TIN TỨC

Nguyễn Văn Mạnh - Thơ là những trang đời

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-06-08 18:54:03
mail facebook google pos stwis
3174 lượt xem

Văn chương TP. Hồ Chí Minh: Nguyễn Văn Mạnh - nhà thơ mang trong mình hồn cốt của một người lính, một luật sư, một nhà báo, và trên hết là một thi sĩ đắm mình trong những trang đời đầy thăng trầm. Thơ của anh không chỉ là tiếng lòng cá nhân mà còn là bản hùng ca về cuộc sống, chiến tranh, quê hương và những triết lý nhân sinh sâu sắc. Bài viết của Nguyễn Văn Hòa đã khắc họa chân dung một hồn thơ đa diện, nơi mỗi vần thơ đều thấm đẫm trải nghiệm, nỗi đau, niềm kiêu hãnh và tình yêu tha thiết với con người, đất nước. Đọc Nguyễn Văn Mạnh, ta bắt gặp chính mình trong những suy tư, khắc khoải và cả những khát vọng vĩnh hằng của kiếp người.

NGUYỄN VĂN HÒA

Nguyễn Văn Mạnh xuất thân từ người lính tại chiến trường miền Nam, sau giải phóng anh tiếp tục học tập và trở thành luật sư, nhà báo chuyên nghiệp. Anh yêu thơ và làm thơ từ rất sớm. Chính cuộc đời trải qua nhiều bước ngoặt thăng trầm, đó là nguồn tư liệu sinh động để hun đúc và tạo nên một hồn thơ Nguyễn Văn Mạnh mang dấu ấn riêng. Hành trình cuộc đời và hành trình thơ có sự giao thoa và những vần thơ ra đời như là minh chứng cho sự “gặp gỡ” ấy. Mọi buồn vui, nhọc nhằn, trăn trở... đều được anh ký gửi vào thơ. Thơ như là bạn đồng hành “thủy chung” và “trung thành” nhất trong cuộc đời của thi nhân Nguyễn Văn Mạnh. Trong sâu thẳm hồn thơ Nguyễn Văn Mạnh vẫn toát lên tình yêu tha thiết với đời, với người, với cuộc sống nhân sinh...


Nhà thơ, nhà báo Nguyễn Văn Mạnh.

Đọc thơ Nguyễn Văn Mạnh, bạn đọc sẽ nhận ra dòng mạch trữ tình, lãng mạn với giọng thơ đầy hào sảng, nhiệt huyết. Càng về sau thơ anh lại càng hướng về thực tại với những trăn trở, lo lắng, chiêm nghiệm, đau đáu, suy tư. Ở đó còn là những khát vọng, mơ ước, ý thức trách nhiệm công dân trong một xã hội bộn bề những giá trị với sự lật trở, đổi thay chóng vánh...

Chiến tranh/ Là quyền uy của những chính trị gia đổi bằng giá máu/ Chiếc ghế được tạo thành từ xương và da đồng loại/ Nó to và cao hơn khi mỗi quốc gia và dân tộc tan tành (Nghĩ về một mặt của chiến tranh).

Thế mạnh của thơ Nguyễn Văn Mạnh là được tạo dựng theo cấu trức hồi ức. Miền ký ức đã qua lần lượt được gợi lên/ sống dậy qua tâm hồn đa cảm, sự đa mang, tinh tế của anh. Đi qua những năm tháng đau thương của dân tộc nhà thơ có những suy nghĩ và nhìn nhận thấu đáo về những được - mất, tổn thương của một thời đã qua. Nhìn về quá vãng, kiếm tìm những cái đã qua cũng là cách nhân vật trữ tình anh gợi nhớ, tri ân đến với em trong niềm rưng rưng, nuối tiếc... em đã bất tử trong lòng những người đồng đội, bất tử với anh và bất tử trong lòng dân tộc... Sự tàn khốc của chiến tranh là một điều không ai chối cãi, sự thật ấy luôn là niềm đau dai dẳng, bất tận cho những người còn sống hôm nay, bởi chiến tranh không phải trò đùa! 

Tiếng súng đã chìm vào quá khứ/ Anh trở lại tìm trong sương khói Pha Long/ Anh đi tìm em/ Chỉ có tiếng chim buồn kêu trong rừng lá/ Biên ải chiều hun hút gió…// Em đã ngã xuống lòng đất mẹ/ Ngay trong trận đánh đầu tiên/ Khi trên đầu tóc vẫn còn xanh/ Lá thư cho người yêu chưa kịp gửi.// Tháng hai đường biên nhuộm máu/ Ngực em làm khiên che đỡ đất mẹ hiền/ Cho rừng cho núi bình yên/ Và lời ru ngọt ngào hương bên nôi con trẻ// Bây giờ em hóa thân trong chập chùng đỉnh đá/ Hay em kia vầng may trắng Mường Khương/ Linh hồn đan lũy thép trường thành/ Chở che cả một vùng biên ải// Anh vẫn như nghe trong đá núi/ Âm vang rầm rập bước quân hành/ Anh vẫn như nhận ra nụ cười em/ Trong sắc hoa đào xứ sở… (Chiều ải Bắc tìm em).

Nguyễn Văn Mạnh đã từng đi qua cuộc chiến đầy cam go, thử thách, chứng kiến nhiều đau thương nhưng anh cố kìm nén nỗi đau. Và đôi lúc, sự dồn nén ấy lại vỡ òa. Nửa đời cùng nghe hơi thở chiến trường/ Nước mắt tưới bao nấm mồ bè bạn/ Nỗi sẻ chia ủ hồn nhau đêm lạnh/ Vẫn rúc rích cười mơ trong đêm chết rập rình… (Đánh mất).

Vốn là người lính tham gia ở chiến trường, sau đó trải qua nhiều công việc khác nhau nên tiếng thơ của Nguyễn Văn Mạnh thể hiện rõ nét là tiếng nói của một thế hệ biết tận hiến. Không chỉ biểu hiện cuộc sống trên trang viết mà anh còn tạo dựng và khơi mở một thế giới khác trong chính thế giới hiện thực này: thế giới của những khao khát mãnh liệt, của đức tin; thế giới của sự nhân ái, nhân văn nhất có thể...

Cảm thức về cái biến động, sự bất ổn, phi lý đã được nhà thơ đưa vào trong thơ bằng những ngôn từ mang tính ẩn dụ, nhân hóa, so sánh, liên tưởng đa chiều... Vì thế, mỗi sự việc, hình ảnh, con người, thế giới tự nhiên... đều mang dáng vóc và tâm trạng của con người, thấm đẫm những cảm xúc.

- Nghe hạt thóc quằn quại bóc mình thành gạo/ Nhìn trong bụi cám trập trùng những giông bão đi qua… (Ngày trở lại).

- Mẹ làm gạo giúp hội làng/ Nghìn sao rụng xuống đầy sàng mẹ tôi (Làng quê vào hạ).

Câu thơ mở ra những truy vấn bức thiết về cuộc sống hiện tồn của con người trong sự cố gắng vượt qua những thử thách, trở ngại và cả những đối lập trong hành trình duy trì và bảo tồn sự sống. Với trí tưởng tượng phong phú, đa chiều, Nguyễn Văn Mạnh đã có những liên tưởng sinh động, đặc sắc. Chính kiểu diễn đạt và tư duy như thế nên thơ anh tạo được dấu ấn đối với bạn đọc.

-  Những bước chân trọn đời bươn trải/ Lầm lũi vô hình giữa đại ngàn xanh… (Nghĩa Lộ).

- Trăng khuyết rồi trăng lại tròn/ Mẹ một đời chỉ khuyết/ Dẫu dâng cả sự sống con cũng chỉ là hạt cát/ Chẳng thể đắp bù long mẹ mênh mông… (Đêm cũng mồ côi).

Nỗi đau đến từ mỗi nhà, mỗi người trong trận tồn vong giữa mưa bom bão đạn. Những ông bố, bà mẹ, những người vợ... của những gia đình có người thân tham gia chiến trận đều có nỗi đau, nỗi giằng xé riêng. Nỗi đau ấy sẽ đeo đuổi dai dẳng suốt cuộc đời của những người còn đang sống hôm nay.

Cảm thức thời gian luôn khắc khoải trong lòng thi nhân, bởi sự tàn bạo của từng giọt thời gian, trước những bão táp của cuộc đời. Nỗi khắc khoải ấy thấm sâu vào cả trong tiềm thức và vô thức, để rồi có lúc nhà thơ phải nghẹn ngào trước nỗi đau của cha:

Tiếng rít điếu cày như quất vào đêm/ Khói thuốc phả vào sương mù mịt// Ổ rơm mỏng, tấm chăn đơn rách/ Cha lặng im trong hun hút gió lùa/ Một thế kỷ những gió mưa/ Tích tụ thành băng trong xương tuỷ/ Tạo những nỗi đau ngả nghiêng rạn vỡ/ Trong những trận phong hàn/ Cái nắng chất lửa một đời/ Đốt cháy ruột gan cha mỗi lần lên cơn sốt/ Và chiến tranh tàn khốc/ Để lại nỗi đau không nói được thành lời/ … / Ngày sống của cha tính bằng một mét đất/ Lơ phơ bông lúa sâu bão giật/ Miếng cơm vẫn thoảng hơi bùn/ Mình cha ngồi chong mắt vào đêm/ Tiếng thở dài trút vào thăm thẳm/ Cha hiểu được một điều cay đắng/ Con muốn nên người/ Không chỉ có tình cha/ Tôi hiểu rằng tận cùng cõi sâu xa/ Lòng cha chưa bao giờ yên giông bão (Nỗi đau của cha tôi).

Đi qua những thăng trầm, va vấp, những được thua trong cuộc nhân sinh đày ải này, nhà thơ đã nhận ra quy luật, lẽ đời và cũng không quên nói lời “cảm tạ”. Đó là tiếng lòng thành thật, chắt lắng từ sự trải nghiệm của bản thân trước muôn mặt của cuộc sống.

Vẫn cảm tạ những gì không vĩnh viễn/ Những biến hóa, tụ tan giữa cõi vô thường/ Những phút cởi lòng mở gió yêu thương/ Những năm tháng hồn nghẹn ngào uất hận (Cảm tạ).

Phải chăng chính những quăng quật, thác ghềnh của đời ấy đã tạo nên một Nguyễn Văn Mạnh chín chắn, bình tâm, vững vàng hơn trước những giông bão của cuộc sống. Để rồi, có lúc nhà thơ xem cuộc đời nhẹ tựa áng mây trời, bởi: Lợi danh như khói hư không/ Thả hồn theo cánh gió đồng bao la (Về quê).

Thơ Nguyễn Văn Mạnh tái hiện nhiều không - thời gian khác nhau, bên cạnh những không- thời gian tự nhiên còn có không- thời gian tâm lý nên đôi lúc có sự ảo hóa... Không - thời  gian trong thơ anh vận động theo dòng suy nghĩ, tâm trạng... Không gian địa lý trải dài theo từng vùng đất mà anh đã sống, gắn bó và có bước chân đi qua: Trường Sa, Yên Tử, miền Tây, Kẻ Nú, làng Chanh, Mù Cả, Hàn Giang, Khâu Vai, Cát Bà, Chi Lăng, Chùa Hương, Đèo Ngang, Huế, Pha Đin, bến Tầm Dương, Đền Trạng... Nhà thơ đối thoại, bàn luận, chất vấn, ngẫm ngợi, lý giải những vấn đề có tính chất muôn thuở: niềm vui, nỗi buồn, sự sống, cái chết, lòng nhân ái, khao khát hạnh phúc... Tất cả những vấn đề muôn thuở ấy được đặt trong không - thời gian của đời sống mà nhà thơ đã, đang và sẽ đi qua. Núi mây, mây núi xa xôi/ Lặn vào vành nón thành lời sông Hương (Về Huế); Chiều nay bên đảo Cô Lin/ Đứt từng khúc ruột lặng nhìn Gạc Ma/ Một thời bão lửa mưa sa/ Nỗi hờn nợ nước thù nhà còn đây// Các anh đã hóa thành mây/ Tan vào biển nước vơi đầy nhớ thương/ Hóa thành cột mốc biên cương/ Cắm trên đầu song kiên cường ngàn năm (Bên mộ gió Cô Lin)…

Xốn xang, phập phồng, mang hơi thở của sự sống. Vấn đề của cuộc sống, thế sự, những suy ngẫm về đời về người, các chuẩn mực, hệ giá trị... lần lượt được gửi gắm vào thơ. Người đàn ông hóa đá, Người đàn bà sau cửa kính, Gã ăn mày, Ngóng xuân buồn, Qua bến cũ, Vàng và cát… là những vần thơ tha thiết, chân thành, ám ảnh và giàu thuyết phục. Do đó, có thể xem những trang thơ của Nguyễn Văn Mạnh chính là những trang đời. Nhà thơ nghiền ngẫm, chiêm nghiệm về cuộc đời, tình người bằng những trải nghiệm đã chín mùi cảm xúc. Bởi cuộc sống là dòng xoáy khôn lường và lòng người thì quanh co phức tạp, lắm nỗi tỏ tường… Nếu lấy đá ném vào núi đá/ Có dấu tay núi cũng chẳng chuyển mình/ Sao dại dột còng lưng đi bới lá/ Đến bao giờ bới hết đại ngàn xanh (Những điều vô nghĩa).

Điều đặc biệt và dễ nhận thấy Nguyễn Văn Mạnh dành những tình cảm, sự gắn bó máu thịt với đất Cảng Hải Phòng. Đó là sự gắn bó giữa một người thơ đa cảm với một vùng đất trữ tình, thiêng liêng - “địa linh nhân kiệt”, nơi sản sinh ra nhiều những con người tài hoa, uyên bác. Sự cộng hưởng ấy đã làm nên gương mặt thi nhân với phong cách và sắc điệu riêng. Vì thế, Nguyễn Văn Mạnh có nhiều bài thơ viết về mảnh đất quê hương bằng tình cảm chân thành, hồn hậu của một đứa con luôn dành cho “cố hương” tình cảm thân thương nhất. Có thể kể ra một số bài thơ hay viết về đất và người Hải Phòng như:  Một thoáng Thủy Nguyên, Mái trường, Trở lại tuổi hai mươi, Đêm Cát Bà, Bạn quê, Thuở học trò, Ao làng mùa hạn, Thành phố bên bờ sóng...

Nguyễn Văn Mạnh ra đi từ cội nguồn Hải Phòng, trải qua bao nhiêu thăng trầm, thay đổi nhưng trong anh vẫn vẹn nguyên tình yêu với mảnh đất chôn nhau. Thậm chí khi đến tuổi hoàng hôn anh càng yêu quê da diết, sâu nặng hơn. Hải Phòng trở thành “người mẹ tái sinh” trong hồn thơ Nguyễn Văn Mạnh.

Nơi ta cất tiếng chào đời ở đó/ Mái phố rung lên bao cuộc thăng trầm/ Nơi ta biết tự mình ra mở cửa/ Trời đất ùa về muôn tiếng tri âm (Thành phố bên bờ sóng).

Hay: Cát Bà nhỏ như chiếc cúc/ Trên mình đất nước ngàn năm/ Tiếng reo một thời thắng giặc/ Còn treo đầu sóng vang lừng/… Tụ lửa của lòng dân biển/ Thắp lên ngọn đuốc ven trời.

Nhà thơ đi qua những năm tháng chiến tranh và những khúc xạ từ cuộc sống luôn làm cho anh suy ngẫm nhiều về giá trị của sự sống, cái chết; của niềm tin và sự thật phũ phàng, tàn khốc của chiến tranh. Súng xâm lược dội đường biên tức ngực/ Để lại quê anh chịt chằng sẹo đất/ Và con người đau buốt những vết thương (Nói với em gái Takeo).

Nghĩ giữa trưa im tiếng súng, một bài thơ xúc động, gợi lên bao nỗi niềm khó tả, sự mất mát và cả những day dứt khôn nguôi về sự hy sinh của đồng chí, đồng đội: Bao lần tiễn đồng đội hy sinh/ Chẳng một sợi khói hương dù đầy trời lửa khói… Câu thơ như xoáy vào tâm can những người còn sống nỗi đau khôn cùng về sự thiệt thòi của những người đã xuống trong sự tàn khốc của khói lửa chiến tranh.

Nguyễn Văn Mạnh không chỉ tả thực vùng đất Hải Phòng mà anh còn dựng lên một Hải Phòng trong tâm tưởng, vùng đất đã bất tử hóa trong trái tim anh. Những kỷ niệm thuở nào mở ra cả một thế giới tinh thần của anh cả trong quá khứ và ở hiện tại. Bây giờ trút hết bụi đường/ Về quê nhưng nhớ yêu thương tìm về (Về quê). Ký ức lần lượt hiện về cùng với thực tại đã tạo nên nhiều cung bậc cảm xúc, khiến cho lời thơ trở nên da diết, rung động đến lạ kỳ. Mái trường xưa còn hiện lên rõ nét: Nơi ở đó có mắt người lúng liếng/ Lũ con trai lặng lẽ thở dài/ Bao cặp mắt dán theo tà áo trắng/ Theo gió trời tan hóa áng mây trôi (Mái trường). Và cũng chính tại đây, nơi ngôi trường này, nhiều bạn đã xếp bút nghiên lên đường nhập ngũ, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc:  Các bạn trai xung phong đi nhập ngũ/ Lớp cứ vơi dần/ Thư chiến trường chuyền tay đọc/ Bạn gái nào bật khóc/ Cả lớp nhớ về những phía trời xa… (Lớp học).

Những ẩn ức, khao khát, dồn nén, uất nghẹn dần được giải tỏa. Tìm về với hồn quê, tìm về với mẹ là nơi trú ẩn ấm áp và an toàn nhất, bỏ lại đằng sau những phù phiếm, hư ảo của đời: Trút bỏ những phù du trả lại tháng năm/ Rũ sạch bùa mê/ Cởi mảnh hồn ra thau rửa/ Mẹ vẫn thắp trái tim đầu ngõ/ Cháy không nguôi ngóng đợi ta về… (Hồn quê).

Thơ Nguyễn Văn Mạnh với nhiều các thể loại, kết cấu tự do, linh hoạt trong hình thức thể hiện. Điều này đã giúp anh tạo ra ngôn từ trùng phức, nhiều tầng bậc gợi ra sự đa dạng, sinh động vốn có của đời sống; thỏa mãn chiều sâu nhận thức trí tuệ, mang tính triết lý nhân bản sâu sắc. Những câu thơ dài, ngắn trộn lẫn diễn tả được những cung bậc cảm xúc trong những trạng huống buồn vui, còn mất, hoài nghi, dằn vặt, thao thức của chủ thể trữ tình. Bỗng nhớ quê ta, làng Gạo ven sông/ Hoa Gạo tháng ba rụng vào mùa đói./ Dáng gầy guộc nghiêng vào chiều đổ/ Ngõ nhà mẹ đứng đợi con...

Thi nhân làm thơ và dụng chữ theo cách của mình để tạo ra những câu thơ, hình ảnh thơ có sức lay động, ám ảnh.  Vì thế, không phải là những chữ nhật dụng thông thường, nguyên sinh của đời sống mà là cách dùng chữ mang nhiều ẩn nghĩa.

- Chiến tranh/ Là bài thơ của những tên bạo chúa/ Những xác chết còng queo như những ký tự/ Lửa thay cho ánh sáng mặt trời mặt trăng./ Tiếng nổ, tiếng kêu than/ Thay cho những âm thanh của chim ca cỏ mọc/ Tứ của bài thơ là sự hủy diệt/ Hình ảnh bài thơ là thế giới lụi tàn (Nghĩ về một mặt của chiến tranh).

- Mỗi vuông đất một phận người/ Đã thành cát bụi bời bời chân mây/ Một đời vật vã vần xoay/ Ngửa bàn tay, trắng bàn tay một đời (Chiều nghĩa địa làng)…

Tuy vây, trong thơ anh có những câu thơ với ngôn từ quen thuộc nhưng với sự sắp xếp, tạo dựng đã tạo nên những hình ảnh thơ độc đáo. Kiếp phù du ngỡ như không/ Chẳng tan hóa hết chất chồng đắng cay/ Trăm ngàn duyên nợ trả vay/ Để trên mặt đất găm đầy chân mưa.

Nguyễn Văn Mạnh cho rằng:Theo tôi, tác phẩm ngắn hoặc dài tùy theo độ chín của cảm xúc và phù hợp với đối tượng tác giả phản ánh. Ngoài tài năng (trời phú) còn phải có tư duy chắt lọc, đẽo gọt về ngôn ngữ, chữ nghĩa, và quan trọng hơn chính cuộc đời tác giả phải giàu vốn sống. Không ai lựa chọn cho mình vất vả, đau thương, cô đơn, quằn quại để rên rỉ và cả hạnh phúc để bay bổng… Bản thân cuộc sống, đưa tác giả vào các hoàn cảnh, thậm chí là nghịch cảnh tạo ra trải nghiệm. Từ đó tạo thành các hình tượng, cảm xúc… ngấm đẫm vào tâm. Nó thổi luồng sinh khí cho tác phẩm có hồn, đáng yêu khiến độc giả rung động như chính là trải nghiệm của mình. Qua các kênh truyền thông, tác phẩm đến được với độc giả và chính độc giả giúp tác phẩm bay lên, thăng hoa và lan tỏa xa hơn. Đấy chính là nghệ thuật đưa tác phẩm lên đỉnh cao. Tôi nghĩ chúng ta phải thật sự nghiêm túc và đầy trách nhiệm trước bạn đọc”.

Quan niệm về văn chương của Nguyễn Văn Mạnh đã cho thấy sự nghiêm cẩn, linh hoạt, toàn diện, sâu sắc của người lao động sáng tạo nghệ thuật ngôn từ. Điều đó được soi sáng và minh chứng rõ nét trong hành trình sáng tạo và qua chính những tác phẩm của anh. Nhà thơ Nguyễn Văn Mạnh đã tìm cho mình lối đi riêng với cách thể hiện sáng tạo, mang đậm dấu ấn cá nhân trên tinh thần hiện đại. Tôi tin với sự trải nghiệm, thể nghiệm thấu đáo, sự lao động nghệ thuật nghiêm túc anh sẽ còn cho ra đời những tác phẩm mới có giá trị, góp vào một nét riêng trong dàn đồng ca thơ Việt đương đại.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm