TIN TỨC

Trong màu xanh Vàm Cỏ

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-04-18 21:50:13
mail facebook google pos stwis
243 lượt xem

Nhà văn Hào Vũ, sinh năm 1949. Quê quán: An Hải, Hải Phòng. Dân tộc: Kinh. Hiện thường trú tại 6/3 Cư xá phường 3, thành phố Tân An, tỉnh Long An. Vào Hội Nhà văn Việt Nam năm 1984.

VÀI NÉT VỀ QUÁ TRÌNH HỌC TẬP, CÔNG TÁC: Phóng viên, biên tập viên, viết văn trong quân đội, sau đó chuyển ngành qua dân sự, tiếp tục công tác cũ. Rồi trở thành công chức. Sở Văn hóa – Thể thao & Du lịch tỉnh Long An. Đã nghỉ hưu.

TÁC PHẨM CHÍNH ĐÃ XUẤT BẢN: Sau ngày chiến thắng (tập truyện ngắn, 1983); Gò xanh (tập truyện ngắn, 1983); Đất không giấu mặt (tiểu thuyết, 1983); Nữ sinh biệt động (truyện dài, 1987); Ly dị (tiểu thuyết, 1989); Mưa lạnh (tiểu thuyết, 1992); Sao rơi (tập truyện ngắn, 2002); Xa xăm (tiểu thuyết, 2010). Truyện ngắn in trong các tuyển tập truyện ngắn của các nhà xuất bản. Kịch bản phim truyền hình: Đâu phải vợ người ta; Cuộc phiêu lưu vào thế giới người lớn; Ông già và cô gái trẻ…

GIẢI THƯỞNG VĂN HỌC: Giải thưởng truyện ngắn Tạp chí Quân giải phóng miền Nam (truyện Hai ông cháu); Giải thưởng truyện ngắn báo Văn nghệ Hội Nhà văn Việt Nam, 1979 (truyện Màu xanh Vàm Cỏ Tây); Giải thưởng truyện ngắn mini tạp chí Thế giới mới, 1994 (truyện Khách thương hồ); Giải thưởng truyện ngắn tạp chí Tác phẩm mới, 1995 (truyện Điều ấy đã không xảy ra…) Và một số giải thưởng truyện ngắn khác.

 

NGÔ XUÂN HỘI

Trong màu xanh Vàm Cỏ

Tròn 34 tuổi, năm 1984 Hào Vũ vào Hội Nhà văn Việt Nam. So mặt bằng chung của Hội lúc ấy, anh là một Hội viên trẻ. Nhưng theo tôi, anh xứng đáng được gọi là nhà văn năm lên mười tuổi, học lớp bốn trường làng. Ấy là khi thầy giáo ra cho lớp một đề văn: “Em hãy kể lại một kỷ niệm sâu sắc nhất trong đời mình”. Kể kỷ niệm gì đây, cậu bé Vũ Văn Hào băn khoăn. Cậu chẳng có một kỷ niệm sâu sắc nào cả. Bị bố đánh ư? Chuyện thường. Hay ăn vụng thịt trong nồi của mẹ? Thì đứa trẻ nào mà chẳng ăn vụng. Và thế là cậu suy nghĩ, bịa chuyện. Cậu bịa rằng mình đang đi chơi trên đường thì nhặt được tờ bạc một hào của ai đó đánh rơi, nhìn trước nhìn sau không có người, trống ngực đập thình thịch cậu cúi xuống lượm cho vào túi. Và sau đó là một cơn đấu tranh tư tưởng gay go, lấy tờ bạc hay tìm người đánh rơi trả lại? Cậu vốn chẳng giàu có gì, nhưng nếu không trả lại thì người mất sẽ đau khổ lắm. Sau một hồi tự tranh đấu, cuối cùng cậu quyết định vào đồn Công an nộp tờ bạc, nhờ các chú Công an bằng nghiệp vụ tài tình của mình tìm người đánh rơi trả lại. Bài văn ấy cậu được 10 điểm. Điều đáng nói là thầy giáo sau khi cho đứa học trò tài học văn không có gì nổi nội bỗng trở nên xuất sắc trong bài làm này điểm 10, đã kéo cậu ra một góc lớp hỏi nhỏ: “Thầy hỏi thật em nhé, chỉ một hào bạc thôi mà em phải đấu tranh tư tưởng dữ vậy ư?”. Câu hỏi của thầy giáo làm cậu bé điếng người, trở thành một kỷ niệm sâu sắc nhất trong thời thơ ấu, theo cậu cho tới tận hôm nay.

Hào Vũ kể cho tôi nghe kỷ niệm trên của anh vào một đêm mưa Hà Nội, trong ký túc xá của trường Viết văn Nguyễn Du, một ngôi nhà tranh vách đất dài gồm nhiều phòng được ngăn cách với nhau bằng những tấm vách cót. Ngôi nhà tọa giữa ba bề ao rau muống, bèo tây. Chúng tôi tọa trên chiếc giường đơn của Hào Vũ với một xị rượu làng Vân và mấy gói lạc rang mua từ quán chị Diệp trước cổng trường.  Nghe xong, tôi ngắm nhìn anh tìm mối liên hệ giữa cậu bé ngây thơ bịa chuyện ngày nọ và nhà văn ngồi trước mặt, mà chịu, không tìm ra được một mối dây nào cả.

Nhà văn của chúng ta hôm nay là một đàn ông có dáng người cao vừa phải, quần áo mặc trông cu cũ, nhàu nhàu, đầu lúc nào cũng sùm sụp cái mũ vải để che đi cái trán hói quá sớm, giọng nói lắp ba lắp bắp, đi đâu cũng xắc cốt khoác vai. Khách quan cứ nghĩ anh là cán bộ kinh tài thuộc một xã thuộc vùng sâu vùng xa nào đó của miệt vườn. Nhưng ẩn dưới bề ngoài không chăm chút ấy là một con người thông minh và nghịch…  thì đáo để. Cùng học với nhau ba năm, tôi đã bao lần ngạc nhiên khi được chứng kiến cái sự nghịch ngợm hơn người của anh. Đơn cử lần nhà thơ Vương Anh đón vợ ra chơi. Vương Anh người dân tộc Mường, quê Thanh Hóa. Vợ anh, chị Liên Minh làm nghề dạy học, ở cùng quê. Để chuẩn bị đón hiền thê, nhà thơ cất công sáng tác một cái Thời khóa biểu thể hiện việc sinh hoạt, học tập trong tuần mà một học sinh trường Nguyễn phải tuân thủ. Theo Thời gian biểu, tuần lễ có bảy ngày - ngày nào nhà thơ cũng phải dậy từ năm giờ sáng, từ đó cho đến mười một mười hai giờ đêm toàn làm những việc đại sự như đọc sách báo, nghiên cứu tài liệu, tham gia hội thảo, gặp gỡ nhà văn này, nhà nghiên cứu nọ, hoặc sáng tác. Thời gian dành cho việc nghỉ ngơi rất ít, đi chơi thì hoàn toàn không.

Buổi sáng hôm Vương Anh đón vợ từ ga về, hầu hết anh em cánh dân sự của lớp trong khu nội trú lần lượt sang hỏi thăm, trò chuyện. Không khí hết sức đầm ấm. Hào Vũ cũng sang thăm. Xong màn giao đãi, anh đứng dậy đi đến nhìn lom lom vào cái Thời khóa biểu của Vương Anh treo trên vách cót, hỏi một câu xanh rờn:

“Này ông Vương Anh, thế cái hôm đi chơi Việt Trì với con Loan lớp Bảo tàng ông ghi vào chỗ nào?”

Căn phòng đang ồn ào bỗng lặng phắc. Có thể nghe rõ tiếng tim của Vương Anh đập nhịp trong lồng ngực. Hào Vũ sau khi dội xong quả bom, điềm nhiên rút ở túi áo ra điếu thuốc lá dỗ lên mặt đồng đeo tay, tính bật diêm châm thuốc hút. Sực thấy Ma Trường Nguyên đang cắp nách chiếc điếu cày, anh liền bỏ sở trường dùng sở đoản mượn chiếc điếu cày của họ Ma mồi một điếu. Rít xong điếu thuốc lào, anh khoan khoái nhả khói, rồi xuống xề câu vọng cổ bằng một giọng khê nồng:

“Em ơi trái đất vẫn tròn/ Chúng mình hai đứa sẽ còn gặp nhau…” 

Sau đó chào vợ chồng Vương Anh ra về. Chưa về đến cửa phòng, Hào Vũ chợt giật mình khi nghe phía sau có tiếng bước chân người chạy huỳnh huỵch. Ngoảnh lại, anh đã bị nhà thơ Mường dí nắm đấm sát ngay cái trán hói:

“Mày giết tao”.

Vương Anh rên rỉ. Hào Vũ cười hì hì. Và còn nhiều chuyện khác nữa…

Nghịch, ham vui, nhưng với lao động nghề nghiệp Hào Vũ hết sức nghiêm túc. Dạo ấy anh đang viết tiểu thuyết. Đêm nào cũng vậy, sau màn thả lưới buông câu trong biển người đẹp của trường Đại học Văn hóa, đúng chín giờ anh ngư dân họ Vũ dù tiếc rẻ  nhưng kiên quyết rời ngư trường trở về phòng lôi máy chữ ra ngồi vào bàn làm việc. Đều đặn mỗi đêm hai tiếng đồng hồ, cuối năm trong lúc cánh làm thơ chúng tôi mỗi người chỉ có dăm bảy bài thơ trình làng thì anh đã có cả một tập sách dày cộm. Đấy chính là tiểu thuyết “Đất không giấu mặt” viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta ở một vùng giáp ranh.

Về cốt truyện, “Đất không giấu mặt” không có gì đáng chú ý cho lắm. Ấy thế mà đọc lại cuốn hút, thậm chí nhiều chương, đoạn say mê, vì trong đó nhiều nhân vật, nhiều số phận được tác giả tái hiện rất sống, gần gũi với đời thường. Bình là một ví dụ. Ở những chương mở đầu, Bình là người thật tốt. Chiến đấu giỏi, thương yêu đồng đội, biết trọng những người hơn mình về mặt này mặt khác, cư xử với người yêu cũng thật dịu dàng và có văn hóa, dù anh tự nhận “trình độ văn hóa không đủ viết một bức thư tình cho mùi”. Đùng một cái, chỉ trong một thoáng buông lỏng suy nghĩ mà anh phạm khuyết điểm về quan hệ nam nữ, bị coi là “lợi dụng” một thiếu nữ đang khao khát yêu đương, bị coi là “có tư tưởng sống gấp”. Đang trong tâm trạng hoang mang trước khuyết điểm và sự khinh rẻ của bạn bè, anh được một người chỉ huy du kích đáng khâm phục và khéo nói rủ rê về du kích. Thế là anh bỏ đơn vị, đào ngũ (có lẽ dùng từ đảo ngũ chính xác hơn). Về cơ sở mới, anh vẫn phát huy tốt những phần tốt đẹp mà anh có, vẫn chiến đấu dũng cảm và thông minh, vẫn vững vàng trong những tình huống hiểm nghèo, nhưng lòng tự trọng của người lính luôn là một mũi tấn công quyết liệt, dằn vặt anh, khuấy đảo những ý nghĩ của anh, mỗi lần nhìn lại những hành động thiếu chín chắn của mình…

Tôi không nghĩ Bình là hóa thân của Hào Vũ, nhưng những nét tương đồng giữa tác giả và nhân vật khiến tôi cứ nghĩ khi xây dựng nhân vật Bình, không ít chỗ nhà văn viết “tự truyện”. Bởi cả hai - tác giả và nhân vật đều là lính chủ lực ở Bắc vào, sau nhiều biến động, nhân vật đảo ngũ thành du kích, tác giả đảo ngũ thành bộ đội địa phương của tỉnh đội Long An. Chính quãng đời gần chục năm gắn bó với mảnh đất cửa ngõ của miền Tây Nam bộ trong chiến tranh đã khiến anh ngày đất nước thống nhất quyết định gắn bó trọn đời với nó, dù sau này có không ít cơ hội chuyển công tác ra Hà Nội hoặc lên thành phố Hồ Chí Minh. Đất không phụ người, sau “Đất không giấu mặt”, đều đặn  vài ba năm anh lại cho ra đời một tập tiểu thuyết, truyện dài viết về đất và người vùng Tân An, Đồng Tháp. Đấy là những “Nữ sinh biệt động” (truyện dài, 1987); Ly dị (tiểu thuyết, 1989); Mưa lạnh (tiểu thuyết, 1992); Xa xăm (tiểu thuyết, 2010)… Những tác phẩm  góp phần làm nên tên tuổi Hào Vũ, khiến trong chừng mực nào đó anh được nhiều người nhìn nhận như một nhà văn chuyên viết tiểu thuyết.

Thực ra không phải vậy, như hầu hết nhà văn ở nước ta (và có lẽ cả ở nước ngoài), Hào Vũ bắt đầu văn nghiệp bằng truyện ngắn và gặt hái nhiều thành công. Truyện ngắn đầu tay “Hai ông cháu”, giải thưởng truyện ngắn của Tạp chí Quân giải phóng miền Nam năm 1970. Truyện ngắn Màu xanh Vàm Cỏ Tây, giải thưởng truyện ngắn báo Văn nghệ Hội Nhà văn Việt Nam năm 1979; truyện Khách thương hồ, giải thưởng truyện ngắn mini tạp chí Thế giới mới năm 1994; truyện ngắn Điều ấy đã không xảy ra, giải thưởng truyện ngắn tạp chí Tác phẩm mới năm 1995…

Đọc truyện ngắn của Hào Vũ, thấy rõ anh rất quan tâm đến cái nền của câu chuyện. Có cảm tưởng khi bắt tay vào viết, trước tiên Hào Vũ chọn điểm nhìn. Sự phát triển của truyện không do các sự kiện chi phối. Chi tiết sự kiện chỉ là cái nền, cái cớ để nhân vật bộc lộ tâm trạng. Truyện ngắn Cây gừa là một dẫn chứng. Đặt điểm nhìn vào nhân vật Nành, vợ một lính ngụy chết trận, bước vào đời sống xã hội mới, với bao mặc cảm nặng nề. Câu chuyện đã làm bật lên những mảng sáng tối của bức tranh xã hội sau ngày giải phóng. Truyện ngắn Khách thương hồ cũng được tổ chức như thế. Các nhân vật trong truyện không có tên riêng, chỉ là chị, gã. Họ không chỉ nói với nhau mà còn nói với một người vô hình nào đó. Có khi điểm nhìn  trần  thuật cũng được dịch chuyển: “Tại sao anh bị mất giò? Câu hỏi cũ lại mấp máy nơi khóe miệng, nhưng sau cùng chị đã không hỏi.” Cũng cần nói thêm là, ở truyện ngắn này, bằng cách không xuống dòng các câu đối thoại, ngôn ngữ tác giả và ngôn ngữ nhân vật được trộn lẫn tạo ra một hiệu ứng nghệ thuật thú vị.

Không phải là một nhà nghiên cứu văn học nên tôi không có điều kiện so sánh đối chiếu, nhưng từ Hào Vũ tôi thấy trong đời sống văn học nước ta giữa thế kỷ 20 đến nay có một dòng chảy văn học của những người miền Bắc sinh sống ở Nam bộ viết về Nam bộ. Dòng chảy này khai sinh đồng thời với những cuộc chuyển cư diễn ra trong dân sinh và thế sự đất nước, đặc biệt rõ là năm 1954 khi hàng loạt giáo dân bỏ quê hương xứ sở ở miền Bắc lên đường “theo Chúa vào Nam” và trong kháng chiến chống Mỹ. Từ những sáng tác của lớp nhà văn này, văn hóa vùng đồng bằng sông Cửu Long được phản ánh qua cái nhìn của người viết thuộc vùng văn hóa đồng bằng sông Hồng. Thực tế đã cho thấy có nhiều điều thú vị ở vùng đất này nhưng người viết thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long bỏ qua hoặc kể lại một cách tẻ nhạt. Có lẽ đó là những cái mà người Nam bộ thấy nó quá quen thuộc đến nhàm chán chăng?

Hãy đọc thử một vài bài báo của phóng viên nước ngoài viết về Việt Nam được dịch ra tiếng Việt in trên báo trong nước, ta sẽ thấy thú vị dù đó chỉ là những cái ta thường gặp hàng ngày. Theo tôi nó thú vị là bởi các câu chuyện, hình ảnh quen thuộc được tác giả quét lên một lớp sơn mới, lớp sơn văn hóa của một vùng đất khác. Đọc Hào Vũ thấy rõ điều này. Cái khác lạ, độc đáo của phong cảnh sông nước miền Tây Nam bộ tạo cảm hứng cho anh. Không khí truyện của anh rất Nam bộ, từ tên đất, tên người, cách nói chuyện giàu phương ngữ, đến những chi tiết tưởng vu vơ. Chính vì vậy mà tôi bị Màu xanh Vàm Cỏ Tây của anh hớp hồn, khiến năm 1984 phải cắt phép năm để từ Nghệ An lặn lội tàu xe vào Long An một lần cho biết. Lần ấy Hào Vũ dặn tôi đi đâu thì đi, đến bữa phải về ăn cơm nhà anh nấu ở Hội Văn nghệ tỉnh. Tôi nghe lời và thấy trong lúc vợ bận nấu nướng, Hào Vũ không phụ một tay thì chớ lại nhảy sang mâm nhà khác tán chuyện (chả là Hội Văn nghệ tỉnh không có nhà ăn. Gia đình cán bộ Hội nào thì vợ chồng cũng đều là công chức, để kịp giờ làm chiều mỗi nhà gầy một bếp ngay trong cơ quan). Khi cơm chín tới, đang bày mâm bát, vợ anh lại phải ngừng tay sang mân nhà hàng xóm lôi chồng về. Nhưng cô đã bắt cóc bỏ đĩa, bởi bê được mâm cơm vào thì chồng đã lại biến đâu mất, cô đành lại phải sang mâm hàng xóm lôi về lại. Mấy lần như thế. Ngồi vào mâm, vợ anh bảo chồng bưa, thời gian eo hẹp không giúp được gì cho vợ thì chớ lại gây cản trở, khiến cô trưa nào cũng cập rập. Nghe vợ càm ràm bằng cái giọng Quảng Trị chay, Hào Vũ ngẩn người, kết luận:

“Nói như Tây!”

Tôi phải “phiên dịch” cho anh hiểu hết cái hay cái đẹp ẩn trong phương ngữ Quảng Trị của vợ anh. Buổi chiều, đến lượt anh “phiên dịch” cho tôi hiểu hết cái hay cái đẹp ẩn trong phương ngữ Nam bộ. Ấy là khi chúng tôi ra bến đò thị xã để làm một chuyến ngược nguồn Vàm Cỏ Tây về Vĩnh Hưng, Đồng Tháp. Lên đò, thấy mấy bà mấy cô gồng gánh luớ quớ trước mặt, tôi hối:

“Dô… dô!”

Hào Vũ cười:

 “Tới chớ sao lại dô.”

Lâu sau thấy mấy bà mấy cô vẫn luần quần luẩn quẩn, tôi hối tiếp:

 “Tới… tới!”

Hào Vũ cáu:

 “Tới cái đầu mày, lúc này là phải nói dô, dô chớ.”

Cuối cùng thì mấy bà mấy cô cũng đặt gánh xuống, và tôi chẳng biết để được vậy họ đã “tới” hay “dô” nữa.

Đang lúc thủy triều lên, Vàm Cỏ Tây rộng mênh mông, nước xanh biêng biếc. Hào Vũ bảo khi thủy triều xuống, nước sông chuyển màu vàng đục và đấy là điểm đặc trưng của hai con sông Vàm Cỏ so với các con sông khác của Tây Nam bộ. Anh còn nói nhiều điều nữa. Tôi nghe câu được câu mất, vì đang bị vẻ đẹp của dòng sông mê hoặc…

*  *  *

Viết đến đây, đáng lẽ phải nói về “Xa xăm” tiểu thuyết xuất bản gần đây nhất của Hào Vũ, tôi bỗng muốn trở lại với “Đất không giấu mặt”, tiểu thuyết đầu tay của anh ngày nào. “Dấu hiệu chắc chắn của bất kỳ một cuốn sách hay nào, đấy là khi ta càng lớn tuổi ta càng thấy yêu thích nó hơn – Charles Darwin”.

Đọc lại “Đất không giấu mặt” tôi rất phục tác giả trong nhân vật Mười Lê. Mười Lê là một chỉ huy du kích có tài, dũng cảm và táo bạo. Anh biết chăm lo gia đình, lại là người hết lòng yêu thương săn sóc đồng đội. Dưới con mắt nhân dân trong xã, anh còn là một cán bộ giàu sức thuyết phục, nhưng giữa anh và bà Chín Kiếng vẫn âm ỉ một mâu thuẫn, một đối lập. Đó là sự tranh chấp về đất đai. Quyền tư hữu về đất đai, với người nông dân là vấn đề không dễ gì nhượng bộ. Những mâu thuẫn âm ỉ Mười Lê trong kháng chiến, ngày nay khi đất nước chuyển từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường đã bùng phát dữ dội, trở thành một vấn đề lớn mang tầm vóc xã hội và chi phối mọi gia đình, gây nên không ít những bi kịch đau lòng.

Nếu là một nhà văn sinh trưởng trong môi trường sự sở hữu tư nhân về đất đai được thừa nhận thì đó là điều bình thường. Nhưng Hào Vũ sinh ra, lớn lên ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Nơi tất cả, (đặc biệt là đất đai) đều đã hợp tác hóa. Nơi một cậu bé trong trí tưởng tượng nhặt được một hào bạc của ai đó đánh rơi cũng đem nộp lại công an, lớn một chút thì đi bộ đội, đánh giặc hết trận này đến trận khác, trở thành “Thư ký của thời đại” luôn có được cái nhìn nhạy bén, ấy là do nhà văn có văn tài. Trong quan hệ giữa văn chương với người viết, nếu cần nói một câu chuẩn xác về anh, theo tôi, văn chương đã chọn Hào Vũ và đấy là sự chọn lựa chính xác.

4-9-2013
Nguồn:
Tuần báo Văn nghệ, Hội Nhà văn Việt Nam số 39 (2798) ra ngày 28-9-2013

Bài viết liên quan

Xem thêm
Đan Thanh - nghệ sĩ kết nối thi ca và hội họa
Với hiểu biết khiêm tốn của một nhà giáo hâm mộ văn học nghệ thuật, tôi được biết thầy giáo - nhà văn Nguyễn Thanh. Thầy Nguyễn Thanh tên thật là Nguyễn Tấn Thành sinh ra tại xã Tân Quới, quận Bình Minh, Cần Thơ (nay thuộc Vĩnh Long). Khi làm văn nghệ, thầy Nguyễn Thanh còn dùng những bút danh khác để viết cho nhiều thể loại bài khác nhau : Thanh Huyền, Ngũ Lang, Đan Thanh, Phương Đình, Tương Như, Diễm Thi, Minh Khuê, Minh Văn, Lan Đình, Chàng Văn… Thầy tốt nghiệp Đại học Sư phạm - Cử nhân Văn khoa và đã qua 3 năm chưong trình Cao học Văn chương và Ngoại ngữ tại Đại học Văn khoa Sài Gòn (1975).
Xem thêm
Giao hưởng Điện Biên – thành tựu mới của nhà thơ Hữu Thỉnh
Chiến thắng Điện Biên là một chiến thắng vĩ đại của chúng ta “Lừng lẫy Điện Biên chấn động địa cầu” (Tố Hữu). Chiến thắng đó làm rạng danh nước Việt trên thế giới. “Nước Việt Nam từ máu lửa/ Rũ bùn đứng dậy sáng lòa” (Nguyễn Đình Thi). Ngày 7 tháng 5 năm 1954, lá cờ Quyết chiến Quyết thằng bay trên nóc hầm tướng Đờ cát, ngày 12 tháng 5 Bác Hồ đã có bài thơ dài đăng trên báo Nhân Dân : “Quân ta toàn thắng ở Điện Biên Phủ”. Rồi sau đó Tố Hữu mới có bài thơ nổi tiếng “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên”. Điện Biên còn được các nhà thơ, nhà văn Việt Nam nhắc đến nhiều trong các bài thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết. Điện Biên cũng được nhắc đến trong các cuốn sách của đại tướng Võ Nguyên Giáp và các tướng lĩnh, nhà báo của ta và phương Tây.
Xem thêm
“Chia lửa” với chiến dịch Điện Biên Phủ
Bài đăng Tạp chí Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh số 122, thứ năm 2-5-2024
Xem thêm
Nhà thơ lê Đình Hòa chỉ thấy hoa phượng trắng
Bài viết của Lê Thiếu Nhơn về nhà thơ khiếm thị Lê Đình Hòa ở Phú Yên
Xem thêm
Lãng tử trong đời, chí thú trong văn
Bài viết về nhà văn Nguyễn Hoàng Thu trên báo Văn nghệ, Hội Nhà văn Việt Nam
Xem thêm
Đỗ Thành Đồng và chuyển động đường thơ
Sau gần 15 năm đắm say đến điên cuồng với thi ca, nhà thơ Đỗ Thành Đồng, hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Quảng Bình, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam đã xuất bản 7 tập thơ.
Xem thêm
Chuyện tình khó quên của Trịnh Công Sơn
Bài viết của nhà thơ Lê Thiếu Nhơn
Xem thêm
Nhà văn Di Li: Tôi bị hấp dẫn bởi người đàn ông nhân văn, tử tế
Tôi nghĩ rằng, là người văn minh thì phải chấp nhận sống chung với sự khác biệt, tuy nhiên, sự khác biệt đó nếu không tốt, muốn người ta thay đổi thì mình sẽ góp ý. Và cách góp ý của mình cũng khá hài hước nên người nghe không mấy khi khó chịu.
Xem thêm
Người tốt trại Vân Hồ
Nhà văn Trung Trung Đỉnh, Giải A cuộc thi tiểu thuyết Hội Nhà văn, 1998 – 2000) với tiểu thuyết Lạc rừng. Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007.
Xem thêm
Nhớ nhà báo Phú Bằng
Đọc bác Phú Bằng từ lâu, khi tôi còn trực tiếp cầm súng ở Trung đoàn 174 Sư đoàn 5 thời chống Mỹ. Lúc ấy bác Phạm Phú Bằng là phóng viên báo QĐND được tăng cường cho báo Quân Giải phóng Miền Nam.
Xem thêm
Nhà văn - dịch giả Trần Như Luận với tác phẩm “Tuyển tập 12 truyện ngắn Anh - Mỹ kinh điển, lừng danh”
Tháng Sáu 2022, trên Báo Thanh Niên rồi Tạp chí Văn nghệ Hội Nhà văn Việt Nam, nhà báo Hà Tùng Sơn và nhà phê bình văn học Vân Phi giới thiệu tác phẩm thứ 7 của nhà văn Trần Như Luận (TNL): tiểu thuyết Gương Mặt Loài Homo Sapiens. Trước đó, anh từng gây tiếng vang nhờ giá trị đáng kể của bộ tiểu thuyết Thầy Gotama và 8000 Đệ Tử dày tới 1.200 trang, trình làng năm 2014. Chúng tôi cũng biết tới cả trăm tác phẩm dịch của anh, cả thơ và truyện, xuất hiện trên các tạp chí Văn nghệ Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh, Văn nghệ Quân đội, Non Nước, Sông Hương, v.v… Xuân Giáp Thìn 2024, nhà văn ra mắt một “dịch phẩm” hoàn toàn mới: Tuyển tập 12 truyện ngắn Anh – Mỹ kinh điển, lừng danh. Sách dày 320 trang, bìa bắt mắt. Sách được Liên hiệp các Hội Văn học-nghệ thuật Việt Nam thẩm định chất lượng và hỗ trợ kinh phí; NXB Hội Nhà văn cấp phép. Nhân một cuộc hẹn thú vị tại Quận 7, TP Hồ Chí Minh, trong một quán cà phê tao nhã, không bỏ lỡ cơ hội, tôi đã thực hiện cuộc phỏng vấn này.
Xem thêm
Nhớ anh Mai Quốc Liên
Bài viết của nhà thơ Trần Đăng Khoa, Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam
Xem thêm
Nhà văn Trầm Hương: Sứ mạng nhà văn là đi tìm những ẩn số
Hàng chục năm nay, nhà văn Trầm Hương (Phó Chủ tịch Hội Nhà văn TP.HCM) vẫn âm thầm theo dấu chân những anh hùng, người lính, mẹ liệt sĩ… để tìm nhân vật cho những trang sách của mình. Chị ghi dấu ấn đậm nét trong dòng văn học cách mạng hiện nay.
Xem thêm