- Chân dung & Phỏng vấn
- Quầng sáng tinh thần trong truyện ngắn Nguyễn Trường
Quầng sáng tinh thần trong truyện ngắn Nguyễn Trường
HOÀNG ĐĂNG KHOA
Nhà văn Nguyễn Trường sinh năm 1959 tại xã Lĩnh Toại, tỉnh Thanh Hóa; tốt nghiệp trường Viết văn Nguyễn Du, khóa V; nguyên Giám đốc Nhà xuất bản Thanh niên; nguyên Trưởng Văn phòng đại diện Báo Văn nghệ - Hội Nhà văn Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh. Ông là tác giả của gần 10 đầu sách gồm tiểu thuyết, tập truyện ngắn và tập phê bình văn học; từng đoạt giải Nhất cuộc thi truyện ngắn Báo Văn nghệ (2015 - 2017).
Đọc hai tập truyện ngắn Khai khẩu (NXB Thanh niên, 2019) và Mây hồng (NXB Thanh niên, 2023) của Nguyễn Trường, cứ đầy lên trong tôi suy tư, rằng đời sống không chỉ được cấu thành từ những gì hiện hữu, rằng nhiều khi con người đứng dậy được là nhờ vịn vào giấc mơ, mộng tưởng, và những gì họ tự xác tín. Bởi sâu dưới những lớp truyện mà Nguyễn Trường kể về chiến tranh, lịch sử, miền Tây sông nước hay vùng cao xứ Thanh, có một mạch ngầm xuyên suốt, liền lạc: con người thường tạo ra cho mình những khoảng hư cấu để nâng đỡ đời sống.
.jpg)
Bìa hai tập truyện của nhà văn Nguyễn Trường.
Hư cấu được nói đến ở đây không mang nghĩa giả trá, lừa mị. Đó có thể là một tín điều, một lí tưởng, một huyền thoại đã được làm ấm lại bằng tình cảm, cảm xúc chân thành. Chính điều này giúp con người thấy kiếp “sống đọa thác đày” cũng hoá nhẹ bồng. Người ta không chỉ sống bằng sự thật khách quan, mà còn bằng những câu chuyện tưởng tượng. Phải thế chăng, mọi nền văn minh ngay từ buổi bình minh đều đã mọc lên những huyền thoại nền tảng như tôn giáo, thần thoại, sử thi…
Nguyễn Trường không hề tiếp cận các hư cấu cứu rỗi bằng tâm thế giễu nhại hay giải thiêng cực đoan. Ông nhìn chúng với sự bình thản, cảm thông. Và tiếp tục xếp chồng lên chúng những hình dung khác của riêng mình. Không phải ngẫu nhiên mà hai hình ảnh đẹp nhất trong hai tập truyện lại đều nghiêng về phía hư thực: một “vương quốc mộng mơ”, một “mây hồng”. “Vương quốc mộng mơ” là nơi con người muốn dựng nên một trật tự khác với hiện thực đầy bạo lực và chia cắt. Còn “mây hồng” lại là dạng thức mềm hơn: một ánh xạ mà con người giữ lại cho mình giữa đời sống nhiều đổ vỡ, mất mát. Sâu xa, cả hai đều khởi sinh từ cùng một nhu cầu hiện sinh: cần một quầng sáng tinh thần để "tị nạn”.
Nhân vật trung tâm của truyện ngắn Vương quốc mộng mơ là ông Đạo Dừa. Đây là nhân vật lịch sử có thật nhưng khi đi vào văn chương Nguyễn Trường đã trở thành một biểu tượng đặc biệt: biểu tượng của khát vọng gầy dựng một thế giới khác với thế giới hiện tồn. Cồn Phụng trong truyện hiện ra vừa như một giáo phái, vừa như một miền sống lí tưởng, nơi mà “bất chiến tự nhiên thành” được xem như nguyên lí tồn tại. Nguyễn Trường nhìn cõi mơ ấy bằng con mắt bao dung, xem nó như một cố gắng tuyệt vọng của nhân quần nhằm tạo ra một chốn an trú tinh thần giữa thời đại nhiều nhiễu loạn. Thực chất, mọi “vương quốc mộng mơ” đều ra đời từ một bất mãn, bất tuân nào đó với phản địa đàng hiện thực. Khi đời sống quá nhiều bạo lực, con người sẽ mơ về hòa mục. Khi xã hội đầy áp chế, họ sẽ tự vẽ ra một trật tự vị nhân sinh hơn. Khi lòng người li tán, họ sẽ thiết lập những cộng đồng tưởng tượng để được thuộc về.
Nghe quần thần buộc tội đôi trai gái trốn khỏi cồn Phụng là “phản đạo, phản quốc”, ông Đạo Dừa nói: “Vương quốc của chúng ta là vương quốc của đạo, của nhân ái, tại sao lại có nhà tù?” Câu nói hồn nhiên ấy chứa một trực giác nhân bản sâu sắc. Cồn Phụng được tạo dựng từ lí tưởng bất bạo động và lòng từ bi, nhưng rốt cuộc vẫn xuất hiện cai ngục, tra khảo, kiểm soát thân thể, can gián tình yêu. Đó là nghịch lí muôn đời của các thiên đường nhân tạo: thường khởi đi từ khát vọng giải phóng con người, nhưng rất dễ trượt sang một thiết chế hà khắc khác.
Điều mà Nguyễn Trường quan tâm nhiều hơn là nhu cầu tinh thần đã khiến một nhân vật muốn kiến tạo “vương quốc mộng mơ” giữa một thực tại ráo hoảnh. Nhà văn ghi nhận phía sau nghịch lí là một nỗi mong cầu rất người: được sống trong một thế giới phủ bọc nhân tình, nhân tính.
Nếu truyện Vương quốc mộng mơ là giấc mơ dệt nên một địa đàng xã hội, thì truyện Khai khẩu lại là tâm niệm, rằng cất lời có khả năng cứu lịch sử khỏi sai lầm. Một người đã “14 năm tham thiền nhập định, tịnh khẩu” nay quyết định mở miệng để nói điều hệ trọng với quyền lực. Hành vi “khai khẩu” ấy gần như mang tính nghi lễ, như thể con người vẫn đinh ninh, rằng giữa cõi hỗn mang và mưu toan vẫn tồn tại những tiếng nói phản tỉnh bằng trực giác và lòng nhân.
Ông Đạo Dừa “tái xuất” trong truyện Khai khẩu như là hiện thân của nhất tâm dùng lời để chế ngự bạo lực, dùng sự cất tiếng của lương tri để ngăn lịch sử lao vào tự hủy. Chính lời cảnh báo “Thua dân thì còn, thắng dân thì mất” đặt ra niềm tin, rằng bánh xe quyền lực vẫn có thể đổi hướng nếu còn biết lắng nghe tiếng nói con người.
“Khởi thủy là Lời”. Có lẽ Nguyễn Trường cũng xác tín như thế vào tình thế “khai khẩu”. Nó có thể bất lực trước “âm thanh và cuồng nộ” của tham vọng, hận thù, hiếu chiến, nhưng tiếng nói minh triết và đứng về phe con người của nó rất đáng được xiển dương.
Nhiều truyện khác trong tập Khai khẩu cũng vận hành theo mô thức: phía dưới bề mặt nhân kiếp luôn có một thứ hấp lực, xung lực làm bệ đỡ. Bởi thế, đọc Nguyễn Trường nhiều khi có cảm giác như đứng trước một “giếng sâu”, hay một dòng sông phù sa miền Tây: mặt nước tưởng phẳng lặng nhưng phong chứa những dòng xoáy ngầm. Ông không viết kiểu tả chân lạnh khô. Đời sống trong văn ông luôn phủ một lớp “yên hoa” bảng lảng. Chính thứ sương khói ấy tạo nên chất thần thực kiểu Nguyễn Trường.
Điều thú vị là lớp thần thực ấy không nhằm đưa người đọc thoát li đời thực, mà trái lại, giúp họ bình tâm đi xuyên qua nó, và đi sâu hơn vào phần âm bản của nó. Con người trong truyện của Nguyễn Trường là những chủ thể đầy phức cảm. Họ thường sống trong trạng thái lưỡng phân: tỉnh táo - mộng tưởng; tri nhận tính chất mong manh bất toàn của đời sống - không thôi hi vọng.
Trong Quá khứ của hôm nay, quá khứ là thực nhưng đồng thời là một kiểu diễn ngôn để con người tự xác lập căn tính và lòng yêu nước. Nó là cách họ tự di dưỡng phần thiên lương của mình trước sự xâm thực của thời gian và định kiến lịch sử. Có thể gọi đó là một dạng “kí ức lương thiện”, tức thứ kí ức không nhằm trả thù, báng bổ, cũng không nhằm tô vẽ, thêu thùa quá khứ, mà nhằm bảo trì những giá trị từng giúp con người sống tử tế hơn.
Văn Nguyễn Trường luôn để mở một khoảng trời hòa giải và hóa giải giữa con người với con người, giữa “hôm nay” với “quá khứ”. Đêm chiến tranh càng xác quyết lập trường nhân bản đứng về phía con người của nhà văn. Giữa cánh đồng mìn trong đêm, một anh lính Giải phóng và một sĩ quan Việt Nam Cộng hòa buộc phải nương tựa vào nhau để tồn tại. Trong hoàn cảnh ấy, mọi đại ngôn ý thức hệ bỗng trở nên yếu ớt trước nhu cầu sống còn của những cá thể. Cái kết của truyện đẹp và tiết chế:
“- Trời sáng rồi à?
Dạ, sáng rồi!”
“Trời sáng” ở đây dĩ nhiên không chỉ là hiện tượng vật lí. Sau một đêm đối mặt cái chết, hai người lính thuộc hai chiến tuyến đã nhìn thấy nhau như những con người.
Sâu xa hơn, Nguyễn Trường dường như muốn nói, rằng nhân loài tồn tại được nhờ những câu chuyện họ tự kể cho mình nghe về đời sống. Ông Đạo Dừa trong Vương quốc mộng mơ kể câu chuyện về một “vương quốc” hòa hợp, hòa ái. Người lính trong Đêm chiến tranh giữ lại câu chuyện, rằng ở phía bên kia chiến tuyến vẫn là con người. Các nhân vật trong Giếng sâu cố đưa ra những diễn giải khác nhau về hạnh phúc và bổn phận. Không có những tự sự kiểu ấy, đời sống sẽ trở nên nặng nề mệt mỏi biết bao.
Nếu tập truyện Khai khẩu chủ yếu viết về những huyền tưởng xã hội, thì tập truyện Mây hồng lại nghiêng nhiều hơn về không gian kí ức và tình cảm. Truyện ngắn Minh châu tỏa sáng cho thấy Nguyễn Trường ám ảnh bởi ánh sáng của lịch sử, của sự khải thị. Ông Đình mang trong mình những hồ nghi về vụ án Huỳnh Công Lý và công tội của Tả quân Lê Văn Duyệt. Nhưng trong không gian linh thiêng của ngôi mộ cổ tiền nhân, giữa khói hương trầm mặc và những hồi quang quá khứ, ông như bước vào một cõi giao thoa giữa hiện thực và chiêm mộng. Ở đó, lịch sử không còn hiện ra như những dữ kiện khô cứng, mà như một tiết diện sống động, có linh hồn, có sinh khí và cả những day dứt nhân sinh.
Nguyễn Trường không tuyệt đối hóa chân lí lịch sử theo kiểu duy lí lạnh lùng. Ông để cho trực giác, tâm linh và cảm thức văn hóa cùng tham dự vào hành trình nhận thức và tái nhận thức. “Minh châu” vì thế không nằm dưới đáy mồ sâu như một báu vật vật chất, mà là khoảnh khắc con người chạm gặp luồng sáng của bừng ngộ, của lòng kính mộ trước lịch sử sau bao lớp bụi mờ của thời gian.
Cũng trong trường ánh sáng ấy, truyện Mây hồng lại nghiêng nhiều hơn về sức mạnh của nội lực văn hóa. Quê hương tiêu điều, gia tộc li tán, dinh cơ bị đốt phá, những cổ thụ chỉ còn trơ gốc cháy sém. Trên phông nền tịch dương điêu tàn ấy, thơ Nguyễn Du, núi Hồng sông La, di sản văn hóa Tiên Điền vẫn âm thầm phát sáng.
Văn chương nghệ thuật không phải là thứ trang sức phủ lên lịch sử. Nó bảo giữ “chút lòng trinh bạch” của con người giữa tro tàn, phế tích. Theo nghĩa ấy, “mây hồng” là một hình ảnh thẩm mĩ, là một vầng sáng diệu kì được thắp lên bởi cái đẹp. Cái đẹp không đủ sức đảo ngược lịch sử, nhưng có thể giúp tâm hồn con người không trở nên hoàn toàn cằn khô và vô cảm trước lịch sử.
Di cảo của cha kể câu chuyện về một người cha - một nhà giáo già từng dạy học miền núi - trước lúc chết dặn con đốt bản bút kí Lên vùng cao. Nhưng “di chúc bị phản bội”: người con không đốt. Anh đọc và phát hiện nhiều điều phi thực: những trang trại bò, những rừng quế, sự giàu có và đổi thay mà vùng cao trên thực tế chưa hề có. Nhưng người cha hoàn toàn có quyền viết lại hiện thực, kiến thiết một viễn tượng theo cách mơ mộng của ông. Thoạt nhìn, đó có vẻ là một thứ “ánh trăng lừa dối”, một sự phù phép biến mây xám thành “mây hồng”, nhưng thực ra không phải thế. Hiện thực có thể không thực, nhưng động cơ tinh thần của hành vi viết là rất thực. Người cha viết để vớt vát niềm tin cuối cùng vào ý nghĩa của những năm tháng bản thân đã hi sinh và cống hiến.
Chi tiết gây xúc động nhất là khi người con nhận ra: dù vùng cao giàu đẹp trong bản di cảo của cha chỉ là ảo, nhưng giá sách trên nhà bà Tỵ là thực, thế hệ người dân tộc có học vấn hôm nay - quả ngọt từ những lớp học đầu tiên cha mình từng mở nơi rừng núi - là thực, và ý niệm tri thức có thể thay đổi số phận con người là thực. Nhà văn đan dệt nên câu chuyện của mình để kháng cự lại việc cõi đời thực dụng đang làm phôi phai những giá trị cốt lõi: sự run rẩy trắc ẩn, sự mơ mộng lãng mạn, sự thấu hiểu cảm thông.
Từ tập truyện Khai khẩu đến tập truyện Mây hồng, có thể thấy thế giới truyện Nguyễn Trường dần thu nhỏ giấc mơ: từ “vương quốc mộng mơ” đến những miền nội tâm gần gũi hơn như viên “minh châu”, bầu “mây hồng”, tập “di cảo”. Nếu trước đây còn là khát vọng dựng xây một trật tự khác cho cộng đồng, thì về sau, niềm mong cầu dần tụ vào những giá trị bền bỉ: kí ức, lòng trung nghĩa, ngôn từ, cái đẹp, sự tận hiến. Dù ở bình diện nào, Nguyễn Trường vẫn nhất quán trong mối quan tâm đến nhu cầu của con người là được mơ tưởng, khát khao và được gieo trồng "cây ánh sáng” giữa đời sống bất trắc đa đoan.
Bởi thế nên, dù viết về chiến tranh, nghèo khó hay những bi kịch đời thường, văn Nguyễn Trường vẫn có một hậu vị nhân ái khá đặc biệt. Nó âm thầm len sâu vào người đọc như một lời nhắc, rằng giữa cuộc đời đầy tổn thương này, liều cứu rỗi đắc dụng nhất đối với con người vẫn là điểm tựa tinh thần. Kinh Thánh viết: “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu”. Khác với muôn loài, con người không thể sống chỉ bằng một nơi trú ngụ vật chất. Họ còn cần đến một chỗ dựa vô hình cho linh hồn: một huyền thoại, một câu chuyện phóng đại về ý nghĩa tồn tại của đời mình, một niềm tin.
Kinh Thánh lại viết: “Con người được cứu độ nhờ đức tin”, và “Người công chính nhờ đức tin sẽ được sống”. Đức tin ở đây không chỉ là niềm tin tôn giáo, mà còn là niềm tin theo nghĩa rộng nhất của từ này, thứ giúp con người thăng vượt lên trên cõi sống trần trụi, bất như ý. Nhân vật của Nguyễn Trường có thể lội qua bể khổ chính là nhờ những đức tin đời thường như thế. Từ cồn Phụng đến miền cao Lang Chánh, từ “đêm chiến tranh” đến áng “mây hồng” cuối chiều, nhân vật của ông vừa là người trong cõi thực, vừa là “người trong cõi mộng”.
Xem ra, giữa màn sống hư ảo, không gì thực bằng giấc mơ. Giấc mơ - quầng sáng tinh thần - là “báu vật của đời”, là “quà tặng tương lai”. Nguyễn Trường không chỉ kể chuyện về đời sống, mà còn kể về nhu cầu được hi vọng, vui sống và đi tới của con người.
H.Đ.K
(Bài đăng Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh, số 216, ngày 9/7/2026)