TIN TỨC

Tiếp biến văn hóa và sự đổi mới thơ Việt

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-12-04 17:19:46
mail facebook google pos stwis
1616 lượt xem

Mỗi dân tộc sống với một hoàn cảnh riêng trong trường kỳ lịch sử có một sắc thái tâm lý riêng biểu hiện khá rõ trong nền văn hóa, trong văn học-nghệ thuật của mình tạo nên một vẻ đẹp truyền thống ổn định. Dẩu vậy, trên cái nền ổn định đó trong dòng chảy lịch sử đều có những giao lưu với các nền văn hóa khác tạo những đổi mới của sự tiếp biến văn hóa. Cái mới, sự cách tân cũng sinh ra từ đây, theo cách nói của Paul Hoover (Mỹ) “Cái mới trong nghệ thuật luôn là cái được nhập từ một nền văn hoá khác”. Văn hóa nói chung và văn học-nghệ thuật Việt Nam nói riêng phát triển cũng trong quy luật này. 

Trong dòng chảy của tiếp biến văn hóa, các khuynh hướng đổi mới của nghệ thuật hiện đại nói chung và thơ ca nói riêng tuy mức độ có khác nhưng đều diễn ra trên cái nền cơ bản văn hóa Đông phương, với những nét đặc thù của lịch sử văn hóa Việt Nam.  

Xã hội Phương Tây, có thể vào những thời điểm nhất định các vấn đề nội dung xã hội, nội dung nhân đạo, dân chủ của nghệ thuật nói chung và thơ ca nói riêng coi như đã rõ ràng, thống nhất, đã tạo một đường “pit” cho nghệ thuật. Cái mới chủ yếu là sự tìm tòi phương thức sáng tạo, cho nên họ hướng mạnh vào hình thức, vào các phương thức biểu hiện, còn ở Phương Đông, đặc biệt ở các nước từ chiến tranh bước ra, từ nghèo nàn lạc hậu đi lên, còn nhiều sức ép bên trong cũng như bên ngoài, nhiều cải cách về nội dung xã hội về đời sống tinh thần đang ở giai đoạn phân tranh. Cái phân khu “ngoại vi “mà văn chương Việt đứng vào trong nền văn chương thế giới hình thành và phát triển (thuộc Văn hóa Hậu thuộc địa mà các nhà nghiên cứu thế giới thường nhắc đến) có một quy luật riêng, cái riêng này tạo nên bản sắc văn hóa Việt Nam trên con đường giao lưu “tiếp biến” để xây dựng một nền văn hóa của mình.

Việt Nam trong trường kỳ lịch sử do cuộc đấu tranh sinh tồn giữ vững bờ cõi, nền văn hóa, do ảnh hưởng mạnh của Tam Giáo, truyền thống trong văn chương chức năng giáo dục có phần nặng hơn.  Các yêu cầu “tải đạo”, “ngôn chí”, “tâm linh” là kim chỉ nam cho văn học một thời (nổi bật đó là cái đạo làm người, cái chí cứu nước, cái tâm linh tưởng vọng tổ tiên của người dân bản địa), ngày nay vẫn còn khả dụng và chính nó góp phần làm nên cái bản sắc văn hóa Việt Nam đương đại. Trên căn cốt của nền văn hóa xứ mình tiếp thu những tinh hoa các nền văn hoá xứ người mà đổi mới, phát triển!

Quả thật, sự đổi mới của văn học thời kỳ nào cũng không thể quên yếu tố truyền thống bên cạnh sự cách tân, truyền thống dân tộc được tích hợp với cái mới qua giao lưu tiếp biến văn hóa xứ người tạo thành sự sáng tạo, sự cách tân của văn học nước nhà. Ngay sau khi đất nước thống nhất GS Nguyễn Khánh Toàn đã có một nhận định sâu sắc về vấn đề này:

“…chúng ta cũng cần hiểu biết nhiều, học hỏi và tiếp thu những tinh hoa của nền văn hóa của các dân tộc, mở rộng tầm nhìn để có một quan niệm đầy đủ về cái lâu đài tráng lệ mà cả loài người đã dày công xây đắp trong mọi thế kỳ. Từ lâu giao lưu văn hóa đã thành cái nếp hầu như là một quy luật có tác động qua lại, một điều kiện tồn tại và phát triển của văn minh thế giới qua sự tiếp xúc thường xuyên và liên tục giữa các dân tộc  có lúc đục, lúc trong, khi tan, khi hợp, lúc xung đột, khi chan hòa. Vì thế giao lưu văn hóa là một nhu cầu của nhân dân các dân tộc có xu hướng xích lại gần nhau để hiểu biết nhau hơn và xây dựng một mối tình hữu nghị làm cơ sở cho tình đoàn kết trong cuộc đấu tranh vì những mục tiêu chung độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc.” (Nguyễn Khánh Toàn - Tổng tập văn học Việt Nam -  Lời tựa -  Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội - Hà Nội - 1980-trang 38)

Quá trình phát triển Văn hóa Việt Nam trong đó có nghệ thuật, đặc biệt thơ ca, trải qua nhiều lần tiếp biến văn hóa với các nền văn hóa khác đã có nhiều thay đổi.

 Lần 1 với Văn hóa Trung Hoa: Trong nhiều thế kỷ giao lưu văn hóa, văn chương Việt, tiếp biến với nền văn học Hoa Hạ, tích hợp nhiều yếu tố tạo một đặc sắc gần gũi về cả nội dung “thi ngôn chí” lẫn hình thức nghệ thuật “đăng đối giàu điển tích, điển cố”. Tuy nhiên các cụ trong những thành tựu cuả mình đã biết chọn lọc hấp thụ cái phần tinh hoa của xứ người, có sự thấu đáo tương đồng về cái cơ sở, cái nền móng xã hội, cái tâm lý dân tộc. Các cụ trong những thành tựu cuả mình đã biết chọn lọc hấp thụ cái phần tinh hoa của xứ người, tiếp thu tính nhân văn, tình yêu, hòa bình, đạo lý đề cao cốt cách người quân tử, nhưng vẫn giữ cái phần riêng tự cường dân tộc cùng những sắc thái của văn hóa làng thôn. Thơ Cổ điển Việt Nam gần gũi Đường thi về thi pháp nhưng khác nhiều về nội dung yêu nước, tự cường dân tộc. Cũng như bên cạnh cái đăng đối, giàu ẩn dụ, ngôn ngữ vẫn giữ bản sắc đa âm điệu của tiếng Việt.

Lần 2 với Văn hóa Pháp:  Hai trăm năm tiếp cận, giao lưu văn hóa Pháp, văn chương Việt hấp thụ tinh thần khai sáng, chủ nghĩa cá nhân cùng những đặc tính tự do, bình đẳng, bác ái. Tương hợp là một hình thức nghệ thuật (thể thơ, ngôn ngữ) khá cởi mở gần gũi đời sống, tâm trạng đậm màu sắc cá nhân, cái tôi được đề cao. Văn chương lãng mạn Tự Lực Văn Đoàn, Thơ Mới thời kỳ 30-45, phần nào Trào lưu hiện thực phê phán là kết quả khả quan của sự tiếp biến văn hóa thời kỳ này của văn chương Việt. Các nhà thơ của phong trào Thơ Mới sống và thở trong sinh quyển thơ ca lãng mạn Âu Tây đặc biêt thơ Pháp đã giao lưu đổi mới thơ Việt và thấm vào người đọc rất nhanh. Tuyển tập Thi nhân Việt Nam mà Hoài Thanh lựa chọn xem là “thơ ca một thời đại”, chúng tôi chưa muốn đề cập đến cao thấp nội dung tư tưởng nhưng có thể xem thời ấy các thi sĩ đã đáp ứng phần nào tính truyền thống và cách tân, không thể không nói đến quá trình tiếp thu tinh hoa văn hóa phương Tây.

Lần 3: Ở miền Bắc với Văn hóa Xã hội chủ nghĩa: Văn học, đặc biệt thơ ca hai cuộc kháng chiến cùng thời kỳ xây dựng CNXH ở miền Bắc trong sự tiếp biến giao lưu nền văn hóa Xã hội chủ nghĩa các nước Đông Âu. CNAHCM, lòng yêu nước, tinh thần giải phóng dân tộc là những nội dung quen thuộc được đề cao trong văn học Việt. Thời kỳ này phát triển cùng với những nội dung XHCN là một nghệ thuật giàu tính dân tộc, tính đại chúng với quy phạm sáng tác “phản ánh hiện thực một cách cụ thể - lịch sử trong quá trình phát triển” là đặc điểm xuyên suốt. Các thi phẩm tiêu biểu trong hai cuộc kháng chiến và xây dựng cũng nổi bật với phong cách truyền thống - hiện đại: sự mở rộng đề tài với đời sống dân tộc, lối nói giản dị giàu âm điệu, chất trào lộng cũng như tình yêu thiên nhiên, khí phách hào hùng… tất cả đều nối tiếp mạch truyền thống trong thơ Việt và giao lưu học hỏi thơ ca các nước, đổi mới cùng nhịp sống thời đại.

Ở Miền Nam, ngoại trừ vùng giải phóng theo khuynh hướng XHCN, thơ ca trong chế độ cũ căn bản vẫn chịu ảnh hưởng phương Tây trong dòng chảy tiếp biến văn hóa, đó là ảnh hưởng Chủ nghĩa hiện sinh trong nội dung và các Chủ nghĩa tân kỳ nặng về hình thức như Tân Hình Thức, Phân Tâm học, Hậu hiện đại ….

Lần 4 với Văn hóa Phương Tây (Âu Mỹ) sau ngày Thống nhất đất nước. Quá trình tiếp biến văn hóa sau ngày Thống nhất đất nước nghiêng về Phương Tây, tạo một hệ quả khá đa dạng phong phú trong thơ ca Việt. Quá trình tiếp biến diễn ra trên nhiều bình diện, nhiều cấp độ của nghệ thuật trong đời sống hội nhập. Sự đổi thay này khác các thời kỳ trước diễn ra khá đa dạng, tuy chưa có nhiều tác phẩm thực sự thành công nhưng nhìn chung ở cấp độ cộng đồng đã có một số kết quả đặc trưng của quá trình tiếp biến văn hóa, với các tiêu chí rõ ràng khá thuyết phục. Trong quá trình tiếp biến văn hóa ở cấp độ cá nhân nhiều tác giả tiếp thu mạnh mẽ cái mới, tạo được những thành công nhất định, nhưng cũng có tác giả cái mới chỉ hiện lên thấp thoáng.

*

Về quá trình tiếp biến văn hóa, về sự tích hợp văn hóa truyền thống với giao lưu văn hoá nước ngoài, trên bình diện văn học, đặc biệt thơ ca diễn ra rất sinh động. Nước ta không có những chuyên gia, những công trình lý luận đồ sộ nhưng trong truyền thống không phải không có những lý thuyết văn chương được nhắc đến, có thể trực tiếp bằng những công trình lý luận nhưng có khi là gián tiếp qua những sáng tác, những vần thơ, câu văn trong văn chương viết cũng như văn chương truyền miệng…Các tác giả Việt Nam quen thuộc máu thịt với những kinh nghiệm của cha ông, sau đó trong quá trình giao lưu “tiếp biến văn hóa” với các nền văn chương khác đã chọn lọc tiêu hóa tốt Thi học xứ người làm mới cho quá trình sáng tạo của mình,  các minh chứng có thể thấy rõ như thơ Cách luật (trung đại),  Thơ Mới( cận đại) , Thơ cách tân ( hiện đại).

Từ sau ngày thống nhất đất nước đến nay, 50 năm thời gian không dài nhưng nhờ quá trình giao lưu tiếp biến văn hoá giữa các nước thơ ca đã có bước phát triển đáng kể, trong đó hình thành các khuynh hướng đổi mới trên cơ sở kết hợp truyền thống và cách tân đã làm cho nền Thơ Việt ngày càng đa dạng, càng phong phú. Sự đổi thay thời nay khác các thời kỳ trước diễn ra khá đa dạng, giai đoạn này phát triển khá nhộn nhịp tuy chưa có nhiều tác phẩm thực sự thành công nhưng nhìn chung đã có một số kết quả đặc trưng của quá trình tiếp biến văn hóa, với các tiêu chí rõ ràng khá thuyết phục, tạo một hệ quả khá phong phú trong thơ ca, phân hóa nhiều khuynh hướng. Xét trên bình diện hình thức ngôn ngữ và thi pháp thể loại có thể thấy nổi bật các khuynh hướng sau đây:       

 Khuynh hướng kế tục thi pháp truyền thống có những yếu tố cách tân. Nội dung đề cao tinh thần dân chủ, nhân đạo, yêu nước, phạm vi đề tài mở rộng, hình thức bổ sung yếu tố ước lệ, tượng trưng vào thủ pháp xây dựng hình tượng, phát huy tối đa vẻ đẹp ngôn ngữ đời thường, đấy là nét tích hợp căn bản của sự tiếp biến. Khuynh hướng này vẫn là dòng chính trong nền thơ ca cộng đồng. Nhiều tác gỉả tiêu biểu cho dòng thơ này xuất hiện tuy khá đa dạng về phong cách nhưng vẫn thống nhất trên văn đàn trong một khuynh hướng chung, kế tục truyền thống kết hợp cách tân, giàu âm hưởng cổ điển nhưng rất mới mẻ trong tạo hình và cách điệu ngôn ngữ. Truyền thống và hiện đại lãng đãng như một đám sương mờ ẩn hiện đâu đó trầm tích dưới tầng sâu ngôn ngữ. Những biểu tượng đi về giữa hữu thức và vô thức đôi khi như dẫn dụ người đọc vào những câu truyện, những truyền thuyết cùng những triết lý nhân sinh hiện đại.  Họ đậu được lâu trong lòng độc giả không chỉ ở cách nói mà còn ở các vấn đề họ nói gần gũi khơi trúng với những suy nghĩ, cảm xúc cộng đồng dù là thông điệp về thế sự hay thổ lộ về nhân sinh, quá khứ hay hiện tại. Họ bước đi thăng bằng trên cái cầu thẩm mỹ dân tộc và hiện đại. 

 Một dòng khác cách tân mạnh mẽ:  đề tài mở rộng “nơi nào có sự sống nơi ấy có thơ ca”, đề cao chuẩn ngôn ngữ, hướng thơ ca vào các phương thức thể hiện mới mẻ, nhiều kiểu kết cấu khác lạ. Cái mới nổi bật nằm ở thủ pháp xây dựng hình tượng thẩm mỹ trong tác phẩm không dừng lại ở cái giới hạn miêu tả hiện thực một cách khách quan mà kết hợp thể hiện cuộc sống thông qua “nội thần chủ thể”, kéo theo một ngôn ngữ tạo sinh nhiều biểu tượng, ẩn dụ đậm màu siêu thực, một âm nhạc tùy biến nội tại theo dòng tâm trạng. Dòng thơ này biểu hiện rõ cái mới qua sự nổi bật hòa hợp ở tính tượng trưng và ước lệ hấp thụ phương Tây trong kết cấu cũng như xây dựng hình tượng… 

Một khuynh hướng tìm về với VHDZ nhưng làm mới bằng sự học tập những thủ pháp nghệ thuật cách tân ở thơ ca đương đại, âm hưởng dân dã chi phối cả nội dung lẫn hình thức biểu hiện, sự thay đổi thể thơ truyền thống như thơ lục bát tự do, đổi mới tiết tấu, kết hợp những thủ pháp phú, tỷ, hứng với nghệ thuật tượng trưng, ước lệ, yếu tố tục và một ngôn ngữ đời thường gần khẩu ngữ. Họ là những tác giả khá quen thuộc với những hình tượng thơ gần gũi giữa đời sống và mối biểu cảm ước lệ trong các trạng thái tương giao giữa con người và tạo vật thường thấy trong ca dao, dân ca cũng như các phù điêu đền chùa.

Các tác giả tiêu biểu cho các khuynh hướng tiếp biến riêng chúng tôi đã minh họa với một số tác giả ở trên, bên cạnh họ có thể kể thêm nhiều cây bút khác có những tương đồng nảy sinh, gặp nhau không là trường phái nhưng có thể xem như một dòng trong nền thơ cộng đồng.

Trong sự tiếp biến văn hóa với các nền thơ Âu Mỹ, thơ ca Việt không có sự tụt hậu khoảng cách với những đổi mới, nhưng lại có một bộ phận cực đoan ngã về phía “bị đồng hóa” tạo nên một khuynh hướng xa lạ với nghệ thuật dân tộc, độc hành trên con đường tư biện gập ghềnh theo lối “duy mỹ” thuần tuý làm thơ trở nên xa lạ với công chúng!

 Sự phát triển một nền thơ là do những xung lực nội tại thúc đẩy nó đổi mới để thích nghi đời sống, dẫu vậy góp sức tạo nên cái mới có hiệu quả không thể không nhắc đến sự ảnh hưởng của các nền văn hóa khác qua quá trình tiếp biến. Sự phát triển các khuynh hướng thơ ca Việt mà chúng tôi nêu lên, không thể tách rời quá trình tiếp biến văn hóa Đông-Tây mà quá trình thống nhất đất nước tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình phát triển. Thơ Việt đang trên đường đổi mới, đã đạt những thành tựu nhất định với yêu cầu truyền thống - hiện đại nhưng vẫn ở đoạn đường đầu để thực hiện phong cách hiện đại thuần Việt đúng như sự mong muốn nhiều thế hệ tác giả và độc giả./.

H.Q

H.Q: Hội Nhà Văn VN, Chi hội tỉnh Hà Tĩnh; ĐT: 0988207680, Địa chỉ: 59- đường Đặng Dung- Phường Tân Giang-Thành phố Hà Tĩnh; Số tài khoản: Trần Ninh-52010000398422 Ngân hàng đầu tư và phát triển Hà Tĩnh. 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm