TIN TỨC

“Cảm nhận văn chương” - Lời tự sự của chuông gió

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-11-22 18:12:22
mail facebook google pos stwis
1690 lượt xem

KAO SƠN

Trong một nền văn học, nhân tố đầu tiên quyết định đến sự phát triển là Nhà văn và Tác phẩm. Nhưng Độc giả lại là yếu tố quan trọng, có thể ví như không khí, như mạch máu nuôi dưỡng cơ thể. Không có độc giả thì dù nhà văn có in ra đến thiên kinh vạn quyển cũng vô ích. Và đứng ở giữa, chiếm vị trí như một cầu nối, như một chất xúc tác, làm sôi động sự vận hành, liên kết giưã Tác giả- độc giả là Nhà phê bình. Phê bình có tác động mạnh mẽ đến tâm lí, thị hiếu và sự chọn lựa của người đọc, có nhiệm vụ thẩm định, bình giá hay định hướng giá trị nhân văn, thẩm mĩ cho cộng đồng. Đồng thời, phê bình tác động trở lại chính nhà văn và hoạt động sáng tác, hoạt động xuất bản, phát hành ấn phẩm văn học.


Nhà văn Kao Sơn tại buổi giới thiệu tác phẩm mới của nhà thơ Triệu Kim Loan.

Để có một nền lí luận phê bình Văn học nghiêm túc, bài bản cần rất nhiều yếu tố: Chương trình đào tạo chính quy về lí luận cơ bản, học thuật, văn hoá, các lớp tập huấn, bồi dưỡng, các diễn đàn trao đổi kinh nghiệm phê bình văn học… Một nhà phê bình thực thụ cần có cơ sở lí luận vững, có hành trang kiến thức về Mỹ học, Triết học, có am hiểu rộng về các trường phái, tôn giáo… và cùng đó là tinh thần tự học, tự mở mang thông qua các kênh kiến thức của văn học thế giới, các trường phái, các luồng tư tưởng, khác nhau…đồng thời có nhân sinh quan riêng, có khả năng tạo lập một hệ quy chiếu hợp lí cho từng vấn đề cụ thể. Ở một bình diện khác, cần quan tâm đến mặt bằng kiến thức chung của đối tượng tiếp nhận. Với độc giả phần lớn có trình độ trung bình, khó tiếp cận những vấn đề học thuật, những lí luận rối rắm mà Phê bình hàn lâm mang tới sẽ là một rào cản không nhỏ. Chính vì thế mà một thời gian dài ở nước ta, do hoàn cảnh cả về kinh tế lẫn chính trị, Lí luận- Phê bình chính thống và Hàn lâm đang ngày càng có nguy cơ bị thu hẹp.

Để cứu vãn tình trạng đó, CẢM NHẬN – Một phân nhánh của Phê bình vốn hình thành từ thông tin báo chí…. lại có cơ hội phát triển. Đơn giản là tính cập nhật nhanh, gọn, không đòi hỏi lí luận cao siêu. Cảm nhận là sự chấp nhận, động viên, chia sẻ, tạo sự đồng cảm và cổ vũ. Nó trở thành động lực tăng cường cảm hứng, nguồn doping dịu ngọt và không kém mê li cho người sáng tác. Hiện tượng này tạo ra một khối đồng minh khá đoàn kết chứ không chia mặt trận giữa người sáng tác và nhà phê bình như trước.

Tình nguyện trở thành cầu nối thân thiết giữa Tác giả với Độc giả, cả một đội ngũ đông đảo của thế hệ 6X, 7X những người mà trong sự nghiệp văn chương đã có một thời gian thử thách, đã có kinh nghiệm và độ chín nhất định sự nghiệp nhiệt tình dấn thân. Nhiều người bắt tay vào viết những bài Phê bình kiểu đó. CẢM NHẠN VĂN CHƯƠNG của Triệu Kim Loan có thể được coi là một dấu ấn mang tính tiên phong khi chị làm một tập hợp thành một cuốn sách nghiêm chỉnh trong đó phần lớn là những bài Cảm do chị và bạn bè viết. Triệu Kim Loan có thế mạnh khi viết Phê bình dưới dạng Cảm. Bởi chị cũng chính là người viết, là tác giả của nhiều bài thơ, nhiều tập thơ đồng thời cũng là người đọc. Điều đó giúp chị dễ dàng trở thành Người trong cuộc. Chị chìa bàn tay ấm mềm và dính đầy phấn trắng tinh khiết để được làm bạn đồng hành với các tác giả khác và độc giả.

Triệu Kim Loan là Thạc sỹ chuyên ngành Văn học, là giáo viên Văn nhưng khi viết phê bình chị lại tránh được sự giáo điều, tránh được những câu chữ mang tính ước lệ vốn đã trở thành nếp trong dạy và học văn học trong nhà trường. Chị cũng không bị chi phối quá nhiều về những mặc định Hàn lâm, Kinh viện hay những giăng mắc, những uẩn khúc và cả những chưa ngã ngũ mà các cuộc tranh luận học thuật vốn đầy ắp trong các bài phê bình. Chị hiểu thực trạng của Văn học nước nhà, hiểu hoàn cảnh và khả năng của bạn viết. Chị không dùng nhiều những Mỹ từ, dùng những lời có cánh để tâng bốc hay để đưa nhau vào mê lộ ảo tưởng. Câu chữ của chị là câu chữ của nhà phê bình nhưng được biểu hiện qua cái tâm của người sáng tác. Không rao giảng, không áp đặt, không viện dẫn những tai to mặt lớn, những triết gia, những tư tưởng xa vời, không lên giọng vẽ đường chỉ lối. Cứ thủ thỉ tâm tình, thoảng nhẹ như làn gió mỏng làm tung lên những leng keng ấm áp của chiếc chuông gió, vậy thôi!

Triệu Kim Loan viết cho bạn cũng là khi chị dang tìm thấy ở bạn những đồng điệu, lấy bạn làm một gợi mở hay đối tượng để thiểu và khám phá. Khi ấy chị không chỉ đơn thuần là người viết giới thiệu, một quan sát viên hay một hướng đạo. Triệu Kim Loan tự hoá thân thành người thứ hai bên cạnh người viết, như hai người bạn cày cấy ở một miền quê yên bình sau buổi từ cánh đồng về ngồi bên mép hè đất, vừa chuyền tay nhau bát nước vối vừa bàn với nhau chuyện ruộng vườn cùng bao vui buồn thất bát. Để Cảm nhận một tác phẩm Văn học thì nguồn tư liệu chính vẫn là Văn bản của nó. Nhưng Triệu Kim Loan khi viết Phê bình thường chọn những tác phẩm của bạn bè chị. Cái điểm xuất phát đầu tiên là Tình yêu. Chị yêu bạn. Thứ nữa, là bạn bè nên hiểu nhau đến từng chi tiết cả về Tác phẩm lẫn con người thực trong đời thường. Lối viết ấy sẽ giúp độc giả không chỉ hiểu về Thơ mà còn hiểu và yêu quý thông cảm với người viết. Xin lấy riêng một ví dụ Triệu Kim Loan viết về Trần Mai Hường: “Đó là một tâm hồn ngập tràn nắng gió của thiên nhiên, vừa ấm áp, đam mê thơ ca nhưng cũng đầy trắc ẩn trước những bão dông cuộc đời. Đằng sau những mật ngôn sóng sánh kia là trái tim giàu xúc cảm, một bản ngã rắn rỏi đối diện và vượt lên nghịch cảnh bằng niềm tin mãnh liệt như chính con người ngoài đời của chị... Lời thơ trăn trở, xa xót bởi tình duyên bấp bênh như một canh bạc của số phận”.  Có lẽ phải cùng có trái tim đàn bà, cùng mang thân phận đàn bà và cũng yêu, hiểu nhau lắm thì mới có thể viết được, tặng cho nhau những câu chữ chính xác đến mức “bóc mẽ” nhau đến thế.

Đọc bạn và gắng tìm ra trong bạn những lấp lánh đó là chủ ý có tính định hướng của Triệu Kim Loan. Dù chỉ với một bài hay cả tập, chị luôn đọc bạn bè một cách nghiêm túc, có trách nhiệm, không hời hợt. Luôn cố gắng tìm ra những nổi trội, những độc lạ trong câu chữ hình tượng hay chí ít cũng phát hiện ra những ưu điểm, những thế mạnh trong sáng tác đáng chú ý nhất. Thơ có thể Hay hoặc chưa hay. Nhưng giữa Triệu Kim Loan với Tác giả là những bài học, những lời khuyên về sự tiếp tục hay từ bỏ. Những phát hiện- Phát hiện cho người đọc, phát hiện cả cho tác giả, chủ nhân của những câu thơ “hay đến nỗi chính mình cũng không biết rằng Hay”. Đôi khi có hơi quá. Nhưng thông cảm được. Bởi cũng là vì yêu quá đấy thôi. Lấy cái tình mà thể tất vậy. Điều này vô cùng cần thiết nhất là với những người mới cầm bút hay đã cầm bút lâu nhưng đang có những khúc mắc, những rào cản gây hoang mang hoặc chí ít là mất tự chủ, thiếu tự tin. Nó giống như công việc của người khai quặng, gạt bỏ đi những che phủ đất cát để lộ ra những tầng vỉa quặng quý. Làm được việc này Triệu Kim Loan vừa gây dựng cảm xúc cho mình từ những trang viết của bạn bè vừa thể hiện tiếng lòng của chị trước bạn và trách nhiệm của Nhà phê bình đối với người đọc. Nó giúp mở ra một suy ngẫm và nhận biết. Vừa là một sẻ chia, đồng cảm, vừa là một gợi mở, động viên. Một bàn tay tìm nắm một bàn tay trên đường gập ghềnh. Thế thôi cũng là rất quý!

Phần II của cuốn sách là tập hợp những bài kí, tản văn, trong đó đáng chú ý là những bài chị viết từ thực tế hoạt động văn học nhưng liên quan đến nghề giáo: Những buổi giao lưu, sinh hoạt ngoại khoá, kỉ niệm với đồng nghiệp. Những “Cảm nhận văn chương” lúc này không chỉ bó gọn trong những tập thơ, đóng kín không gian trên ngăn tủ sách cá nhân mỗi gia đình hay trong không khí tĩnh lặng của Thư viện mà được mở rộng tới môi trường xã hội rộng lớn, giúp bạn đọc hiểu thêm sức sống của văn chương hiện tại.

Phần thứ III, Hồi âm bạn bè về Triệu Kim Loan. Dư luận là yếu tố cần thiết tạo nên sức sống cho tác phẩm. Những trang viét của bạn bè về thơ Triệu Kim Loan còn mang một ý nghĩa khác. Trước hết đó là sự đón nhận và sau đó phần nào khẳng định về giá trị mà Thơ chị mang lại cho đời. Chị có một đội ngũ đông đảo người đọc là những học trò, những bạn đồng nghiệp. Khi viết về những kỉ niệm, những buổi giao lưu, những hoạt động văn nghệ ngoại khoá, có rất nhiều học trò và đồng nghiệp đã trở thành nhân vật của chị. Thông qua những hoạt động ấy chị truyền tình yêu và niềm tin vào văn học. Triệu Kim Loan có nhiều bạn là những nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình văn học. Họ cũng yêu mến chị, trân trọng dành cho Thơ chị những lời của tri âm, gần gụi và tâm huyết.

Có một nhận xét rất đáng để lưu tâm, đó là cái nhìn của Nhà báo, nhà thơ Bùi Phan Thảo: “Thơ Triệu Kim Loan không hướng đến sự thể nghiệm, phá cách mà thiên về những tự sự về cuộc đời qua những trải nghiệm sống, những nỗi niềm nhân sinh. Chính xác và Đủ. Nó nói được cách nhìn Thơ, cách tiếp cận Thơ và Con đường mà Triệu Kim Loan sẽ chọn để đi đến với trái tim độc giả”. Trúc Linh Lan thì phát hiện: “Thơ của Loan thường gắn với những buổi chiều…đượm buồn, u uẩn chút nhưng lắng sâu và gần gũi”. Trần Mai Hường thì khẳng định: Thơ Triệu Kim Loan “ngổn ngang, đa chiều và dồn nén … da diết, lắng sâu đến khắc khoải... đã “thả” vào thơ một bể vương mang, đợi chờ vời vợi. Niềm đợi chờ ấy luôn tỉnh thức, lạc quan và duy mỹ … luôn chân tình, dễ hiểu, tuy không giàu tính triết luận nhưng đằm thắm trong lời nhắn nhủ xa xôi và lắng đọng”. Nguyễn Bính Hồng Cầu ngoài việc chú ý chất lượng kĩ thuật, những đổi mới trong thơ Triệu Kim Loan: “tôi thích cái cảm giác bàng hoàng khi chạm vào những câu thơ trung thực, chân mộc mang hồn cốt đích thực của người viết”. Nguyên Bình lại phát hiện tinh tế “Khát vọng xanh là bình rượu nồng nàn thấm đẫm hương vị của men đời nồng cay mặn chat”… Phan Ngọc Quang đồng cảm “thích thả mình chạm vào những vần thơ khắc khoải niềm riêng rất đàn bà của chị, có xót xa, có buồn vương, tiếc nuối, có đau đớn hờn ghen nhưng không oằn oại rên xiết khổ đau”. Cù Tiến Tuất “Thơ Triệu Kim Loan là một hành trình tìm kiếm không mệt mỏi về ý nghĩa đích thực của cuộc sống”, Phạm Thị Thuý Nhài “tôi bỗng khám phá những ẩn ức, khát khao và cả những rung cảm mong manh tinh tế trong tâm hồn trong trẻo của chị…”, Nguyễn Thị Thanh Hà “chị viết thơ như xé nát gan ruột của chính mình nhưng cái kết vẫn viên mãn một miền cổ tích”. Một số người bạn học Đại học với chị như Hà Phú “Nét bút nghiêng thanh mảnh, dịu dàng lại phản chiếu tinh tế những giá trị nhân sinh về con người và cuộc sống với bao thăng trầm, góc khuất”, Bùi Kim Thông “Hồn thơ sóng sánh cảm xúc, thiết tha với cuộc đời trong cảm thức của một trái tim phụ nữ”.

Với một cuốn sách dày dặn và phong phú như CẢM NHẠN VĂN CHƯƠNG, Triệu Kim Loan đã làm được một công việc rất ý nghĩa: Tạo nên một Nhịp cầu văn học. Tất nhiên, không thể vin vào những nhận xét, lấy đó làm chuẩn mực chung, hoàn toàn chính xác cho những đánh giá có trong tập sách. Bởi nghĩ cho cùng thì đấy vẫn chỉ là ý kiến của từng cá nhân với những thân phận mang hoàn cảnh cụ thể, đứng ở những góc với hệ quy chiếu cụ thể riêng biệt. Vậy thì hãy xem đây là tấm lòng của bè bạn văn chương dành cho nhau. Thế thôi đã. Phần còn lại dành cho bạn đọc yêu quý. Bạn đang cầm trên tay cuốn sách của Triệu Kim Loan hay một tập thơ nào đấy của chị. Hãy đọc và cho ý kiến của riêng mình. Hãy cùng nhau “ Cảm nhận văn chương”, làm luồng gió mới đem hơi ấm của bạn đến với những trang sách của Triệu Kim Loan đang như chiếc chuông gió nhỏ ngóng đợi để cùng bạn làm nên thanh âm Leng Keng bé nhỏ của sự cảm thông, sẻ chia bầu bạn.

Hà Nội – Những ngày chớm Thu 2023.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Phê bình như là tự truyện – Tiểu luận của Hoàng Đăng Khoa
Tín niệm phê bình văn học cũng là một dạng tự truyện rất gần với tinh thần của các phương pháp phê bình hiện đại như phê bình hiện tượng học, diễn ngôn học văn chương, hay mĩ học tiếp nhận – nơi chủ thể đọc/viết luôn hiện diện trong chính thao tác diễn giải văn bản. Dù vô tình hay hữu ý, mỗi bài phê bình đều là một “tấm gương một chiều” phản chiếu cái tôi nội cảm, cái chủ kiến, thiên kiến của người viết. Qua văn bản phê bình, người ta không chỉ thấy một hiện tượng văn học được phê bình, mà còn thấy cả một con người – đang thực hành sống, đọc, suy tư, tìm gặp tha nhân và bản thể.
Xem thêm
Đọc thơ của một luật sư
Tôi đã được đọc tập thơ đầu tay của Thái Hưng với cái tên rất thơ: ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024; Rồi một số bài in chung trong tập: Bằng lăng tím lối Mễ Trì cùng với nhiều tác giả khác, lại đôi khi thấy thơ anh trên báo, chí, đậm nhất là tờ Thời báo Văn học nghệ thuật giới thiệu chân dung tác giả. Đọc qua, chợt có cảm nhận nhẹ nhàng, song ngẫm ngợi, thấy chất nhân tình thấm đẫm, cuốn hút. Chắc chắn phải là giọng của người đã từng đi qua nhiều mùa thu xao xác lá...
Xem thêm
Thơ là linh dược
Tôi nhận được tập thơ Cả những ngày đã quên của tác giả Trần thị Thuỳ Vy, sinh năm 1975, quê Duy Xuyên Quảng Nam. Tập thơ dày 115 trang, khổ 18x18, bìa cứng giấy đẹp, trình bày rất trang nhã, do Nhà XB Hội Nhà Văn ấn hành tháng 10 năm 2024. Cầm tập thơ lên tôi đọc đi đọc lại đôi lần, thấy hay hay, cái dễ nhận ra là tâm tư tình cảm của tác giả đã gởi trọn vào đây! Về quê hương về suy tư, về cuộc sống đã được tác giả biến hoá thành những con chữ có cánh bay xa, biết nói, biết giao tiếp với mọi người. Trong đó, sự cảm nhận rất mới với Thơ.
Xem thêm
Sắc thái Thời gian và cảm xúc Hoài niệm trong tập thơ Khi tâm hồn đầy nắng của Biện Tiến Hùng
Tập thơ Khi tâm hồn đầy nắng của Biện Tiến Hùng không chỉ là một tuyển tập gồm 107 bài thơ, mà còn là một tấm gương phản chiếu sinh động thế giới nội tâm phong phú và sâu lắng của thi sĩ. Bằng một giọng điệu trữ tình, chân thành và đượm màu ký ức, Biện Tiến Hùng đã khéo léo kiến tạo một không gian nghệ thuật nơi thiên nhiên, thời gian và con người hòa quyện vào nhau, tạo nên một bản giao hưởng cảm xúc đa tầng, một dòng chảy liên hồi của cảm xúc. Sức hấp dẫn của tập thơ nằm ở cách tác giả nhân hóa thời gian và biến hoài niệm thành chất liệu thi ca, qua đó không chỉ tái hiện một khung cảnh đã qua mà còn khơi gợi những nỗi niềm chung của độc giả về sự phù du của đời sống của kiếp người trong cõi nhân sinh.
Xem thêm
Cái “ngông” của Nguyễn Công Trứ
Thượng Uy Viễn – Nguyễn Công Trứ là một hiện tượng đặc biệt trong thời kỳ trung đại. Đời ông đầy giai thoại, mà giai thoại nào cũng cho thấy bản lĩnh sống, trí tuệ, triết lý nhân văn sâu sắc nhưng cũng rất hóm hỉnh, bình dân…
Xem thêm
Hơi thở cuộc sống trong thơ Nguyễn Kim Thanh
Trong hành trình sáng tạo của mỗi nhà văn đến với văn chương thì “ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học” để làm nên tác phẩm. Ngôn ngữ trong thơ (trữ tình), truyện (tự sự) và kịch (kịch bản văn học) đều có sự giống và khác nhau. Cùng với sự đam mê, năng khiếu, và “thiên phú” (trời cho) thì mỗi tác giả có sự thành công ở những thể loại khác nhau. Có người sáng tác thơ hay nhưng viết truyện lại dở và ngược lại có người viết truyện hay nhưng thơ thì không ra gì. Lại có người thành công ở nhiều thể loại: thơ, truyện, kịch, ký, lý luận phê bình. Nhà văn Nguyễn Kim Thanh là cây bút chuyên viết truyện ngắn, tiểu thuyết, tản văn, bút ký và đã xuất bản bốn tác phẩm văn xuôi. Nhưng nay chị lại “thử sức” sang thể loại thơ với tập thơ đầu tay “Giọt nước mắt thủy tinh” có 30 bài.
Xem thêm
Nỗi buồn chiến tranh - và cách nhìn về việc đổi mới dạy học văn trong nhà trường
Vừa qua, tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của nhà văn Bảo Ninh được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vinh danh là một trong 50 tác phẩm tiêu biểu của văn học Việt Nam 50 năm qua đã tạo nên nhiều tranh luận trái chiều. Nhiều ý kiến cũng đã đặt ra vấn đề là có nên đưa tác phẩm này vào sách giáo khoa Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 hay không. Là những người đã từng học văn qua nhiều lần thay sách và là những người đang dạy môn văn nhiều năm trong nhà trường phổ thông, chúng tôi có một số suy nghĩ trong cách nhìn về việc đổi mới dạy học văn trong nhà trường về Nỗi buồn chiến tranh với tính chất là “những người trong cuộc”.
Xem thêm
Văn học đương đại Trung Quốc từ lăng kính các giải thưởng Hội Nhà văn (2015 - 2025)
Nhìn chung, hệ thống giải thưởng Hội Nhà văn Trung Quốc giai đoạn 2015 - 2025 đã làm nổi bật vai trò “điều hướng” và “chuẩn hóa” của mình trong việc thiết lập các tiêu chí thẩm mĩ, định hình phong cách sáng tác và thúc đẩy tương tác giữa văn học - học thuật - công chúng. Điều này cho thấy một mô hình văn học với định hướng chiến lược - kết hợp giữa nhu cầu nghệ thuật, định hướng chính sách và cơ chế truyền thông - đang ngày càng chiếm vị trí trung tâm trong đời sống văn hóa đương đại Trung Quốc.
Xem thêm
Chân dung tâm hồn của nhà thơ Nguyên Bình qua “Mật ngữ trắng đen”
“Mật ngữ trắng đen” (NXB Thuận Hóa, 2025) của nhà thơ Nguyên Bình, hội viên Hội Nhà văn TP.HCM, là một thế giới thi ca đầy suy tưởng, nơi ánh sáng và bóng tối, mộng mị và hiện thực, nỗi đau và niềm yêu thương luôn song hành, soi chiếu vào nhau. Tựa như cái tên Mật ngữ trắng đen, thơ Nguyên Bình gợi cảm giác về sự đối lập, nhưng không phải để phân định ranh giới thiện ác, buồn vui, mà để khai mở một cõi cảm xúc và nhận thức đa chiều về tình yêu, cuộc sống, con người. Ở mỗi bài thơ, tập thơ của anh đều ẩn chứa một lớp nghĩa nhân sinh sâu sắc.
Xem thêm
Quan điểm của Nguyễn Đình Chiểu đối với Phật giáo
Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) là một nhà Nho tuy đỗ đạt không cao nhưng cụ là một nhà Nho đức nghiệp, một con người trong ba tư cách: một nhà thơ, một thầy giáo và một thầy thuốc suốt đời vì dân vì nước.
Xem thêm
Thơ Nguyễn Bình Phương – Tiểu luận của Thiên Sơn
Việc làm thơ của Nguyễn Bình Phương như một sự bừng lóe của linh giác. Mỗi lần cầm bút viết là khám phá cái thế giới lạ lùng, huyền bí như thế giới của giấc mơ. Mà làm thơ, như anh, chính là đang theo đuổi những giấc mơ. Như bước vào một cảnh giới kỳ lạ, với cách nhìn, cảnh cảm và cách nghĩ khác, xa lạ với hầu hết mọi người.
Xem thêm
Văn học và dân tộc như một vấn đề học thuật
Kết nối ngôn ngữ, văn học với sự tồn tại một dân tộc đã là một thực hành phổ biến trong đời sống tri thức ở châu Âu từ nửa đầu thế kỉ XVIII. Một dân tộc là lí tưởng khi nó thống nhất tất cả những người nói cùng một ngôn ngữ trong một lãnh thổ chung, từ đó tạo thành một quốc gia - dân tộc. Văn học, với tư cách là hiện thân rõ ràng và lâu đời nhất của ngôn ngữ một dân tộc, có vai trò như là yếu tố ràng buộc và thống nhất. Nhà phê bình văn học Hoa Kì René Wellek viết: “Văn học vào thế kỉ XVIII bắt đầu được cảm thấy như là tài sản quốc gia, như là một sự thổ lộ tâm trí dân tộc, như là một phương tiện cho quá trình tự xác định của dân tộc”(1).
Xem thêm
Nhà văn Thomas Mann: Bậc thầy của mâu thuẫn
Xuất bản lần đầu vào năm 1924, Núi thần nhanh chóng trở thành cuốn sách bán chạy và được cho là tiểu thuyết tiếng Đức có ảnh hưởng bậc nhất thế kỉ 20. Nhưng ít ai biết nó được viết ra trong sự gián đoạn của chiến tranh và thay đổi của thời đại.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” - Khúc sử thi đi qua căn bếp có mùi nhang
Bài đăng trên Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, số 12/2025.
Xem thêm
Ngọn gió chiều thổi qua “Nắng dậy thì”
Dòng thời gian sáng, trưa, chiều, tối đã chảy vào văn thơ bao thời theo cách riêng và theo cái nhìn của mỗi người cầm bút. Nguyễn Ngọc Hạnh đã thả cách nhìn về phía thời gian qua những sáng tác của ông. Thâm nhập vào không gian thơ trong Nắng dậy thì*, bạn đọc sẽ nhận thấy cảm thức thời gian của một thi sĩ ở tuổi đang chiều.
Xem thêm
Văn chương Nobel và thông điệp nhân văn
“Không chỉ ngày nay loài người mới khốn khổ? Chúng ta luôn luôn khốn khổ. Sự khốn khổ gần như đã trở thành bản chất của con người (Osho, Chính trực, Phi Mai dịch, Nxb Lao động, 2022, tr.14). Thế giới ngày càng bất an, con người ngày càng mỏng mảnh. Sức chống cự của con người giảm thiểu trước quá nhiều biến động: chiến tranh, dịch bệnh, thiên tai; đứt gãy cộng đồng, sự đơn độc, cái chết. Vì con người, dòng văn học chấn thương ra đời. Cũng vì con người, xu hướng văn học chữa lành hình thành vào thế kỉ XXI.
Xem thêm
Những nét đẹp văn hóa truyền thống Việt Nam trong “Mùa lá rụng trong vườn” của Ma Văn Kháng
Trong hành trình trở về cội nguồn, Ma Văn Kháng đã dựng nên nhiều chân dung cao đẹp tiêu biểu cho truyền thống ân nghĩa thuỷ chung của dân tộc. Nhưng nổi bật giữa bản đồng ca trong trẻo ấy là nhân vật chị Hoài - một con người coi “cái tình, cái nghĩa” là quý nhất. Hình ảnh chị Hoài trở về thăm và ăn tết với gia đình chồng cũ vào chiều ba mươi tết đã gây xúc động lòng người, để lại nhiều tình cảm đẹp đẽ cho bao thế hệ độc giả.
Xem thêm
Đọc ‘Bão’ – Ánh sáng nhân tâm giữa cơn bão thời cuộc
Tiểu thuyết Bão của PGS.TS, nhà văn Nguyễn Đức Hạnh được nhà văn Phan Đình Minh tiếp cận trên cả ba phương diện: nội dung xã hội, nghệ thuật tự sự và chiều sâu nhân văn.
Xem thêm