TIN TỨC

Em đợi anh về

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-07-14 00:11:33
mail facebook google pos stwis
1304 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Dòng sông Vàm Cỏ vẫn miệt mài chảy, nước vẫn trôi đi, thời gian vẫn luân hồi qua từng mùa lá rụng. Nhưng bên bờ sông ấy, có những nỗi nhớ đã hóa đá, có những tình yêu đã vượt thoát khỏi ranh giới của sự sống và cái chết, để trở thành một biểu tượng bất tử. Câu chuyện về người chiến sĩ - liệt sĩ Huỳnh Văn Quên và người con gái Nguyễn Thị Lệ là một minh chứng sâu sắc – một câu chuyện được viết bằng máu, nước mắt và tấm lòng sắt son của người phụ nữ Việt Nam trong khói lửa chiến tranh.

 

Bà Nguyễn Thị Lệ

 

Những năm tháng ấy, đất nước oằn mình trong bom đạn, thanh xuân của thế hệ trẻ không nằm ở những ước vọng riêng tư hay những dự định cho tương lai cá nhân mà là tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc. Anh – Huỳnh Văn Quên, một người con ưu tú của quê hương, Long An (nay thuộc tỉnh Tây Ninh), đã tạm biệt gia đình và người yêu để tham gia kháng chiến vào khoảng năm 1967. Chiến đấu trong đội hình Đại đội 2, Tiểu đoàn 1 Long An, đơn vị anh hùng đã lập nên biết bao chiến công hiển hách. Đó là giai đoạn khốc liệt nhất, khi Mỹ - Ngụy đang điên cuồng thực hiện kế hoạch bình định vùng ven và càn quét hòng tiêu diệt lực lượng cách mạng. Trước ngày tham gia quân giải phóng, tình yêu giữa anh và cô – Nguyễn Thị Lệ, một đóa hoa bình dị bên dòng sông Vàm Cỏ – đã nảy nở, thuần khiết như bông lục bình tím biếc thủy chung. Ngày anh đi, nhà nghèo không có kỷ vật trao tay, chỉ có ánh mắt yêu thương, nụ hôn nồng thắm bên mái tóc đen mềm mại bay bay với lời hẹn ước thầm thì, mộc mạc: "Đánh xong trận này, tui về ra mắt với ba má rồi tui cưới em." Chỉ một lời hứa ấy, tưởng chừng như giản dị, nhưng lại là cả một điểm tựa tinh thần để người chiến sĩ - liệt sĩ vững tay súng nơi chiến trường. Sức mạnh tình yêu đã chuyển hóa thành sức mạnh lòng dũng cảm để anh cùng đồng đội kiên cường đánh bại các đợt phản kích của địch, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến đấu "nở hoa trong lòng địch". Đó cũng là chiếc neo giữ vững lòng người con gái ở miệt vườn nơi mảnh đất Tây Ninh mà ngày đêm quân thù giày xéo.

Lệ gật đầu, nụ cười thầm kín trong buổi tiễn đưa, và từ giây phút ấy, trong lòng cô luôn hiện lên một lời thề sắt son, thầm lặng: "Em đợi anh về." Đó là lời hứa, cũng là niềm tin duy nhất rằng dù cuộc chiến có dài bao lâu, em vẫn một lòng đợi chờ, không thay đổi.

Mùa xuân năm 1968, khi kẻ thù đang ráo riết thực hiện các kế hoạch bình định, càn quét vùng ven nhằm bao vây và cô lập đô thị, quân và dân ta đã phát động cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968. Huỳnh Văn Quên cùng đồng đội Đại đội 2, Tiểu đoàn 1 Long An đã dũng cảm dấn thân vào những mục tiêu hiểm yếu nhất, trong đó có khu vực Cầu Chữ Y tại Sài Gòn – Gia Định. Giữa những ngày ranh giới giữa sự sống và cái chết mỏng manh như sợi tóc, anh đã chiến đấu kiên cường, anh dũng hy sinh giữa lòng đô thị, mang theo lời hẹn ước chưa thành vào lòng đất lạnh. Năm 1977, gia đình liệt sĩ Huỳnh Văn Quên nhận được giấy báo tử; khi biết tin "chồng" chưa cưới hi sinh, cô đau khổ nước mắt lưng tròng, chịu tang trong nỗi đau thương khôn xiết. Nhiều đêm dài thao thức, cô nguyện một lòng hi sinh tuổi xuân để thờ phụng một con người mình yêu thương và nguyện thề chờ đợi, một sự chờ đợi trong vô vọng. Dẫu sau này có không ít người muốn ngỏ ý đám hỏi, nhưng Lệ đều từ chối để giữ trọn tình xưa và tấm lòng trinh tiết thờ anh.

Chiến tranh đi qua, vết thương da thịt có thể lành, nhưng nỗi đau mất mát thì vẫn nhức nhối theo năm tháng. Gần 60 năm – một khoảng thời gian đủ dài để mái tóc xanh của cô gái trẻ ngày nào trở nên điểm bạc, đủ để những thăng trầm của lịch sử vùi lấp đi dấu tích của chiến trường. Thế nhưng, Nguyễn Thị Lệ vẫn ở đó, vẫn chung thủy, mòn mỏi đợi chờ "người chồng" chưa bao giờ trở về từ chiến trận. Gia đình chiến sĩ - liệt sĩ Huỳnh Văn Quên đã coi cô như con dâu trong nhà, và cô đã hoàn thành trọn vẹn vai trò ấy. Cô thay anh phụng dưỡng cha mẹ già, lo toan việc hương khói, giữ cho mái ấm ấy luôn ấm áp tình người. Chưa một lần được mặc áo cưới, nhưng trong tâm tưởng, Lệ đã là người vợ hiền hậu nhất, bao dung nhất. Tình yêu chung thủy, nghĩa tình sâu nặng với người thân, trọn vẹn việc nước việc nhà của cô Lệ đã góp phần tô thắm nên trang sử vàng chói lọi của con cháu Bà Trưng, Bà Triệu, của các thế hệ phụ nữ Việt Nam anh hùng.

Thời gian trôi qua nhưng những hy sinh oanh liệt sẽ mãi mãi trường tồn cùng đất nước. Ngày 6/7/2026, chiến dịch tìm kiếm hài cốt liệt sĩ tại Công viên Lê Thị Riêng đã mang đến một cái kết đầy xúc động. Những di vật, những mẩu xương cốt nhuốm màu thời gian được tìm thấy của người chiến sĩ - liệt sĩ Huỳnh Văn Quên và đồng đội. Sau gần 60 năm, anh đã "về". Anh về trong vòng tay của gia đình, của đồng đội, về trong những giọt nước mắt nghẹn ngào của người phụ nữ đã dành cả thanh xuân để đợi anh. Giây phút ấy, lời thề "đánh xong trận này tui về ... tui cưới em" với một lý tưởng cách mạng cao cả, nén lại tình riêng để hoàn thành nhiệm vụ thiêng liêng tiêu diệt quân thù, mong ngày quê hương giải phóng để được trọn vẹn hạnh phúc bên em. Dù anh trở về trong dáng hình của một chiến sĩ - liệt sĩ, nhưng tình yêu của họ đã chiến thắng sự tàn khốc của thời gian và chiến tranh.

Ngày anh ra trận với đôi dép cao su và bộ đồ mộc mạc, nay đón anh về trong sắc cờ Tổ quốc linh thiêng. Đặt bàn tay gầy guộc run run lên những kỷ vật của "chồng", nơi anh yên nghỉ cùng đồng đội bên làn khói hương trầm nhè nhẹ, cô nghẹn ngào nấc lên. Nước mắt lăn dài trên gò má nhăn nheo: "Anh Quên ơi! Em vẫn đợi anh. Gần 60 năm rồi em mới được gặp anh. Anh có nghe em nói không? Lệ của anh đây. Em vẫn mãi mãi thủy chung trọn đời bên anh." Những giọt nước mắt của cô Lệ rơi trên sắc cờ đỏ sao vàng nơi liệt sĩ Huỳnh Văn Quên và đồng đội đang yên nghỉ trong tiếng nhạc trầm buồn hồn tử sĩ. Anh đã hiến dâng tuổi xuân, hi sinh tình yêu để đất nước hôm nay được hòa bình.

Huỳnh Văn Quên đã nằm lại trong lòng đất mẹ, nhưng anh không hề cô độc. Anh đã có người vợ của đời mình – người con gái bên bờ sông Vàm Cỏ vẫn luôn ở đó, đợi chờ và yêu thương. Tình yêu của họ đã vượt qua những giới hạn của thời gian, khẳng định rằng: Tình yêu chân chính không bao giờ mất đi, nó chỉ chuyển hóa thành một thứ tình cảm thiêng liêng hơn, vĩnh cửu hơn. Ngày 6/7/2026, mảnh đất Công viên Lê Thị Riêng không chỉ trả lại một chiến sĩ - liệt sĩ, nó còn trả lại một câu chuyện tình yêu trọn vẹn. Lệ đã giữ trọn lời hứa năm nào: "Em đợi anh về." Câu chuyện về anh và chị sẽ mãi còn ngân vang như tiếng sóng Vàm Cỏ, nhắc nhở chúng ta về giá trị của hòa bình và vẻ đẹp bất diệt của lòng thủy chung người Việt Nam. Sự hy sinh của anh, sự đợi chờ của chị là khúc ca bi tráng nhưng đẹp đẽ nhất, là bản hùng ca về lòng yêu nước và tình yêu đôi lứa sắt son.

TP.HCM, 13/07/2026

Trung tướng, PGS.TS Nguyễn Đức Hải

Nguyên Viện trưởng Viện chiến lược Quốc phòng/BQP

Bài viết liên quan

Xem thêm
Khoa phục hồi chức năng (A26) vững chuyên môn, sáng y đức
Y học hiện đại có thể kéo dài một nhịp tim, giành lại một mạng sống từ ranh giới sinh tử. Nhưng chính Phục hồi chức năng mới là người trả lại cho nhịp tim ấy một lý do để đập, trả lại cho sự sống ấy một phẩm giá để tồn tại. Bởi cứu sống một con người đã là kỳ tích, nhưng giúp họ tự tay nâng một ly nước, tự bước đi bằng đôi chân mình và sống một cuộc đời độc lập — đó mới là sự hoàn thiện trọn vẹn nhất của y đức.
Xem thêm
Lớn khôn bên cửa từ bi
Bài đăng Văn nghệ Gia Lai
Xem thêm
Mảnh vườn bên suối – Tản văn Nguyễn Hồng Quang
Năm nào cũng vậy, khi những đợt gió mùa đông bắc đầu tiên tràn về rét nhẹ cũng là lúc mẹ tôi cẩn thận lấy từ gác bếp xuống những ống nứa đựng hạt giống. Đó là những hạt cải thìa tròn lẳn, màu nâu bóng được chọn lựa kỹ càng từ những cây cải to nhất, khỏe nhất mùa trước. Khác với hoa cải bẹ hay cải nương có màu vàng tươi, hoa cải thìa lại mang màu trắng tinh khôi, dịu dàng như những vệt mây nhỏ đọng lại giữa vườn chiều. Khi những quả cải nhỏ như quả đỗ xanh chuyển từ màu xanh sang sắc vàng hanh, mẹ cắt cả chùm mang về bó lại, treo bên hiên nhà mươi hôm cho khô rồi mới vò lấy hạt phơi đem cất.
Xem thêm
Bỉ ngạn, một mùa hoa, một đời người – Tùy bút Nguyễn Thị Việt Nga
Bỉ ngạn theo tiếng Hán có nghĩa là bờ bên kia (bỉ: bên kia, ngạn: bờ). Trong cách giải thích của Phật giáo, đối diện với bỉ ngạn là “thử ngạn” bờ bên này. Bờ bên này là thế giới con người đang sống, nơi còn sinh tử, phiền não và mê lầm. Bờ bên kia là cảnh giới vượt thoát khỏi những ràng buộc ấy, là bờ giác ngộ. Trong truyền thống Tịnh Độ tông Nhật Bản, “bỉ ngạn” còn được dùng để chỉ Tây phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà. Bởi vậy, nếu chỉ hiểu bỉ ngạn là “cõi chết” thì có lẽ chúng ta đã làm nghèo đi ý nghĩa của hai chữ ấy.
Xem thêm
Lửa ơi! – Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Trở lại với “đời thường”, thì lửa là phương tiện thân thuộc khi đem đến cho con người cuộc sống dễ chịu hơn, sau thời kỳ sống trong dằng dặc đêm dài tăm tối của thời mông muội. Nói nôm na, thì lửa cho ánh sáng khi tối trời, để nấu ăn, xua đuổi các loài động vật-côn trùng, tạo các tín hiệu liên lạc từ xa… Lửa còn là ngôn ngữ của tình cảm, từ người bình dân Việt…
Xem thêm
Bồng bềnh trên mây – Tản văn Kỳ Nam
Tôi tình cờ “phát hiện” ra chị trong một lần lang thang tác nghiệp với chiếc Cub 50 cà tàng từ thời sinh viên và máy ảnh treo trước ngực. Chiếc xe dành để đi thực địa hôm đó giở chứng lần thứ chín mươi chín - cho đến khi một người xa lạ ngồi lên đạp cần khởi động nó mới chịu nổ máy.
Xem thêm
Đánh mất – Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có những sự phụ bạc không đi kèm tiếng cãi vã, không có kẻ thứ ba hay những cú tát nảy lửa trong một chiều giông bão. Sự phụ bạc tàn nhẫn nhất là khi một người tự nguyện đem trọn tuổi trẻ, xương máu và lòng tin của mình để kê chân cho người kia bước lên đài cao, để rồi khi đứng trên đỉnh vinh quang, kẻ ấy nhẹ nhàng buông tay như gạt đi một giọt sương đọng trên vạt áo...
Xem thêm
Một hải trình để những bến bờ xa gần lại
Khi tàu KN 491 đã cập bến Lữ đoàn 125 sau 8 ngày đi biển, tôi vẫn có cảm giác mình còn lênh đênh trên sóng. Sóng không còn dưới chân, nhưng tiếng sóng vẫn ở trong lòng. Những hòn đảo đã lùi lại phía sau, nhưng từng gương mặt, từng cái bắt tay, từng màu áo lính, từng ngọn đèn trên biển vẫn hiện lên rõ ràng như mới vừa đây thôi.
Xem thêm
Muộn màng - Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có một kiểu âm thanh mà chỉ khi đi qua phân nửa đời người, người ta mới bắt đầu thấy sợ. Đó không phải là tiếng còi xe cấp cứu xé màn đêm, cũng chẳng phải tiếng sấm sét đùng đùng trước cơn giông. Đó là tiếng cái gậy mây gõ tốc... tốc... xuống nền gạch tàu cũ kỹ vào mỗi năm giờ sáng.
Xem thêm
Thương nhớ những mùa trăng – Tản văn Trà Bình
- Ai trong đời cũng có một tuổi thơ hồn nhiên gắn liền với những mùa trăng thật đẹp. Tôi cũng vậy, ánh trăng của những mùa Tết Trung thu năm xưa luôn là miền ký ức dịu dàng, trong trẻo. Bây giờ, dù đã trưởng thành, tôi vẫn giữ nguyên thói quen mong đợi đêm rằm – khoảnh khắc khiến lòng lại ngập tràn niềm vui như thuở bé.
Xem thêm
Bão tháng 9 - Tản văn của Vũ Minh Phúc
Trong tất cả những điều này – như sự nổi giận của nhiên nhiên, bầu không khí an nhiên và trong lành bị nghiêng ngả bởi làn gió thổi liên hoàn không biết từ đẩu từ đâu, mặt trời bị biến dạng, không còn xuất hiện nữa, bức tranh cuộc sống đầy tiếng thở dài nặng nhọc, thậm chí chẳng ai có thể làm nổi việc nữa, mọi thứ đều phải dừng lại – nhưng việc người ta có thể làm trong lúc này là ngồi chờ đợi trong nhà và ước gì bão sẽ qua đi.
Xem thêm
Những ngọn đèn đứng gác trong đêm – Tản văn của Vũ Minh Phúc
Suốt đêm dài, họ không ngủ và như thể còn trong giấc ngủ chập chờn, tôi nói chuyện với họ, về công việc, gia đình, con gái, luôn trong trạng thái lo lắng; và sau một hồi tiếp nhận đủ các thông tin từ trung tâm báo về, họ ngập đầu trong các ca trực, nghe điện thoại, ghi chép nhật ký lịch trình thời gian tàu chạy, giải quyết ùn tắc ở ngã tư và đóng barie chắn ngang, tôi mới hiểu tại sao trong mọi tình huống giao thông nguy hiểm người gác chắn lại trở nên quan trọng hơn đối với tất cả mọi người.
Xem thêm
Tiếng trống ngày khai trường giữa hai thế hệ - Tản văn Nguyễn Đại Duẫn
Sáng nay, tôi đưa cháu đến trường dự lễ khai giảng năm học mới. Con đường đến trường như cũng vui hơn trong tiếng nói cười của trẻ nhỏ; tiếng ồn ào xe cộ, tiếng lao xao của các bậc phụ huynh. Cháu tôi năm nay vào lớp 1, cái tuổi vừa ngỡ ngàng, rụt rè vừa muốn tìm hiểu làm cho tâm trạng cháu vừa hồi hộp vừa náo nức. Cháu mặc bộ quần áo mới, đeo chiếc cặp trên vai, bàn tay nhỏ xíu nắm lấy tay ông. Nhìn cháu nhảy chân sáo bước vào cổng trường, lòng tôi bỗng rộn ràng một niềm vui khó tả.
Xem thêm
Từ mùa thu 1945 đến kỷ nguyên vươn mình của dân tộc – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Trong không gian phát triển mới đầy thách thức và cơ hội đó, mục tiêu chiến lược của Đảng vì con người được thể hiện một cách nhất quán, xuyên suốt và mang tầm vóc đột phá. Trước hết, đó là quyết tâm chính trị cao độ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm an sinh xã hội bền vững, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền để tinh thần không ai bị bỏ lại phía sau trở thành hiện thực sinh động trong từng cộng đồng dân cư.
Xem thêm
Tiếng chim trong vườn bà – Tản văn của Trà Bình
Tôi trở về ngôi nhà cũ của bà vào một buổi chiều mùa hạ. Ngôi nhà cấp bốn nằm nép mình trong xóm nhỏ giờ im lìm, cửa đóng then cài, mái ngói phủ rêu xanh. Tôi chậm rãi bước ra khu vườn trước nhà. Đứng bên gốc vải già còn sót lại vài quả cuối vụ, tôi chợt nghe tiếng chim lảnh lót từ vòm cây vọng xuống, như đánh thức miền ký ức tuổi thơ.
Xem thêm
Pha Đin – Nơi đỉnh trời vương vấn – Bút ký Đào Thị Thu Hiền
Trên cửa ngõ của chiến trường Điện Biên, tôi nghĩ đèo Pha Đin quả là một huyền thoại. Huyền thoại không phải chỉ được hiểu theo nghĩa là một phương pháp sáng tác trong văn học dân gian nhằm giải thích, phân chia ranh giới của hai tỉnh Sơn La và Điện Biên như người Thái từng kể, mà là cách gọi một hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường như người ta nghĩ. Cái hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường ấy không có gì khác ngoài sự khốc liệt của chiến tranh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp để bảo vệ đất nước diễn ra trên con đèo.
Xem thêm
Vận dụng nghệ thuật chỉ huy tác chiến của Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới
Kỷ niệm 115 năm Ngày sinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp (25/8/1911 - 25/8/2026) là dịp để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thành kính tưởng nhớ, tri ân sâu sắc công lao to lớn của vị Tổng Tư lệnh văn võ song toàn, người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Xem thêm
Ngoại tôi – Tản văn Nguyễn Đức Hải
Nhớ hồi nhỏ, ngoại và tụi bạn cùng trang lứa trong ấp lội đồng bắt cá, chân lấm tay bùn vô tư lắm. Bắt được con cá lóc, cả đám gom rơm rạ khô trui ngay bên bờ cỏ, da cá cháy xém, mùi thơm phức lan tỏa trong gió chiều. Cá chín được xé ra nóng hổi, chấm muối ớt cay xé lưỡi, đứa nào cũng hít hà, miệng mồm đen nhẻm. Những ký ức thời tuổi thơ ấy đã làm nên một tuổi trẻ thấm đẫm hồn quê miền Tây, vừa hồn hậu, vừa nguyên sơ. Ngoại mỉm cười, ánh mắt đong đầy bao hoài niệm của một thời đã xa.
Xem thêm
Trái tim xanh của Bắc Kinh
Vào những ngày nóng nắng nhất đầu tháng 8, tôi cùng đoàn nhà văn TP.HCM hăm hở kéo va ly sang Bắc Kinh.
Xem thêm
Nhà văn Khuynh Diệp nằm hầm bí mật và tình yêu với TP Hồ Chí Minh
Cuộc thi “50 năm thành phố trong tôi” giúp nhà văn Khuynh Diệp lan tỏa ký ức, gửi gắm tình yêu dành cho TPHCM – nơi ông đã đi qua chiến tranh, trưởng thành trong nghề viết và gắn bó hơn nửa thế kỷ.
Xem thêm