trong tôi. Chúng đã đi qua thời gian, chịu đựng bao thác ghềnh, nhiều lúc ngỡ tan biến như những bào ảnh của lãng quên để rồi cuối cùng vẫn lặng lẽ cất lên tiếng nói mơ hồ của ký ức, nhắc rằng đó là một phần không thể thiếu trong tôi.
Xem thêm
Làm du lịch từ lò gạch Sa Đéc xưa
Vào dịp tết Nguyên đán hàng năm, cứ từ 20 tháng chạp đổ lên, người miền Nam lại lũ lượt tìm về vãn cảnh nhà vườn hoa kiểng Tân Quy Đông (Sa Đéc- Đồng Tháp). Cạnh bên Tân Quy Đông là vùng đất Tân Quy Tây bạt ngàn vườn ruộng được bồi đắp phù sa quanh năm bởi con sông Tiền hiền hoà quê kiểng. Lớp phù sa dày dặn bám trên đồng ruộng lâu năm trở thành lớp đất nâu non (đất sét) dẻo quẹo, là loại nguyên liệu rất tốt để người địa phương nung gạch xây dựng các công trình.
Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm