TIN TỨC

Nhà thơ Trần Đôn và “hành trình” Rong chơi 2

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-06-10 20:22:49
mail facebook google pos stwis
1755 lượt xem

Ở tuổi U80, nhà thơ Trần Đôn vẫn dồi dào sức sáng tạo, vừa hoàn thành tập thơ Rong chơi 2 – một “hành trình” thi ca “đi dọc đất nước, dọc cuộc đời” đầy chiêm nghiệm. Qua bài viết dưới đây, tác giả Nguyễn Quế đã dẫn dắt độc giả khám phá thế giới thơ mộc mạc, chân thật nhưng thấm đẫm ân tình và trách nhiệm của Trần Đôn, từ tình cảm cội nguồn đến nỗi niềm sẻ chia với đời.
 

NGUYỄN QUẾ

Tôi gặp lại nhà báo, nhà văn, nhà thơ Trần Đôn một ngày không lâu sau lần họp mặt văn nghệ sỹ đầu xuân 2025. Ở ngưỡng U80, ông vẫn khỏe khoắn và dồi dào sức sáng tạo. Bên cạnh những giờ phút sống an nhiên cùng gia đình, người thân và bạn bè, ông dành cho thơ văn tình yêu tha thiết. Nối tiếp “cuộc” Rong chơi diễn ra chưa lâu, Trần Đôn vừa hoàn thành “hành trình” Rong chơi 2 một cách ngoạn mục. Ông tâm sự, với hơn 60 tác phẩm của tập thơ này, ông đã làm chuyến “đi dọc đất nước, dọc cuộc đời” như một trải nghiệm sâu sắc và thủ vị.
 

Trước hết, với “hành trình” Rong chơi 2, Trần Đôn đã dành những trang thơ đầy ắp niềm thành kính và biết ơn đối với các thế hệ nguồn cội của mình. Trong tác phẩm Mừng thọ ngoại, ông đã viết nên những câu thơ đầy xúc cảm:

“Mừng ngoại nay đã ngoại chín mươi

Nuôi con dạy cháu thảy nên người

Tâm luôn trong sáng, tinh thần khỏe

Trí tựa mây vờn thể chất tươi

Đức để ngàn năm con cháu hưởng

Nhân gieo kiếp kiếp vạn người thương

Mừng ông trường thọ cùng con cháu

Vui hưởng vinh hoa, phúc mãn đường”.

Với thể thất ngôn bát cú và ngôn ngữ được chọn lọc, bài thơ đã tạo nên một không khí thật trang trọng. Công ơn “nuôi con dạy cháu” nên người cùng tâm, trí, đức, nhân cao đẹp của người ông được tác giả liệt kê và đặt ở đầu bốn câu thơ như một sự tôn vinh sâu sắc, làm nổi bật các phẩm chất cao quý của bậc tiền bối.

Khác với Mừng thọ ngoại, bài thơ Mừng ba thượng thọ được viết theo thể lục bát truyền thống với âm điệu nhẹ nhàng, uyển chuyển. Tuy nhiên, qua những câu thơ giàu xúc cảm, tác giả đã khắc họa rõ nét tấm lòng hiếu thảo đối với người cha yêu kính của mình:

“Mừng ba thượng thọ chín mươi

Bóng ba che mát cuộc đời cháu con

Cầu xin trời phật ban ơn

Đưa Ba vượt khỏi đoạn đường trăm năm

Chúc ba trí sáng tâm trong

Vui cùng con cháu, thong dong tuổi già”.

Bên cạnh tình cảm sâu nặng dành cho người thân trong gia đình, Rong chơi 2 còn là những cuộc trở về đầy hoài niệm và sự tri ân sâu sắc đối với bao vùng đất và con người mà nhà thơ vốn rất đỗi yêu thương. Đó là những phút giây Tự tình Châu Thới sơn đầy cảm xúc khi ông đứng trên đỉnh ngọn núi có ngôi chùa nổi tiếng vốn là danh thắng quốc gia giữa vùng đồng bằng rộng lớn của quê hương mình nhìn ra miền đất giàu trầm tích lịch sử - văn hóa xung quanh:

“Đứng đây ta nhìn chiến khu D

Chợt nhớ Mã Đà cơn sốt rét

Nhớ đất ThườngTân thương tướng Huỳnh

Nghe hồn Vĩnh Lợi rợn đao binh

 

Đứng đây ta thấy Tam Gíác Sắt

Địa đạo ngổn ngang tiếng khóc cười

Giặc dữ kinh hồn quên “thiết giáp”

Nhân dân rạng rỡ nụ cười tươi…”.

Với Một sáng Tân Uyên, khi cùng đoàn người về thăm vùng đất giàu truyền thống cách mạng đang vươn mình trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, ông không khỏi bồi hồi xúc động xen lẫn niềm tự hào sâu lắng:

“Chúng tôi,

Có những người chưa biết Tân Uyên

Có những người chưa đến Tân Uyên

Và những người đổ máu ở Tân Uyên

Cùng về đây một ngày tháng bảy

Sáng - bầu trời Vĩnh Lợi rộng thênh thang

 

Tháng của mùa mưa bão

Trời lại xanh trong một sáng hiền hòa

Cầu Bà Kiêng chìm trong huyên náo

Đất anh hùng đón khách tao nhân”.

Từ niềm xúc động sâu sắc ấy, ông tự nhủ lòng:

“Ai đã qua một thời gian khó

Mới thấy tự hào đất nước hôm nay”.

Về thăm Di tích nhà tù Phú Lợi, Trần Đôn đã cảm tác bài thơ Củ khoai ngày họp mặt, qua đó, ông không quên nhắc tới một thời gian nan thử thách đã qua với  những kỷ niệm đẹp đẽ lan tỏa từ cuộc sống vô cùng bình dị nhưng nặng ân tình, thủy chung son sắt của nhân dân và các chiến sỹ cách mạng:

“Khi xưa nhờ nó lớn lên

Bền gan vững chí dựng nên cơ đồ

Dẻo thơm từng giọt mồ hôi

Nhân dân dành dụm để nuôi chúng mình”.

Từ sâu thắm lòng mình, nhà thơ chân tình mời những người chiến sỹ năm xưa đã hy sinh cả cuộc đời mình cho Tổ quốc trở về chung niềm vui ngày họp mặt:

Bây giờ đất nước hồi sinh

Củ khoai vẫn cứ như mình với ta

Các anh đã ở nơi xa

Mời về chung hưởng hương hoa thái bình”.

Cảm động biết bao khi tác giả xem giây phút sum họp giữa những người một thời cùng chung trận tuyến chống quân thù và những dĩa muối, củ khoai được bày ra trong ngày họp mặt là “hương hoa thái bình”! Bởi củ khoai từng là “đặc sản” thấm đượm biết bao mồ hôi, xương máu của nhân dân và là biểu tượng cao đẹp cho tình quân dân cá nước suốt những năm dài gian khó của cuộc kháng chiến, và giá trị của nó vẫn mãi bất biến trong lòng mỗi con người đi ra từ cuộc chiến tranh “gian lao mà anh dũng” ấy.

Trong một dịp về thăm Nghĩa trang Quốc gia Vị Xuyên, đứng trước hàng ngàn ngôi mộ liệt sỹ hy sinh trong cuộc chiến bảo vệ biên giới thiêng liêng của Tổ quốc, trái tim nhà thơ không khỏi nhói đau. Ông thầm nói với hương hồn các liệt sỹ:

“Các anh gác đầu về núi

Hoàng Liên Sơn chiều tối ngậm ngùi

Chúng tôi từ Bình Dương tới

Rưng rưng những nén tâm hương…

 

Chúng tôi những người còn sống

Nguyện làm đất nước rạng ngời

Trả ơn những người đã khuất

An lòng nhắm mắt anh ơi!”.

Mang tình yêu nồng thắm đối với quê hương, đất nước, Trần Đôn đã đến với nhiều vùng đất thân yêu của Tổ quốc. Ở đâu ông cũng tha thiết lắng nghe tiếng vọng từ quá khứ hào hùng của cha ông, đắm mình trước cảnh trí tươi đẹp của thiên nhiên hay những công trình lịch sử - văn hóa nổi tiếng. Từ những trải nghiệm ấy, ông gửi nỗi niềm vào những trang thơ. Đó là những rung động dạt dào trước cảnh đẹp Vũng Tàu, là những suy tư Trên đỉnh Mã pì lèng cao chất ngất, là bao xúc cảm sâu lắng Trên đường về Việt Bắc, hay Bên Hồ Gươm vang vọng lời núi sông ngàn năm. Đó còn là những nỗi niềm thiết tha trong Đêm Long Xuyên, là sự nuối tiếc Lỡ hẹn Cao Văn Lầu, là sự cảm phục xen lẫn nỗi ưu tư Bên mộ Hàn Mạc Tử

Bên cạnh việc tưởng nhớ và biết ơn sâu sắc các thế hệ cha anh đã đổ máu xương cho độc lập, tự do của Tổ quốc, Trần Đôn còn mang nặng lòng tri ân đối với những người đã dày công dạy dỗ mình. Mỗi khi gặp Người thầy đầu tiên, trong lòng nhà thơ lại dạt dào bao cảm xúc. Ông nhớ mãi kỷ niệm ngày đầu tiên đi học bảy mươi năm về trước. Thầy giáo của ông lúc ấy còn rất trẻ, cũng lần đầu tiên đi dạy. Thầy trò gặp nhau, cả hai đều bỡ ngỡ. Rồi “Dòng sông đời chảy mãi/ Trôi mỗi người một nơi”. Bảy mươi năm sau, ngày hội ngộ, tình cảm của ông đối với người thầy vẫn mãi nặng sâu. Hãy nghe ông nói về tình cảm cao đẹp ấy:

“Mỗi năm giờ gặp lại

Cảm xúc vẫn dạt dào

Run run bàn tay nắm

Mái đầu bạc như nhau

 

Mừng thầy còn mạnh khỏe

Dù tuổi hạc đã cao”.

Với tấm lòng giàu yêu thương, xúc động, Trần Đôn luôn vương vấn với cảnh cũ, người xưa, và mỗi lần như vậy, trái tim nhà thơ lại trào dâng bao ân tình sâu nặng. Chỉ một chi tiết nhỏ trong cuộc sống cũng làm ông xao xuyến, bâng khuâng. Ngang qua trường cũ, thấy ngôi trường đã xây mới tinh tươm, nhưng khi nhìn tấm bia hiện lên trước mắt, ông không khỏi thốn thức, nghĩ suy:

“Gần bảy mươi năm vẫn ngôi trường đó

Bao bể dâu che lấp một khởi đầu”.

Hình ảnh ngôi trường cũ với bao kỷ niệm một thời hiện về trong ký ức ông, không thể phai mờ. Đối với ông, những kỷ niệm ấy thật đẹp đẽ, thật đáng quý, và  ông đã nói lên tiếng lòng mình:

Cảm ơn cuộc đời còn lại tấm bia

Cảm ơn trường xưa cái tên thân thuộc

Dẫu bây giờ có lồng lộng cao sang

Tôi vẫn mơ về mái trường năm cũ”.

Trước mắt nhà thơ, cuộc sống xung quanh tuy đã có nhiều thay đổi, niềm vui và hạnh phúc đã hiện hữu muôn nơi, nhưng đâu đó vẫn còn không ít vất vả, khó khăn. Với tấm lòng độ lượng, bao dung, nhà thơ đã trải lòng mình để thông cảm, sẻ chia với những mảnh đời cơ cực, bất hạnh. Ông đau đớn, Băn khoăn trước đời thừa:

“Chiều rồi

Mà những người chạy chợ

Vẫn bầm gan - tím ruột

Tiếng rao nhỏ dần như hết pin”.

Tình yêu thương Trần Đôn dành cho cuộc đời này thật rộng lớn và sâu lắng. Có lẽ vì vậy, nhà thơ luôn trân quý thời gian. Ông băn khoăn tự hỏi: Ta đã già chưa?

“Ta đã già chưa - tuổi bảy lăm

Hồng hoang lãng đãng khói sương nhầm”.

Ông cảm thấy tiếc nuối khi ngày tháng trôi mau. Như một sự tổng kết từ những trải nghiệm sâu sắc trước cuộc sống, trong thi phẩm Hết giờ, ông viết những câu thơ đầy trắc ẩn:

“Trăm năm mấy độ ấm nồng

Mấy vòng hạnh phúc, mấy bồng bềnh mơ”.

Tuy nhiên, nỗi niềm ưu tư ấy hoàn toàn không mang màu sắc tự ti, tiêu cực, mà là sự nhìn nhận, đánh giá nghiêm túc hiện thực để từ đó tác giả muốn mình và những người xung quanh bứt phá, vươn lên mạnh mẽ hơn trong cuộc sống.

Cũng như hầu hết các sáng tác trước đây của Trần Đôn, Rong chơi 2 là tâm tình   của một nhà thơ giàu yêu thương, xúc động và có trách nhiệm trước cuộc sống. Đọc Rong chơi 2, ta ít gặp những câu thơ bóng bẩy, mĩ miều, mặc dù tác giả đã thể hiện khả năng sử dụng ngôn ngữ và các biện pháp tu từ khá linh hoạt. Tuy vậy, qua những câu thơ mộc mạc, giản dị, chân thật, và nhiều lúc là những phát biểu trực diện, người đọc thấy rõ vẻ đẹp tâm hồn người viết, qua đó cảm nhận được những thông điệp ông muốn gửi gắm trong các sáng tác của mình.

Chính vì những lẽ trên đây, Rong chơi 2 chắc chắn sẽ mang lại những điều bổ ích cho bạn đọc.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm