- Thơ
- Vọng phu - Một bài thơ hay của nhà thơ Phạm Thanh Bình
Vọng phu - Một bài thơ hay của nhà thơ Phạm Thanh Bình
TRẦN VINH
Những ngày giữa tháng Bảy, các trang báo dồn dập đăng tải thông tin về câu chuyện tình của cô gái Nguyễn Thị Lệ và chàng trai Huỳnh Văn Quên. Hai người từng tham gia hoạt động kháng chiến tại Long An từ những năm 60 của thế kỷ trước. Khi đơn vị nhận lệnh chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công Xuân Mậu Thân 1968, trước lúc chia tay người lính trẻ hẹn: “Đánh xong trận này tui về, ra mắt ba má rồi cưới em”.
Từ ngày anh Quên vào chiến dịch, chị Lệ chỉ còn biết chờ mong và hi vọng. Năm 1977, gia đình nhận giấy báo tử liệt sĩ Huỳnh Văn Quên. Dù chưa có hôn thú, chưa làm đám cưới nhưng gần 60 năm qua, người “cô phụ” đó vẫn coi mình là người nhà họ Huỳnh, đều đặn lo toan giỗ chạp, hương khói cho liệt sĩ Huỳnh Văn Quên.
Cảm cảm xúc dâng tràn từ câu chuyện của bà Nguyễn Thị Lệ đã đưa tôi trở lại với bài thơ “Vọng phu” của nhà thơ Phạm Thanh Bình. Mặc dù bài thơ đã ra đời mấy năm rồi nhưng tôi cứ ngỡ như tác giả đang viết về câu chuyện thật của bà Nguyễn Thị Lệ.
VỌNG PHU
Nhẹ nhàng lau mặt cho anh
Khư khư chị giữ bức tranh, làm chồng
Ngắm anh qua lớp khói vồng
Người thanh niên ấy, là chồng chị đây
Bát nhang năm tháng vơi, đầy
Xót thương cho chị, thân gầy que hương
Xác xơ trăm nắng, ngàn sương
Vét từng đồng lẻ, bốn phương tìm chồng
Chân mềm đi vẹt Miền Đông
Bới từng cọng cỏ, vẫn không thấy gì
Anh thiêng về với chị đi
Xưa vì Tổ Quốc, nay vì chị tôi?
Bao đêm mộ gió chị ngồi
Sương dầm nước mắt, giữa đồi quạnh hiu!
Bài thơ tuy ngắn nhưng đã đong đầy nỗi đau dằng dặc. Một người cô phụ, một tấm di ảnh, một bát nhang, một ngôi mộ gió, một đôi chân mềm và một đời “Sương dầm nước mắt, giữa đồi quạnh hiu”! Có lẽ không ở nơi đâu được tạo hoá sắp đặt nhiều hòn vọng phu như trên giang sơn nước Việt. Tuy nhiên, sau những cuộc chiến tranh bảo vể Tổ Quốc thì các hòn “vọng phu” trong đời, “vọng phu” trong văn chương mới là vô cùng vô tận.
Bài thơ "Vọng phu" của nhà thơ Phạm Thanh Bình là một khúc ca bi tráng về sự hy sinh thầm lặng của người phụ nữ trong chiến tranh. Tác giả đã hiện đại hóa hình tượng "nàng Vọng Phu", chuyển hóa nỗi đau của một thân phận thành biểu tượng bất tử của lòng thủy chung son sắt.
Có một câu nói từng gây ám ảnh: “Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ” (Trích từ tác phẩm cùng tên) của nhà văn Svetlana Alexievich (giải Nobel văn chương 2015). Câu nói nổi tiếng đó đã gợi lên sự tàn khốc của chiến tranh không chỉ ở bom đạn chết chóc, mà còn ở cách nó huỷ hoại biết bao cuộc đời bình yên của phụ nữ.
Mở đầu bài thơ, người đọc đã bất giác rờn rợn bởi hình ảnh một người phụ nữ đang làm cái việc rất quen thuộc mà khác lạ, rất bình thường mà bất thường:
“Nhẹ nhàng lau mặt cho anh
Khư khư chị giữ bức tranh, làm chồng”.
Hai câu thơ đã gợi lên sự xót xa day dứt. Hành động tỉ mẫn chăm chút, âu yếm một cái di ảnh tĩnh lặng cho thấy nỗi đau không hề nguôi ngoai mà cứ tích tụ định hình cùng tình yêu son sắt của người phụ nữ. Một thứ tình yêu vượt ra ngoài giới hạn của thời gian, không gian.
Có lần tôi trò chuyện với nhà thơ Phạm Thanh Bình về hình ảnh “khư khư” có vẻ không được… nên thơ cho lắm. Tác giả đã lí giải rằng “nếu dùng những mỹ từ khác thì không toát lên được đầy đủ cái sự yêu thương chung thuỷ đến mức cực đoan cố hữu của chị. Trong hình ảnh “khư khư” đã có cả ôm ấp, nâng niu, gìn giữ và không thể đổi thay tách rời ra được. Có “khư khư” thì mới logic với tâm lí và mọi hành động của chị trong suốt phần đời còn lại”.
Thì ra nhà thơ đã đong đo từng chữ để chân dung người phụ nữ trong “Vọng phu” hiện lên một cách tinh tế, đậm nét nhất. Người cô phụ trong bài thơ có cách “vọng phu” độc lạ, tạo ra sự ám ảnh cho người đọc: “Khư khư chị giữ bức tranh, làm chồng”!
Con đường và sự kết nối duy nhất giữa chị với anh, giữa người sống mòn mỏi với người mãi mãi đi xa chỉ là những làn khói hương mờ ảo vô định. Một không gian của tâm tưởng mở ra:
“Ngắm anh qua lớp khói vồng
Người thanh niên ấy, là chồng chị đây”.
Người vợ không phải đang tự huyễn hoặc mà tình yêu, lời thề hẹn đã mặc định đóng khung cõi lòng của chính mình. Câu thơ không có từ nào nói về bom đạn, chết chóc mà cái sự mất mát đau thương của cuộc chiến vẫn hiện lên vô cùng bi tráng. Người phụ nữ ấy đã chống lại cô đơn, chống lại sự tàn phá của thời gian bằng:
“Bát nhang năm tháng vơi, đầy
Xót thương cho chị, thân gầy que hương”.
Quá đỗi xót xa! Biết bao lần những nén hương cháy lên rồi tàn lụi. Cuộc đời chị như song hành với “Bát nhang năm tháng, đầy vơi”. So với nam giới, bi kịch của phụ nữ trong và sau chiến tranh là bi kịch kép. Họ vừa là nạn nhân trực tiếp của bom đạn chiến tranh, họ vừa phải chịu đựng những nỗi đau gián tiếp khi những người đàn ông của họ bị chiến tranh cướp mất.
Thời gian như một con quái vật, nó không chỉ là thử thách sự đợi chờ mà còn lạnh lùng tàn nhẫn bào mòn cả tinh thần và thể xác người phụ nữ. Thời gian tuy không gây ra những vết thương ngoài da thịt nhưng sự chờ đợi, cô đơn mới là điều khủng khiếp của bao người phụ nữ mòn mỏi đợi người yêu, đợi chồng trở về.
Người cô phụ trong bài thơ không chấp nhận ngồi yên để gặm nhấm nỗi đau mà chị đã:
“Xác xơ trăm nắng, ngàn sương
Vét từng đồng lẻ, bốn phương tìm chồng
Chân mềm đi vẹt Miền Đông
Bới từng cọng cỏ, vẫn không thấy gì”.
Một hành trình gian truân, một cuộc chiến không hề cân sức đã âm thầm diễn ra. Câu thơ không chỉ liệt kê nỗi truân chuyên mà còn thể hiện sự thấu cảm về cảnh đời vất vả tủi phận của người phụ nữ. Tấm thân nhỏ bé “xác xơ” phải “vét từng đồng lẻ” nhưng người phụ nữ ấy vẫn sẵn sàng đối mặt với “trăm nắng, ngàn sương", “bốn phương tìm chồng”. Một thân phận nhỏ bé đã mang trong mình nghị lực, sức mạnh phi thường. Sức mạnh của người vợ chính là tình yêu son sắt thuỷ chung, là lời thề nguyền khắc cốt ghi tâm. Người vợ mang theo hành trang sức mạnh đó đi khắp miền cát bụi với niềm tin, hy vọng tìm lại hài cốt người chồng đã hi sinh.
Đối với tôi, câu thơ “Chân mềm đi vẹt Miền Đông” đã thật sự tạo nên một rung cảm nghệ thuật. Không gian “Miền Đông gian lao mà anh dũng” hiện lên, gợi nhớ về một chiến trường ác liệt năm xưa, cũng là nơi có biết bao chiến sĩ ngã xuống mà hơn nửa thế kỷ hoà bình vẫn chưa tìm được hài cốt.
Sự đối lập giữa đôi "chân mềm" của người phụ nữ với không gian rộng lớn, nắng mưa khắc nghiệt đã đẩy sự bi thương cám cảnh lên đỉnh điểm. Đôi “chân mềm” vẫn miệt mài bền bỉ trên hành trình bất tận. Cứ đi, cứ tìm. Đi cho mòn “vẹt Miền Đông”. Đôi chân mềm không mòn, tấm lòng sắt son thuỷ chung không sờn. Thật hiếm có câu thơ nào mộc mạc mà gợi tả làm cho người đọc nao lòng đến vậy!
Sự hi sinh kéo dài từ chiến tranh vắt sang hoà bình và chưa biết đến bao giờ mới kết thúc. Hình ảnh người phụ nữ đi cạn chân trời, “bới từng cọng cỏ” để tìm kiếm xương cốt người thương đã trở thành biểu tượng “vọng phu” đẹp nhất của thời hiện đại.
Phần cuối bài thơ như một thỉnh cầu xót xa:
"Anh thiêng về với chị đi
Xưa vì Tổ Quốc, nay vì chị tôi?"
Lời thơ đang theo mạch cảm xúc của góc nhìn người kể chuyện bỗng chuyển thành tiếng kêu quặn lòng, giằng xé giữa tình yêu đôi lứa và nghĩa vụ thiêng liêng với non sông. Câu thơ như tiếng gọi tha thiết, nghẹn ngào của chính tác giả hướng về cõi tâm linh. Xưa người lính ra trận để thực hiện bổn phận thiêng liêng với non sông, đất nước. Nay nhà thơ chỉ biết cầu mong anh trở về dù chỉ là hài cốt đang hoá thành cát bụi để an ủi, xoa dịu nỗi đau tột cùng của người chị nơi hậu phương. Đây cũng chính là thông điệp sâu sắc tri ân những người lính đã hy sinh và sẻ chia thấu cảm với những người vợ, người thân của liệt sĩ đã và đang chịu nỗi cô đơn mất mát không gì bù đắp nổi.
Bài thơ kết lại để mở ra một biểu tượng bất tử:
"Bao đêm mộ gió chị ngồi
Sương dầm nước mắt, giữa đồi quạnh hiu!"
Hai câu thơ cuối khắc họa hình ảnh người vợ ngồi bất động bên nấm mộ gió giữa đồi hoang. Chị không chỉ khóc cho riêng mình mà còn khóc cho cả một thế hệ phải chịu quá nhiều hi sinh mất mát. Hình ảnh "mộ gió", "sương dầm", "nước mắt" tạo nên một không gian lạnh lẽo, quạnh hiu và gợi ra sự liên tưởng tới những câu chuyện chờ chồng đến hóa đá vọng phu trong truyền thuyết. Còn chị, chị đã hóa thân thành biểu tượng của sự son sắt, thủy chung, đức hy sinh thầm lặng mà vĩ đại của người phụ nữ Việt Nam. Quả thật, “Chiến tranh là một thử thách quá riêng tư. Và cũng bất tận như tồn tại của nhân loại” (Svetlana Alexievich).

Các nhà thơ Trần Vinh (phải) và Phạm Thanh Bình (trái).
Nhà thơ Phạm Thanh Bình đã góp phần tạo nên một cái nhìn khác về chiến tranh – một cuộc chiến tranh vừa mang gương mặt phụ nữ, gắn liền với thân phận phụ nữ lại vừa “không có một khuôn mặt phụ nữ” vì nó đã quá bạo tàn với phụ nữ. “Chiến tranh không được trả giá trong thời chiến. Hóa đơn sẽ đến sau đó” (Benjamin Franklin). Xót xa thay, trong nhiều trường hợp, phụ nữ là những người phải thanh toán hóa đơn bằng cả cuộc đời. Nỗi đau mở ra khoảng trống, tạo thành vết sẹo trong trái tim người cô phụ. Nếu chúng ta không biết lắng nghe, không biết thấu cảm thì không bao giờ hiểu rằng có những thân phận phụ nữ đã và đang sống với các tổn thương nặng nề đến thế. Nỗi đau vốn dĩ chỉ tồn tại ở nơi tình yêu từng hiện hữu. Họ là những nàng vọng phu bằng xương bằng thịt - “vọng phu sống”!
Bài thơ sử dụng thể thơ lục bát nhẹ nhàng quen thuộc, giọng thơ tâm tình, da diết như những lời tâm sự đầy trắc ẩn. Nhà thơ Phạm Thanh Bình đã thành công trong việc chạm đến góc khuất tâm hồn của những người mẹ, những người vợ liệt sĩ. Qua đó khơi gợi sự tỉnh thức trong cõi người và đề cao lòng tri ân sâu sắc đối với những người đã chịu mất mát, hy sinh cho cuộc sống bình yên hôm nay.
7/2027
Trần Vinh