TIN TỨC

Với tác giả “Khúc hát sông quê”

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-07-15 17:06:04
mail facebook google pos stwis
1282 lượt xem

NGUYỄN QUẾ

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.

 

Nhà thơ Lê Huy Mậu

 

Một ngày đẹp trời, tôi và nhà thơ Nguyễn Thành Nhơn (Đồng Nai) rủ nhau về thăm bạn bè văn chương ở Vũng Tàu (cũ). Sau khi may mắn được gặp gỡ, giao lưu với các nhà văn, nhà thơ cựu chiến binh ở đô thị biển, đại tá, tiến sỹ - nhà thơ Nguyễn Quang Minh bảo chúng tôi:

- Giờ ta tới thăm bác Lê Huy Mậu nhé! -  Tôi vội hỏi:

- Có phải bác Mậu, tác giả bài thơ Khúc hát sông quê được Nguyễn Trọng Tạo phổ nhạc thành bài hát cùng tên? - Nghe anh Minh xác nhận “đúng”, tôi cảm thấy rất vui  vì ngưỡng mộ ông từ lâu nhưng chưa được gặp mặt.

Qua tìm hiểu, tôi được biết, nhà thơ Lê Huy Mậu sinh năm 1949 ở Nghệ An. Ông từng tham gia chiến đấu ở chiến trường Tây Nguyên. Sau ngày đất nước hoà bình thống nhất, Lê Huy Mậu về công tác ở Cục Hải quan tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cũ, sau đó đảm nhiệm các chức danh ở địa phương này như Uỷ viên Thường vụ - Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ, Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật, Tổng biên tập Tạp chí Văn học Nghệ thuật tỉnh. Ông đã xuất bản 19 đầu sách, trong đó có 12 tập thơ, một tập thơ văn xuôi và một trường ca. Khúc hát sông quê là bài thơ trích từ trường ca Thời gian khắc khoải của ông.

Là người con của vùng đất giàu truyền thống cách mạng, nặng  nghĩa tình, tâm hồn  Lê Huy Mậu luôn thấm đẫm niềm rung cảm sâu sắc trước cuộc sống và quê hương, đất nước. Tình cảm đẹp đẽ ấy được thể hiện rõ nét trong các tác phẩm của ông, trong đó có Khúc hát sông quê. Sau khi được phổ nhạc, bài thơ chắp cánh bay cao, bay xa, trở thành tiếng lòng sâu lắng của những người con sống xa quê…

Dọc đường tới thăm nhà thơ bấy lâu nay mình tôn kính, tôi thầm đọc và thả hồn vào dòng cảm xúc trong tác phẩm của ông. Cảm hứng của bài thơ bắt nguồn từ hình ảnh dòng sông quê hương, gắn liền với tình mẹ bao la cùng biết bao kỷ niệm của tuổi thơ yêu dấu. Sau hơn nửa đời “phiêu dạt”, thực ra là đi góp phần bảo vệ và xây dựng những vùng đất thân yêu của Tổ quốc, nhà thơ trở về bên dòng sông quê với biết bao nỗi niềm sâu lắng:

“Ngỡ như người đã hát thay tôi

ngỡ như tôi đã lẫn vào câu hát

tuổi thơ ơi!

quá nửa đời phiêu dạt

ta lại về úp mặt vào sông quê

như thuở nhỏ

úp vào lòng mẹ

để tìm sự chở che…”

Đó là tiếng vọng từ tấm lòng da diết, bâng khuâng của người con lâu năm xa xứ trở về trong niềm vui và hạnh phúc vô bờ. Hình ảnh nhà thơ“úp mặt vào sông quê/ như thuở nhỏ/ úp vào lòng mẹ/ để tìm sự chở che” thể hiện tình cảm gắn bó máu thịt thiêng liêng giữa người con với quê hương.

Sự trở về ấy cũng là dịp để tác giả tìm lại những kỷ niệm đẹp của một thời tuổi trẻ, “Tìm lại chiếc lá tre làm thuyền thả nổi/ Tìm lại dấu chân trần trên cát bỏng năm xưa”…Chìm đắm trong miền ký ức ngọt ngào, sâu lắng, nhưng tác giả không quên một thời đạn lửa, không quên công ơn của những người đã ngã xuống cho Tổ quốc có được cuộc sống thanh bình như ngày hôm nay. Nhìn dòng sông đỏ rực “như màu máu của bao người lính trẻ”, ông đớn đau, nuối tiếc:

“Những người con ra đi từ bến sông này không bao giờ trở lại

Họ nằm lại nơi đày sông hay ở chiến trường”

Đối với nhà thơ Lê Huy Mậu, dòng sông quê hương không chỉ là nơi lưu giữ những kỷ niệm, mà còn là nguồn cội tạo nên hình hài và linh hồn của xứ sở.“Cúi nhặt tình cờ” những hạt phù sa “bên bờ sông tháng chạp”, thi nhân có sự suy tưởng và cảm nhận sâu sắc:

“Ôi! Phù sa

những cá thể tự do trong hành trình của đất

đêm nao

chớp bể, mưa nguồn

trong cơn thác lũ

trong sóng đỏ

đất đi

kiến tạo

sinh thành…”

Tháng chạp là khoảng thời gian đã qua mùa lũ, những lớp phù sa từ thượng nguồn về bồi đắp cho đất đai đôi bờ thêm màu mỡ. Đây cũng là thời điểm tươi đẹp nhất của đất trời khi mùa xuân đến. Thụ hưởng những gì tinh tuý nhất từ thiên nhiên cùng bàn tay lao động con người, cây cối đua nhau đâm chồi, nẩy lộc. Đó chính là hình ảnh thể hiện rõ nhất hành trình “kiến tạo”, “sinh thành” của đất. Với sự tinh tế và nhạy bén của mình, chỉ qua một sự tiếp xúc “tình cờ”, nhà thơ đã có sự “giao cảm” sâu sắc với linh hồn của tạo vật, từ đó nhận thức rõ nguồn cội và bồi đắp, nuôi dưỡng tình cảm, lý trí của mình.

Hình ảnh của dòng sông trong bài thơ Khúc hát sông quê của Lê Huy Mậu vừa cụ thể, vừa mang ý nghĩa khái quát. Đó là dòng sông “khắc khoái trong tim hình bóng quê cha”, với những bãi bờ, cây cỏ thân thuộc, cùng “Bến đò xưa một đời dãi nắng dầm sương” và “hai bờ tre xanh toả bóng mát rợp hồn”. Nơi ấy, ông lớn lên “Từ lời ru của bà, của mẹ/Từ những câu ca dao lặn lội bờ sông”, gắn liền với bao sản vật quen thuộc ông nhớ như in: Nào là những con “cá bống quẫy đuôi”, “con tôm rảo nhảy tanh tách”, “con cua rúc bùn”, “con hến nằm nghiêng”; rồi “tháng Ba phù sa sóng đỏ cá mương đớp ngọn lúa đòng đòng”, “tháng Năm lặn bắt cá ngạnh nguồn”, “tháng Chín cá lòng tong”. Ông khắc khoải nhớ cây trồng trên bãi;  nhớ tháng ngày “lúa gặt rồi còn để lại rơm thơm/ trâu đủng đỉnh nhai cả mùa đông lạnh”; nhớ những con quạ khoang, đàn cò trắng, con dã tràng xe cát... Tất cả gợi lên một không khí thật gần gũi, thân quen. Ở đó, con người, thiên nhiên và vạn vật luôn có sự giao cảm mật thiết, sống hoà hợp, sẻ chia.

Đứng trước dòng sông quê hương, một kỷ niệm đẹp đẽ, sâu sắc gắn liền với hình bóng người mẹ hiền yêu dấu ùa về, nhà thơ chợt hỏi:

“Này dòng sông

ngươi còn nhớ chốn ta ngồi ngóng mẹ

phiên chợ Lường vời vợi tuổi thơ ta”

Những từ “này”, “ngươi”, “ta” nghe qua có vẻ như xa cách, hay như một sự “lên gân”, nhưng đặt đoạn thơ trong mạch cảm xúc của cả bài thơ, ta cảm nhận được rằng, đó là sự giao tiếp thân mật, giống với cách xưng hô đùa giỡn giữa những người bạn thân thiết, tri âm tri kỷ. Cũng từ ý nghĩa ấy, tác giả “tự trào” về một thời tuổi trẻ ngoan hiền, hiểu thảo của mình:

“sao ngày ấy ta dễ ngoan đến thế

mẹ cho ta một xu bánh đa vừng

ta ngoan hết một ngày

ta ngoan hết cả năm

ta thương mẹ đến trọn đời ta sống”

Với trái tim mẫn cảm, khi nhắc tới những năm tháng tuổi thơ, một lần nữa tác giả lại bâng khuâng nhớ về một kỷ niệm thân thương:

“cùng một bến sông

phía dưới trâu đằm

phía trên ta tắm…

một dòng trong xanh chảy mãi tới vô cùng”.

Đang đắm say với những dòng xúc cảm, tôi chợt nghe anh Minh bảo: “Đến nơi rồi!”. Để tạo cho bậc đàn anh sự bất ngờ, anh Minh không điện báo trước. Ngồi trong nhà nhìn ra thấy chúng tôi đi vào sân, nhà thơ Lê Huy Mậu vội bước ra đón với thái độ niềm nở, chân tình. Tuy đã lớn tuổi nhưng trông ông vẫn nhanh nhẹn, hoạt bát. Từ con người ông toát lên sự hiền từ, chất phác, thân mật, gần gũi và tinh tế, giống như phong cách toát lên từ những vần thơ ông sáng tác.

Cơ ngơi của nhà thơ Lê Huy Mậu là một ngôi nhà nhỏ ở ngoại ô. Các vật dụng trong nhà đều rất đơn sơ, giản dị. Thú thực, tôi thấy bất ngờ và chạnh lòng. Như đoán được suy nghĩ của tôi, một người bạn đi chung khẽ bảo: “Anh Mậu trước sống vì mọi người, giờ chủ yếu vì con”.

Nhà thơ Lê Huy Mậu mời chúng tôi ngồi quây quần xung quanh chiếc bàn nhỏ bằng nhựa, bên cạnh giá sách ở phòng khách. Trên bức tường đối diện treo một tấm bảng bằng mê ca chi chít chữ ký –  bút tích của những người bạn văn, thơ lần đầu tới thăm ông. Thấy phiá dưới có để sẵn chiếc bút lông, tôi xin được lưu lại niềm vinh hạnh của mình vào góc bảng, thể hiện sự tôn kính của mình đối với nhà thơ.

- Chị đâu anh? – Anh Minh thân mật hỏi. Đúng lúc, một người phụ nữ xanh xao,  gầy gò dắt xe đạp vào sân.

- Bà ấy kìa!… Sắp thành số không rồi! - Nhà thơ Lê Huy Mậu vừa nói, vừa thân mật đưa mắt nhìn vợ.

Vợ nhà thơ gật đầu chào mọi người rồi kéo chiếc ghế nhỏ ngồi xuống bên cạnh mọi người, thân tình và gần gũi như một người bạn. Nhìn bề ngoài có vẻ tiều tuỵ nhưng chị có một tâm thế rất bình thản.

Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiêu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắcsâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.

Thời gian qua mau. Đã đến lúc chúng tôi phải nói lời tạm chia tay vợ chồng nhà thơ, Lê Huy Mậu vội đứng lên, rút mấy tập sách tặng bạn văn. Tôi hồi hộp đưa tay nhận quà của ông và nói lời cảm ơn. Như một thói quen, tôi lướt nhìn qua bìa sách rồi lật mở cuốn trên cùng, đó là tập thơ Như lá đã từng xanh của Lê Huy Mậu, và thật bất ngờ, gặp bài thơ Uống rượu với sông Lam của ông. Về lại với dòng sông quê, ông không khỏi xao xuyến, bồi hồi:

“Là đây ư? Nơi cất giữ tuổi thơ mình!

Là đây ư? Dòng sông ta úp mặt!

Và đâu rồi? Cây xoan con quạ khoang ngồi chờ chia thịt?

Và đâu là bến đò nơi đợi mẹ xu bánh đa?

Có lẽ, hình ảnh gần gũi, thân thương của dòng sông quê hương luôn hiện hữu trong trái tim nhà thơ Lê Huy Mậu. Đó là một phần đẹp đẽ trong tình yêu và lẽ sống của ông. Bên cạnh là nghĩa tình của nhà thơ đối với mọi người và cuộc đời này. Ông luôn khắc khoái nỗi nhớ đồng đội, đồng nghiệp, nhất là những ai thiếu may mắn trong đời tư; nhớ những năm tháng đầy gian nan thử thách nhưng hào hùng. Ông chia ngọt sẻ bùi vui với bạn bè, quan tâm dìu dắt những người viết trẻ, thương cảm những số phận éo le, đớn đau trước mất mát của những người xung quanh, thẳng thắn và chân tình nói lên cảm nghĩ của mình trước những vấn đề còn khiếm khuyết trong cuộc sống... Tất cả được thể hiện rõ nét trong các tác phẩm của ông. Những suy nghĩ, tình cảm của nhà thơ dễ chiếm được sự đồng cảm của độc giả, như nỗi niềm ưu tư của ông trước sự ra đi của một người bạn:

“Dẫu biết sớm muộn thôi!

Sao vẫn thấy sững sờ?

Sao vẫn thấy đời như giấc mộng

Bao nhiêu tuổi thì cuộc đời vẫn ngắn

Trước hư vô là chớp mắt đời người”

(Hãy lên đường thanh thản nhé – bạn ơi!)

Họ cũng thấu hiểu, sẻ chia hoài niệm của ông về những năm tháng hạnh phúc đủ đầy, về những hình ảnh chất phác, bình dị nhưng đẹp đẽ của tình phụ tử và mẫu tử thiêng liêng:

“Khi không ngồi nhớ vụ Chiêm, vụ Mùa

Vườn cao cây rơm, nhà thơm gạo mới

Bếp lửa củi nè. Ngọn khói nồi cơm!

 

Mẹ lận lưng váy. Cha lận lưng quần,

Khi con cua đồng. Khi con châu chấu

Về già bỗng nhớ đầy lòng hương quê”

(Khi không ngồi nhớ)

Lẽ đương nhiên, họ - nhất là những người xa xứ - muốn nghe lại, nghe mãi Khúc hát sông quê, tác phẩm thấm đượm tình cảm, tư tưởng của ông trong mỗi lời ca để tìm về một quãng đời, một phần hồn quê yêu dấu…

Ra về, tôi vui mừng ôm vào lòng những tập sách nhà thơ Lê Huy Mậu tặng. Ông thân mật tiễn chúng tôi ra tận con đường nhỏ trước nhà. Xe chạy được một đoạn khá xa, tôi quay đầu nhìn lại thấy nhà thơ cao niên vẫn đứng đó, dõi mắt về phía chúng tôi. Lòng tôi chợt trào dâng niềm xúc cảm ngọt ngào.

N.Q

Bài viết liên quan

Xem thêm
Từ biểu tượng trong thơ đến việc tìm hiểu đặc trưng của thơ cổ điển, siêu thực
Khi tìm hiểu đặc trưng của các trào lưu (phong cách, trường phái) văn học, có thể bắt đầu từ các khái niệm gần gũi như hình tượng, biểu tượng... Bài viết này dùng các khái niệm này để lần lượt mở cánh cửa đi vào thế giới thơ cổ điển và thơ siêu thực.
Xem thêm
Ký ức trần thuật trong tiểu thuyết Trước bình minh của Trần Thị Hảo
Tiểu thuyết Trước bình minh của Trần Thị Hảo mở ra một thế giới ký ức, nơi những biến động của lịch sử, chiến tranh và đời sống hậu chiến được soi chiếu qua số phận một con người.
Xem thêm
Con khiếu rất linh
Nguyễn Linh Khiếu đã làm cho chính sử, một thứ đại lịch sử/đại tự sự, vỡ ra thành nhiều lịch sử, nhiều tiểu tự sự. Như dòng sông Hồng được tiếp nước từ các chi lưu lại chia nước cho các phân lưu để tạo thành một mạng lưới thủy văn. Mỗi dòng sông con đều bắt đầu câu chuyện của riêng nó. Một lịch sử đời thường với những cảm quan phồn sinh sâu sắc, đồng thời là một tư duy phản biện lịch sử...
Xem thêm
Người sống với văn chương cùng thời
PGS-TS Hồ Thế Hà đọc Thi pháp truyện ngắn hiện đại của Bùi Việt Thắng, Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 2020
Xem thêm
Đời vẫn xanh, tình vẫn xanh và thơ…
Bài đăng tạp chí Sông Hương, tháng 9/2026
Xem thêm
Đi qua “nham thạch”, đón mùi “lụa hương”
Có những bài thơ, vừa đọc qua, đã cảm thấy độ nóng bỏng như lửa, nhưng ngẫm kỹ, lại thấy bên trong ấy, chứa đầy một thế giới rất mềm mại, dịu êm. Cũng có những bài thơ chỉ thoảng qua như một mùi hương, tưởng nhẹ tênh mà lại đủ sức níu lấy cả một miền ký ức.
Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm