TIN TỨC

Nhà thơ Trần Đôn và “hành trình” Rong chơi 2

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-06-10 20:22:49
mail facebook google pos stwis
1577 lượt xem

Ở tuổi U80, nhà thơ Trần Đôn vẫn dồi dào sức sáng tạo, vừa hoàn thành tập thơ Rong chơi 2 – một “hành trình” thi ca “đi dọc đất nước, dọc cuộc đời” đầy chiêm nghiệm. Qua bài viết dưới đây, tác giả Nguyễn Quế đã dẫn dắt độc giả khám phá thế giới thơ mộc mạc, chân thật nhưng thấm đẫm ân tình và trách nhiệm của Trần Đôn, từ tình cảm cội nguồn đến nỗi niềm sẻ chia với đời.
 

NGUYỄN QUẾ

Tôi gặp lại nhà báo, nhà văn, nhà thơ Trần Đôn một ngày không lâu sau lần họp mặt văn nghệ sỹ đầu xuân 2025. Ở ngưỡng U80, ông vẫn khỏe khoắn và dồi dào sức sáng tạo. Bên cạnh những giờ phút sống an nhiên cùng gia đình, người thân và bạn bè, ông dành cho thơ văn tình yêu tha thiết. Nối tiếp “cuộc” Rong chơi diễn ra chưa lâu, Trần Đôn vừa hoàn thành “hành trình” Rong chơi 2 một cách ngoạn mục. Ông tâm sự, với hơn 60 tác phẩm của tập thơ này, ông đã làm chuyến “đi dọc đất nước, dọc cuộc đời” như một trải nghiệm sâu sắc và thủ vị.
 

Trước hết, với “hành trình” Rong chơi 2, Trần Đôn đã dành những trang thơ đầy ắp niềm thành kính và biết ơn đối với các thế hệ nguồn cội của mình. Trong tác phẩm Mừng thọ ngoại, ông đã viết nên những câu thơ đầy xúc cảm:

“Mừng ngoại nay đã ngoại chín mươi

Nuôi con dạy cháu thảy nên người

Tâm luôn trong sáng, tinh thần khỏe

Trí tựa mây vờn thể chất tươi

Đức để ngàn năm con cháu hưởng

Nhân gieo kiếp kiếp vạn người thương

Mừng ông trường thọ cùng con cháu

Vui hưởng vinh hoa, phúc mãn đường”.

Với thể thất ngôn bát cú và ngôn ngữ được chọn lọc, bài thơ đã tạo nên một không khí thật trang trọng. Công ơn “nuôi con dạy cháu” nên người cùng tâm, trí, đức, nhân cao đẹp của người ông được tác giả liệt kê và đặt ở đầu bốn câu thơ như một sự tôn vinh sâu sắc, làm nổi bật các phẩm chất cao quý của bậc tiền bối.

Khác với Mừng thọ ngoại, bài thơ Mừng ba thượng thọ được viết theo thể lục bát truyền thống với âm điệu nhẹ nhàng, uyển chuyển. Tuy nhiên, qua những câu thơ giàu xúc cảm, tác giả đã khắc họa rõ nét tấm lòng hiếu thảo đối với người cha yêu kính của mình:

“Mừng ba thượng thọ chín mươi

Bóng ba che mát cuộc đời cháu con

Cầu xin trời phật ban ơn

Đưa Ba vượt khỏi đoạn đường trăm năm

Chúc ba trí sáng tâm trong

Vui cùng con cháu, thong dong tuổi già”.

Bên cạnh tình cảm sâu nặng dành cho người thân trong gia đình, Rong chơi 2 còn là những cuộc trở về đầy hoài niệm và sự tri ân sâu sắc đối với bao vùng đất và con người mà nhà thơ vốn rất đỗi yêu thương. Đó là những phút giây Tự tình Châu Thới sơn đầy cảm xúc khi ông đứng trên đỉnh ngọn núi có ngôi chùa nổi tiếng vốn là danh thắng quốc gia giữa vùng đồng bằng rộng lớn của quê hương mình nhìn ra miền đất giàu trầm tích lịch sử - văn hóa xung quanh:

“Đứng đây ta nhìn chiến khu D

Chợt nhớ Mã Đà cơn sốt rét

Nhớ đất ThườngTân thương tướng Huỳnh

Nghe hồn Vĩnh Lợi rợn đao binh

 

Đứng đây ta thấy Tam Gíác Sắt

Địa đạo ngổn ngang tiếng khóc cười

Giặc dữ kinh hồn quên “thiết giáp”

Nhân dân rạng rỡ nụ cười tươi…”.

Với Một sáng Tân Uyên, khi cùng đoàn người về thăm vùng đất giàu truyền thống cách mạng đang vươn mình trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, ông không khỏi bồi hồi xúc động xen lẫn niềm tự hào sâu lắng:

“Chúng tôi,

Có những người chưa biết Tân Uyên

Có những người chưa đến Tân Uyên

Và những người đổ máu ở Tân Uyên

Cùng về đây một ngày tháng bảy

Sáng - bầu trời Vĩnh Lợi rộng thênh thang

 

Tháng của mùa mưa bão

Trời lại xanh trong một sáng hiền hòa

Cầu Bà Kiêng chìm trong huyên náo

Đất anh hùng đón khách tao nhân”.

Từ niềm xúc động sâu sắc ấy, ông tự nhủ lòng:

“Ai đã qua một thời gian khó

Mới thấy tự hào đất nước hôm nay”.

Về thăm Di tích nhà tù Phú Lợi, Trần Đôn đã cảm tác bài thơ Củ khoai ngày họp mặt, qua đó, ông không quên nhắc tới một thời gian nan thử thách đã qua với  những kỷ niệm đẹp đẽ lan tỏa từ cuộc sống vô cùng bình dị nhưng nặng ân tình, thủy chung son sắt của nhân dân và các chiến sỹ cách mạng:

“Khi xưa nhờ nó lớn lên

Bền gan vững chí dựng nên cơ đồ

Dẻo thơm từng giọt mồ hôi

Nhân dân dành dụm để nuôi chúng mình”.

Từ sâu thắm lòng mình, nhà thơ chân tình mời những người chiến sỹ năm xưa đã hy sinh cả cuộc đời mình cho Tổ quốc trở về chung niềm vui ngày họp mặt:

Bây giờ đất nước hồi sinh

Củ khoai vẫn cứ như mình với ta

Các anh đã ở nơi xa

Mời về chung hưởng hương hoa thái bình”.

Cảm động biết bao khi tác giả xem giây phút sum họp giữa những người một thời cùng chung trận tuyến chống quân thù và những dĩa muối, củ khoai được bày ra trong ngày họp mặt là “hương hoa thái bình”! Bởi củ khoai từng là “đặc sản” thấm đượm biết bao mồ hôi, xương máu của nhân dân và là biểu tượng cao đẹp cho tình quân dân cá nước suốt những năm dài gian khó của cuộc kháng chiến, và giá trị của nó vẫn mãi bất biến trong lòng mỗi con người đi ra từ cuộc chiến tranh “gian lao mà anh dũng” ấy.

Trong một dịp về thăm Nghĩa trang Quốc gia Vị Xuyên, đứng trước hàng ngàn ngôi mộ liệt sỹ hy sinh trong cuộc chiến bảo vệ biên giới thiêng liêng của Tổ quốc, trái tim nhà thơ không khỏi nhói đau. Ông thầm nói với hương hồn các liệt sỹ:

“Các anh gác đầu về núi

Hoàng Liên Sơn chiều tối ngậm ngùi

Chúng tôi từ Bình Dương tới

Rưng rưng những nén tâm hương…

 

Chúng tôi những người còn sống

Nguyện làm đất nước rạng ngời

Trả ơn những người đã khuất

An lòng nhắm mắt anh ơi!”.

Mang tình yêu nồng thắm đối với quê hương, đất nước, Trần Đôn đã đến với nhiều vùng đất thân yêu của Tổ quốc. Ở đâu ông cũng tha thiết lắng nghe tiếng vọng từ quá khứ hào hùng của cha ông, đắm mình trước cảnh trí tươi đẹp của thiên nhiên hay những công trình lịch sử - văn hóa nổi tiếng. Từ những trải nghiệm ấy, ông gửi nỗi niềm vào những trang thơ. Đó là những rung động dạt dào trước cảnh đẹp Vũng Tàu, là những suy tư Trên đỉnh Mã pì lèng cao chất ngất, là bao xúc cảm sâu lắng Trên đường về Việt Bắc, hay Bên Hồ Gươm vang vọng lời núi sông ngàn năm. Đó còn là những nỗi niềm thiết tha trong Đêm Long Xuyên, là sự nuối tiếc Lỡ hẹn Cao Văn Lầu, là sự cảm phục xen lẫn nỗi ưu tư Bên mộ Hàn Mạc Tử

Bên cạnh việc tưởng nhớ và biết ơn sâu sắc các thế hệ cha anh đã đổ máu xương cho độc lập, tự do của Tổ quốc, Trần Đôn còn mang nặng lòng tri ân đối với những người đã dày công dạy dỗ mình. Mỗi khi gặp Người thầy đầu tiên, trong lòng nhà thơ lại dạt dào bao cảm xúc. Ông nhớ mãi kỷ niệm ngày đầu tiên đi học bảy mươi năm về trước. Thầy giáo của ông lúc ấy còn rất trẻ, cũng lần đầu tiên đi dạy. Thầy trò gặp nhau, cả hai đều bỡ ngỡ. Rồi “Dòng sông đời chảy mãi/ Trôi mỗi người một nơi”. Bảy mươi năm sau, ngày hội ngộ, tình cảm của ông đối với người thầy vẫn mãi nặng sâu. Hãy nghe ông nói về tình cảm cao đẹp ấy:

“Mỗi năm giờ gặp lại

Cảm xúc vẫn dạt dào

Run run bàn tay nắm

Mái đầu bạc như nhau

 

Mừng thầy còn mạnh khỏe

Dù tuổi hạc đã cao”.

Với tấm lòng giàu yêu thương, xúc động, Trần Đôn luôn vương vấn với cảnh cũ, người xưa, và mỗi lần như vậy, trái tim nhà thơ lại trào dâng bao ân tình sâu nặng. Chỉ một chi tiết nhỏ trong cuộc sống cũng làm ông xao xuyến, bâng khuâng. Ngang qua trường cũ, thấy ngôi trường đã xây mới tinh tươm, nhưng khi nhìn tấm bia hiện lên trước mắt, ông không khỏi thốn thức, nghĩ suy:

“Gần bảy mươi năm vẫn ngôi trường đó

Bao bể dâu che lấp một khởi đầu”.

Hình ảnh ngôi trường cũ với bao kỷ niệm một thời hiện về trong ký ức ông, không thể phai mờ. Đối với ông, những kỷ niệm ấy thật đẹp đẽ, thật đáng quý, và  ông đã nói lên tiếng lòng mình:

Cảm ơn cuộc đời còn lại tấm bia

Cảm ơn trường xưa cái tên thân thuộc

Dẫu bây giờ có lồng lộng cao sang

Tôi vẫn mơ về mái trường năm cũ”.

Trước mắt nhà thơ, cuộc sống xung quanh tuy đã có nhiều thay đổi, niềm vui và hạnh phúc đã hiện hữu muôn nơi, nhưng đâu đó vẫn còn không ít vất vả, khó khăn. Với tấm lòng độ lượng, bao dung, nhà thơ đã trải lòng mình để thông cảm, sẻ chia với những mảnh đời cơ cực, bất hạnh. Ông đau đớn, Băn khoăn trước đời thừa:

“Chiều rồi

Mà những người chạy chợ

Vẫn bầm gan - tím ruột

Tiếng rao nhỏ dần như hết pin”.

Tình yêu thương Trần Đôn dành cho cuộc đời này thật rộng lớn và sâu lắng. Có lẽ vì vậy, nhà thơ luôn trân quý thời gian. Ông băn khoăn tự hỏi: Ta đã già chưa?

“Ta đã già chưa - tuổi bảy lăm

Hồng hoang lãng đãng khói sương nhầm”.

Ông cảm thấy tiếc nuối khi ngày tháng trôi mau. Như một sự tổng kết từ những trải nghiệm sâu sắc trước cuộc sống, trong thi phẩm Hết giờ, ông viết những câu thơ đầy trắc ẩn:

“Trăm năm mấy độ ấm nồng

Mấy vòng hạnh phúc, mấy bồng bềnh mơ”.

Tuy nhiên, nỗi niềm ưu tư ấy hoàn toàn không mang màu sắc tự ti, tiêu cực, mà là sự nhìn nhận, đánh giá nghiêm túc hiện thực để từ đó tác giả muốn mình và những người xung quanh bứt phá, vươn lên mạnh mẽ hơn trong cuộc sống.

Cũng như hầu hết các sáng tác trước đây của Trần Đôn, Rong chơi 2 là tâm tình   của một nhà thơ giàu yêu thương, xúc động và có trách nhiệm trước cuộc sống. Đọc Rong chơi 2, ta ít gặp những câu thơ bóng bẩy, mĩ miều, mặc dù tác giả đã thể hiện khả năng sử dụng ngôn ngữ và các biện pháp tu từ khá linh hoạt. Tuy vậy, qua những câu thơ mộc mạc, giản dị, chân thật, và nhiều lúc là những phát biểu trực diện, người đọc thấy rõ vẻ đẹp tâm hồn người viết, qua đó cảm nhận được những thông điệp ông muốn gửi gắm trong các sáng tác của mình.

Chính vì những lẽ trên đây, Rong chơi 2 chắc chắn sẽ mang lại những điều bổ ích cho bạn đọc.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm
Triết lý nhân sinh trong tập thơ “Nghe mùa thay lá” của Hoàng Thân
Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ra mắt tập thơ “Nghe mùa thay lá” của nhà thơ, bác sĩ Hoàng Thân (Trịnh Quang Thân), Hội viên Hội VHNT Quảng Ngãi, Bác sĩ CK II Nội tim mạch, đúng vào dịp kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/2026). Tập thơ là kết quả của một quá trình chiêm nghiệm về thời gian, ký ức và thân phận con người trong dòng chảy biến thiên của đời sống.
Xem thêm
Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân
Đọc những trang viết của Trương Văn Dân, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận của nhà văn với con người và cuộc đời này. Đối thoại là khát vọng được sẻ chia, được thấu hiểu; đồng thời, đó còn là khát vọng tự vấn, tự nhìn lại chính mình của người viết. Từ đối thoại, những ngổn ngang của đời sống, những day dứt của lòng người được mở ra… hun hút cảm xúc nhưng có khi khô khốc “như viên sỏi rơi vào lòng giếng cạn”. Chúng ta đang ở đâu? Chúng ta đã làm gì chính mình? Chúng ta sẽ trở nên thế nào? Chúng ta để lại gì cho mai sau?... Những trăn trở đó uốn vặn trong từng con chữ với vô số câu hỏi khó bề giải đáp. Đó chính là tâm tình, tâm tưởng của Trương Văn Dân gửi gắm với đời.
Xem thêm