TIN TỨC

Nhà thơ Trần Đôn và “hành trình” Rong chơi 2

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-06-10 20:22:49
mail facebook google pos stwis
2008 lượt xem

Ở tuổi U80, nhà thơ Trần Đôn vẫn dồi dào sức sáng tạo, vừa hoàn thành tập thơ Rong chơi 2 – một “hành trình” thi ca “đi dọc đất nước, dọc cuộc đời” đầy chiêm nghiệm. Qua bài viết dưới đây, tác giả Nguyễn Quế đã dẫn dắt độc giả khám phá thế giới thơ mộc mạc, chân thật nhưng thấm đẫm ân tình và trách nhiệm của Trần Đôn, từ tình cảm cội nguồn đến nỗi niềm sẻ chia với đời.
 

NGUYỄN QUẾ

Tôi gặp lại nhà báo, nhà văn, nhà thơ Trần Đôn một ngày không lâu sau lần họp mặt văn nghệ sỹ đầu xuân 2025. Ở ngưỡng U80, ông vẫn khỏe khoắn và dồi dào sức sáng tạo. Bên cạnh những giờ phút sống an nhiên cùng gia đình, người thân và bạn bè, ông dành cho thơ văn tình yêu tha thiết. Nối tiếp “cuộc” Rong chơi diễn ra chưa lâu, Trần Đôn vừa hoàn thành “hành trình” Rong chơi 2 một cách ngoạn mục. Ông tâm sự, với hơn 60 tác phẩm của tập thơ này, ông đã làm chuyến “đi dọc đất nước, dọc cuộc đời” như một trải nghiệm sâu sắc và thủ vị.
 

Trước hết, với “hành trình” Rong chơi 2, Trần Đôn đã dành những trang thơ đầy ắp niềm thành kính và biết ơn đối với các thế hệ nguồn cội của mình. Trong tác phẩm Mừng thọ ngoại, ông đã viết nên những câu thơ đầy xúc cảm:

“Mừng ngoại nay đã ngoại chín mươi

Nuôi con dạy cháu thảy nên người

Tâm luôn trong sáng, tinh thần khỏe

Trí tựa mây vờn thể chất tươi

Đức để ngàn năm con cháu hưởng

Nhân gieo kiếp kiếp vạn người thương

Mừng ông trường thọ cùng con cháu

Vui hưởng vinh hoa, phúc mãn đường”.

Với thể thất ngôn bát cú và ngôn ngữ được chọn lọc, bài thơ đã tạo nên một không khí thật trang trọng. Công ơn “nuôi con dạy cháu” nên người cùng tâm, trí, đức, nhân cao đẹp của người ông được tác giả liệt kê và đặt ở đầu bốn câu thơ như một sự tôn vinh sâu sắc, làm nổi bật các phẩm chất cao quý của bậc tiền bối.

Khác với Mừng thọ ngoại, bài thơ Mừng ba thượng thọ được viết theo thể lục bát truyền thống với âm điệu nhẹ nhàng, uyển chuyển. Tuy nhiên, qua những câu thơ giàu xúc cảm, tác giả đã khắc họa rõ nét tấm lòng hiếu thảo đối với người cha yêu kính của mình:

“Mừng ba thượng thọ chín mươi

Bóng ba che mát cuộc đời cháu con

Cầu xin trời phật ban ơn

Đưa Ba vượt khỏi đoạn đường trăm năm

Chúc ba trí sáng tâm trong

Vui cùng con cháu, thong dong tuổi già”.

Bên cạnh tình cảm sâu nặng dành cho người thân trong gia đình, Rong chơi 2 còn là những cuộc trở về đầy hoài niệm và sự tri ân sâu sắc đối với bao vùng đất và con người mà nhà thơ vốn rất đỗi yêu thương. Đó là những phút giây Tự tình Châu Thới sơn đầy cảm xúc khi ông đứng trên đỉnh ngọn núi có ngôi chùa nổi tiếng vốn là danh thắng quốc gia giữa vùng đồng bằng rộng lớn của quê hương mình nhìn ra miền đất giàu trầm tích lịch sử - văn hóa xung quanh:

“Đứng đây ta nhìn chiến khu D

Chợt nhớ Mã Đà cơn sốt rét

Nhớ đất ThườngTân thương tướng Huỳnh

Nghe hồn Vĩnh Lợi rợn đao binh

 

Đứng đây ta thấy Tam Gíác Sắt

Địa đạo ngổn ngang tiếng khóc cười

Giặc dữ kinh hồn quên “thiết giáp”

Nhân dân rạng rỡ nụ cười tươi…”.

Với Một sáng Tân Uyên, khi cùng đoàn người về thăm vùng đất giàu truyền thống cách mạng đang vươn mình trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, ông không khỏi bồi hồi xúc động xen lẫn niềm tự hào sâu lắng:

“Chúng tôi,

Có những người chưa biết Tân Uyên

Có những người chưa đến Tân Uyên

Và những người đổ máu ở Tân Uyên

Cùng về đây một ngày tháng bảy

Sáng - bầu trời Vĩnh Lợi rộng thênh thang

 

Tháng của mùa mưa bão

Trời lại xanh trong một sáng hiền hòa

Cầu Bà Kiêng chìm trong huyên náo

Đất anh hùng đón khách tao nhân”.

Từ niềm xúc động sâu sắc ấy, ông tự nhủ lòng:

“Ai đã qua một thời gian khó

Mới thấy tự hào đất nước hôm nay”.

Về thăm Di tích nhà tù Phú Lợi, Trần Đôn đã cảm tác bài thơ Củ khoai ngày họp mặt, qua đó, ông không quên nhắc tới một thời gian nan thử thách đã qua với  những kỷ niệm đẹp đẽ lan tỏa từ cuộc sống vô cùng bình dị nhưng nặng ân tình, thủy chung son sắt của nhân dân và các chiến sỹ cách mạng:

“Khi xưa nhờ nó lớn lên

Bền gan vững chí dựng nên cơ đồ

Dẻo thơm từng giọt mồ hôi

Nhân dân dành dụm để nuôi chúng mình”.

Từ sâu thắm lòng mình, nhà thơ chân tình mời những người chiến sỹ năm xưa đã hy sinh cả cuộc đời mình cho Tổ quốc trở về chung niềm vui ngày họp mặt:

Bây giờ đất nước hồi sinh

Củ khoai vẫn cứ như mình với ta

Các anh đã ở nơi xa

Mời về chung hưởng hương hoa thái bình”.

Cảm động biết bao khi tác giả xem giây phút sum họp giữa những người một thời cùng chung trận tuyến chống quân thù và những dĩa muối, củ khoai được bày ra trong ngày họp mặt là “hương hoa thái bình”! Bởi củ khoai từng là “đặc sản” thấm đượm biết bao mồ hôi, xương máu của nhân dân và là biểu tượng cao đẹp cho tình quân dân cá nước suốt những năm dài gian khó của cuộc kháng chiến, và giá trị của nó vẫn mãi bất biến trong lòng mỗi con người đi ra từ cuộc chiến tranh “gian lao mà anh dũng” ấy.

Trong một dịp về thăm Nghĩa trang Quốc gia Vị Xuyên, đứng trước hàng ngàn ngôi mộ liệt sỹ hy sinh trong cuộc chiến bảo vệ biên giới thiêng liêng của Tổ quốc, trái tim nhà thơ không khỏi nhói đau. Ông thầm nói với hương hồn các liệt sỹ:

“Các anh gác đầu về núi

Hoàng Liên Sơn chiều tối ngậm ngùi

Chúng tôi từ Bình Dương tới

Rưng rưng những nén tâm hương…

 

Chúng tôi những người còn sống

Nguyện làm đất nước rạng ngời

Trả ơn những người đã khuất

An lòng nhắm mắt anh ơi!”.

Mang tình yêu nồng thắm đối với quê hương, đất nước, Trần Đôn đã đến với nhiều vùng đất thân yêu của Tổ quốc. Ở đâu ông cũng tha thiết lắng nghe tiếng vọng từ quá khứ hào hùng của cha ông, đắm mình trước cảnh trí tươi đẹp của thiên nhiên hay những công trình lịch sử - văn hóa nổi tiếng. Từ những trải nghiệm ấy, ông gửi nỗi niềm vào những trang thơ. Đó là những rung động dạt dào trước cảnh đẹp Vũng Tàu, là những suy tư Trên đỉnh Mã pì lèng cao chất ngất, là bao xúc cảm sâu lắng Trên đường về Việt Bắc, hay Bên Hồ Gươm vang vọng lời núi sông ngàn năm. Đó còn là những nỗi niềm thiết tha trong Đêm Long Xuyên, là sự nuối tiếc Lỡ hẹn Cao Văn Lầu, là sự cảm phục xen lẫn nỗi ưu tư Bên mộ Hàn Mạc Tử

Bên cạnh việc tưởng nhớ và biết ơn sâu sắc các thế hệ cha anh đã đổ máu xương cho độc lập, tự do của Tổ quốc, Trần Đôn còn mang nặng lòng tri ân đối với những người đã dày công dạy dỗ mình. Mỗi khi gặp Người thầy đầu tiên, trong lòng nhà thơ lại dạt dào bao cảm xúc. Ông nhớ mãi kỷ niệm ngày đầu tiên đi học bảy mươi năm về trước. Thầy giáo của ông lúc ấy còn rất trẻ, cũng lần đầu tiên đi dạy. Thầy trò gặp nhau, cả hai đều bỡ ngỡ. Rồi “Dòng sông đời chảy mãi/ Trôi mỗi người một nơi”. Bảy mươi năm sau, ngày hội ngộ, tình cảm của ông đối với người thầy vẫn mãi nặng sâu. Hãy nghe ông nói về tình cảm cao đẹp ấy:

“Mỗi năm giờ gặp lại

Cảm xúc vẫn dạt dào

Run run bàn tay nắm

Mái đầu bạc như nhau

 

Mừng thầy còn mạnh khỏe

Dù tuổi hạc đã cao”.

Với tấm lòng giàu yêu thương, xúc động, Trần Đôn luôn vương vấn với cảnh cũ, người xưa, và mỗi lần như vậy, trái tim nhà thơ lại trào dâng bao ân tình sâu nặng. Chỉ một chi tiết nhỏ trong cuộc sống cũng làm ông xao xuyến, bâng khuâng. Ngang qua trường cũ, thấy ngôi trường đã xây mới tinh tươm, nhưng khi nhìn tấm bia hiện lên trước mắt, ông không khỏi thốn thức, nghĩ suy:

“Gần bảy mươi năm vẫn ngôi trường đó

Bao bể dâu che lấp một khởi đầu”.

Hình ảnh ngôi trường cũ với bao kỷ niệm một thời hiện về trong ký ức ông, không thể phai mờ. Đối với ông, những kỷ niệm ấy thật đẹp đẽ, thật đáng quý, và  ông đã nói lên tiếng lòng mình:

Cảm ơn cuộc đời còn lại tấm bia

Cảm ơn trường xưa cái tên thân thuộc

Dẫu bây giờ có lồng lộng cao sang

Tôi vẫn mơ về mái trường năm cũ”.

Trước mắt nhà thơ, cuộc sống xung quanh tuy đã có nhiều thay đổi, niềm vui và hạnh phúc đã hiện hữu muôn nơi, nhưng đâu đó vẫn còn không ít vất vả, khó khăn. Với tấm lòng độ lượng, bao dung, nhà thơ đã trải lòng mình để thông cảm, sẻ chia với những mảnh đời cơ cực, bất hạnh. Ông đau đớn, Băn khoăn trước đời thừa:

“Chiều rồi

Mà những người chạy chợ

Vẫn bầm gan - tím ruột

Tiếng rao nhỏ dần như hết pin”.

Tình yêu thương Trần Đôn dành cho cuộc đời này thật rộng lớn và sâu lắng. Có lẽ vì vậy, nhà thơ luôn trân quý thời gian. Ông băn khoăn tự hỏi: Ta đã già chưa?

“Ta đã già chưa - tuổi bảy lăm

Hồng hoang lãng đãng khói sương nhầm”.

Ông cảm thấy tiếc nuối khi ngày tháng trôi mau. Như một sự tổng kết từ những trải nghiệm sâu sắc trước cuộc sống, trong thi phẩm Hết giờ, ông viết những câu thơ đầy trắc ẩn:

“Trăm năm mấy độ ấm nồng

Mấy vòng hạnh phúc, mấy bồng bềnh mơ”.

Tuy nhiên, nỗi niềm ưu tư ấy hoàn toàn không mang màu sắc tự ti, tiêu cực, mà là sự nhìn nhận, đánh giá nghiêm túc hiện thực để từ đó tác giả muốn mình và những người xung quanh bứt phá, vươn lên mạnh mẽ hơn trong cuộc sống.

Cũng như hầu hết các sáng tác trước đây của Trần Đôn, Rong chơi 2 là tâm tình   của một nhà thơ giàu yêu thương, xúc động và có trách nhiệm trước cuộc sống. Đọc Rong chơi 2, ta ít gặp những câu thơ bóng bẩy, mĩ miều, mặc dù tác giả đã thể hiện khả năng sử dụng ngôn ngữ và các biện pháp tu từ khá linh hoạt. Tuy vậy, qua những câu thơ mộc mạc, giản dị, chân thật, và nhiều lúc là những phát biểu trực diện, người đọc thấy rõ vẻ đẹp tâm hồn người viết, qua đó cảm nhận được những thông điệp ông muốn gửi gắm trong các sáng tác của mình.

Chính vì những lẽ trên đây, Rong chơi 2 chắc chắn sẽ mang lại những điều bổ ích cho bạn đọc.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm