TIN TỨC

Chữ Tâm trong thơ Hoàng Thạch

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-08-13 18:43:42
mail facebook google pos stwis
1393 lượt xem

LÊ ĐÌNH HÒA

Macxim Gorky đã có một định nghĩa khái quát nhất về văn học: "Văn học là nhân học". Bởi lẽ đó con người luôn là trung tâm của văn học. Xưa nay chữ tâm đều được đặt lên hàng đầu trong xây dựng tính cách nhân vật.

Nhưng không phải dễ hình thành cốt cách của từng nhà văn, nhà thơ. Đọc hết gần 500 trang thơ của Hoàng Thạch, nổi lên cái đau đáu về chữ tâm. Nếu như Nguyễn Du tuyên bố "Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài" thì Hoàng Thạch là "chữ tâm bất biến sơn hà mênh mông". Anh trăn trở: "Bầu trời vẫn như xưa/ Mặt trăng không gian dối/ Ta sợ nơi thay đổi/ Là trái tim con người".


Tiến sĩ, bác sĩ, nhà thơ Hoàng Thạch

"Thay đổi" ở đây đó là sự tráo trở của đạo lý làm người. Ở con người đầy nội tâm như Hoàng Thạch, thơ anh giàu trí tưởng tượng. Chất lãng mạn, trữ tình luôn trong anh tạo nên dòng cảm xúc có lúc mãnh liệt nhưng lại nhẹ nhàng, nhỏ nhẹ trong thể hiện:  "Ta lăn lóc chìm nổi bến bờ/ Vượt qua vùng mộng ảo/ Đêm thao thức đêm dài vô tận/ Tình em gõ trái tim buồn". Chữ tâm trong anh. Đó là đạo làm người. Trong thơ ca mỗi người có một cách đi riêng. Ở Hoàng Thạch xuất phát từ đồng quê rồi lăn lộn chiến trường, rồi học hành thành đạt trở thành bác sỹ, tiến sĩ. Nếu về xã hội cuộc sống đã ở bậc trung lưu, vậy mà khi về thăm quê thắp nén nhang cho mẹ, anh nhớ: "Chỗ này mẹ ngồi vá áo/ Con kê ghế nhổ tóc sâu/ Tháng ba làm con nhớ lại/Ngâm hoa cho mẹ gội đầu" (Hoa bưởi).

Giữa hai trận đánh anh vẫn cưa cưa dũa dũa cái vỏ đạn làm cái cối giã trầu, cất đáy ba-lô để ngày chiến thắng về tặng mẹ: "Cối trầu mòn vẹt ai thay/ Con xin tặng cối trầu này mẹ ơi". Anh nặng nợ với làng quê: "Ta lặn lội bốn phương trời mưa nắng/ Bao vui buồn trĩu nặng quê ơi!... Bình yên rồi sau bao giông nổi/ Mà trái tim vẫn một lối đi về" (Vết thời gian).   Đến cái cổng làng xưa, ngày trở về như gặp lại người bạn: "Cổng làng tôi năm tháng cứ già thêm" (Xưa nay chưa thấy cảm xúc với cái cổng làng như vậy). Trở lại quê sau cái gì cũng làm cho anh rạo rực vui, buồn khó tả. Trên đường “lai hương” bao ký ức cứ ùa về: “Không biết bây giờ còn như ngày xưa/ Ấm nước chè xanh râm ran cả xóm/ Chuyện hến giắt chợ Cầu/ Chuyện mật đường chợ Trổ…” (Khe khẽ đông về). Rồi cái trăn trở nữa trong anh là chiến tranh đã cướp đi tuổi xuân của bao cô gái làng "suốt cái thời đàn bà đi đánh giặc: “…Bây giờ về cái xóm “không chồng”/Đọc từ những đôi mắt/ Tôi hiểu điều khát khao làm mẹ/ Mà vời vợi xa xôi (Sóng thức). Hoàng Thạch sung sướng, tâm đắc với làng quê anh nay đã có một ngôi trường khang trang mang tên một nhà văn - Đại tá Nguyễn Xuân Thiều (người con của làng anh). Tình đồng đội trong Hoàng Thạch rất sâu nặng. Bốn tập thơ anh viết từ năm 2005 đến 2014 đều có dấu ấn người lính. Trước hết vì anh đã là người lính, bác sỹ quân y từng tham gia trận mạc. Có trên chục bài thơ được anh gửi gắm đến những dấu chân người lính. Người đang trở về, người đã đi xa, sâu đậm nội tâm. Một bài thơ tự bạch của tác giả làm nhiệm vụ trong "Hầm mổ đêm giao thừa": "Cuộc phẫu thuật giữa hầm sâu/Đêm ba mươi tết/ Đạn cối xé ngang chân mày nát mất rồi!/ Nhưng trái tim còn đập/ Cuộc phẫu thuật diễn ra cấp tập/ Tao thắt lòng cắt cụt ... một chân Hưng" (Sóng thức).

Ngày hòa bình sống trong mọi niềm vui, anh tự nhủ: "Người ra đi đừng đi vào dĩ vãng/ Người ở lại xin đừng quên lãng/ Một thời trai trẻ chiến binh" (Vết thời gian).  Anh lại bỏ túi mấy đồng lương, cùng vợ ba-lô lên đường đi tìm mộ bạn. Rừng dày, suối thẳm. Đá dựng cheo leo. Chống gậy leo đèo vào trận địa cũ. Suốt mấy ngày có lúc mười giờ đêm chưa ra khỏi bìa rừng. Một đoạn thơ thật xúc động trong "Tiếng gọi giữa rừng" chuyến đi tìm mộ bác sĩ Nguyễn Ngọc Giới. Ta nghe như lời kêu van, như tiếng nấc thảm thiết khi mất mát người thân: "Tôi gào lên với cây/ Ta thét lên với suối/ Giới ơi! Anh đâu rồi?/ Anh đâu rồi! Giới ơi?" (Miền hoa dại và tôi).

Hòa bình nhưng vẫn còn tiếng súng. Kẻ cướp nước còn quanh quẩn đâu đây. Đất nước vẫn chưa trọn vẹn khi biển Đông còn sóng dữ. Hoàng Thạch viết: "Trái tim đau/ Khi nhắc đến Hoàng Sa/ Khi nhắc đến Trường Sa/ Khi nhắc đến Gạc-Ma"... (Sóng thức).

Mảng đề tình yêu với Hoàng Thạch cũng nặng nợ. Song ở cái tuổi đã làm ông nội, ông ngoại tình yêu chỉ là những hồi ức. Có người nói anh là người đa tình nhưng tôi bảo anh là người đa cảm. Cái tâm của anh trong tình yêu xuất phát từ đó. Tình yêu trong anh tế nhị, kín đáo, sâu nặng tâm tư: "Chưa một lần cầm tay/ Một nụ hôn chưa dám...". Thế mà: "Nét mực xưa vàng ố/ Dấu vào góc nho nhỏ/ Trong trái tim mỗi đứa còn nhau..." và: “Có mối tình nào trong veo chưa lời kết/ Để lỡ chuyện tình/ Bến cũ đò xưa!" (Sóng thức) Để bây giờ:  "Những đêm dài khó ngủ/ Bâng khuâng nhớ buổi đào hoa" (Miền hoa dại và tôi).

Hoàng Thạch thích làm thơ từ thời sinh viên. Nhưng chỉ hoàn thành bốn tác phẩm trọn vẹn từ ngày được từ giã đơn vị Quân y Bộ Tổng tư lệnh.  Đọc thơ anh ta thấy rõ từ "Khe khẽ đông về", tập thơ đầu tay rồi "Vết thời gian", "Miền hoa dại và tôi" đến tập thứ tư "Sóng thức", độ chín trong thơ anh càng sắc nét về ngôn từ và sâu sắc về tứ thơ. Mong anh từ chữ tâm mà tạo nguồn thẩm mỹ mới. Ngọc càng mài càng sáng. Thơ anh sẽ được lòng bạn đọc.



Nhà thơ HOÀNG THẠCH

Bút danh: Hoàng Thạch, Đá Vàng

Quê quán: Hà Tĩnh. Hiện sống tại TP. HCM.

Nghề nghiệp: Tiến sỹ, Bác sỹ.

Hội viên Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh.

Chủ nhiệm CLB Thơ Ca Hội Cựu Giáo chức TP. HCM

ĐT: 0908 467 769, Mail: drhoang2009@gmail.com

Tác phẩm đã xuất bản:

  • Khe khẽ đông về (thơ, NXB Văn nghệ, 2007)
  • Vết thời gian (thơ, NXB Văn nghệ, 2010)
  • Miền Hoa dại và Tôi (thơ, NXB Hội Nhà văn, 2012)
  • Sóng thức (thơ, NXB Hội Nhà văn, 2014)

Bài viết liên quan

Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm