TIN TỨC

Với tác giả “Khúc hát sông quê”

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-07-15 17:06:04
mail facebook google pos stwis
44 lượt xem

NGUYỄN QUẾ

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.

 

Nhà thơ Lê Huy Mậu

 

Một ngày đẹp trời, tôi và nhà thơ Nguyễn Thành Nhơn (Đồng Nai) rủ nhau về thăm bạn bè văn chương ở Vũng Tàu (cũ). Sau khi may mắn được gặp gỡ, giao lưu với các nhà văn, nhà thơ cựu chiến binh ở đô thị biển, đại tá, tiến sỹ - nhà thơ Nguyễn Quang Minh bảo chúng tôi:

- Giờ ta tới thăm bác Lê Huy Mậu nhé! -  Tôi vội hỏi:

- Có phải bác Mậu, tác giả bài thơ Khúc hát sông quê được Nguyễn Trọng Tạo phổ nhạc thành bài hát cùng tên? - Nghe anh Minh xác nhận “đúng”, tôi cảm thấy rất vui  vì ngưỡng mộ ông từ lâu nhưng chưa được gặp mặt.

Qua tìm hiểu, tôi được biết, nhà thơ Lê Huy Mậu sinh năm 1949 ở Nghệ An. Ông từng tham gia chiến đấu ở chiến trường Tây Nguyên. Sau ngày đất nước hoà bình thống nhất, Lê Huy Mậu về công tác ở Cục Hải quan tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cũ, sau đó đảm nhiệm các chức danh ở địa phương này như Uỷ viên Thường vụ - Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ, Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật, Tổng biên tập Tạp chí Văn học Nghệ thuật tỉnh. Ông đã xuất bản 19 đầu sách, trong đó có 12 tập thơ, một tập thơ văn xuôi và một trường ca. Khúc hát sông quê là bài thơ trích từ trường ca Thời gian khắc khoải của ông.

Là người con của vùng đất giàu truyền thống cách mạng, nặng  nghĩa tình, tâm hồn  Lê Huy Mậu luôn thấm đẫm niềm rung cảm sâu sắc trước cuộc sống và quê hương, đất nước. Tình cảm đẹp đẽ ấy được thể hiện rõ nét trong các tác phẩm của ông, trong đó có Khúc hát sông quê. Sau khi được phổ nhạc, bài thơ chắp cánh bay cao, bay xa, trở thành tiếng lòng sâu lắng của những người con sống xa quê…

Dọc đường tới thăm nhà thơ bấy lâu nay mình tôn kính, tôi thầm đọc và thả hồn vào dòng cảm xúc trong tác phẩm của ông. Cảm hứng của bài thơ bắt nguồn từ hình ảnh dòng sông quê hương, gắn liền với tình mẹ bao la cùng biết bao kỷ niệm của tuổi thơ yêu dấu. Sau hơn nửa đời “phiêu dạt”, thực ra là đi góp phần bảo vệ và xây dựng những vùng đất thân yêu của Tổ quốc, nhà thơ trở về bên dòng sông quê với biết bao nỗi niềm sâu lắng:

“Ngỡ như người đã hát thay tôi

ngỡ như tôi đã lẫn vào câu hát

tuổi thơ ơi!

quá nửa đời phiêu dạt

ta lại về úp mặt vào sông quê

như thuở nhỏ

úp vào lòng mẹ

để tìm sự chở che…”

Đó là tiếng vọng từ tấm lòng da diết, bâng khuâng của người con lâu năm xa xứ trở về trong niềm vui và hạnh phúc vô bờ. Hình ảnh nhà thơ“úp mặt vào sông quê/ như thuở nhỏ/ úp vào lòng mẹ/ để tìm sự chở che” thể hiện tình cảm gắn bó máu thịt thiêng liêng giữa người con với quê hương.

Sự trở về ấy cũng là dịp để tác giả tìm lại những kỷ niệm đẹp của một thời tuổi trẻ, “Tìm lại chiếc lá tre làm thuyền thả nổi/ Tìm lại dấu chân trần trên cát bỏng năm xưa”…Chìm đắm trong miền ký ức ngọt ngào, sâu lắng, nhưng tác giả không quên một thời đạn lửa, không quên công ơn của những người đã ngã xuống cho Tổ quốc có được cuộc sống thanh bình như ngày hôm nay. Nhìn dòng sông đỏ rực “như màu máu của bao người lính trẻ”, ông đớn đau, nuối tiếc:

“Những người con ra đi từ bến sông này không bao giờ trở lại

Họ nằm lại nơi đày sông hay ở chiến trường”

Đối với nhà thơ Lê Huy Mậu, dòng sông quê hương không chỉ là nơi lưu giữ những kỷ niệm, mà còn là nguồn cội tạo nên hình hài và linh hồn của xứ sở.“Cúi nhặt tình cờ” những hạt phù sa “bên bờ sông tháng chạp”, thi nhân có sự suy tưởng và cảm nhận sâu sắc:

“Ôi! Phù sa

những cá thể tự do trong hành trình của đất

đêm nao

chớp bể, mưa nguồn

trong cơn thác lũ

trong sóng đỏ

đất đi

kiến tạo

sinh thành…”

Tháng chạp là khoảng thời gian đã qua mùa lũ, những lớp phù sa từ thượng nguồn về bồi đắp cho đất đai đôi bờ thêm màu mỡ. Đây cũng là thời điểm tươi đẹp nhất của đất trời khi mùa xuân đến. Thụ hưởng những gì tinh tuý nhất từ thiên nhiên cùng bàn tay lao động con người, cây cối đua nhau đâm chồi, nẩy lộc. Đó chính là hình ảnh thể hiện rõ nhất hành trình “kiến tạo”, “sinh thành” của đất. Với sự tinh tế và nhạy bén của mình, chỉ qua một sự tiếp xúc “tình cờ”, nhà thơ đã có sự “giao cảm” sâu sắc với linh hồn của tạo vật, từ đó nhận thức rõ nguồn cội và bồi đắp, nuôi dưỡng tình cảm, lý trí của mình.

Hình ảnh của dòng sông trong bài thơ Khúc hát sông quê của Lê Huy Mậu vừa cụ thể, vừa mang ý nghĩa khái quát. Đó là dòng sông “khắc khoái trong tim hình bóng quê cha”, với những bãi bờ, cây cỏ thân thuộc, cùng “Bến đò xưa một đời dãi nắng dầm sương” “hai bờ tre xanh toả bóng mát rợp hồn”. Nơi ấy, ông lớn lên “Từ lời ru của bà, của mẹ/Từ những câu ca dao lặn lội bờ sông”, gắn liền với bao sản vật quen thuộc ông nhớ như in: Nào là những con “cá bống quẫy đuôi”, “con tôm rảo nhảy tanh tách”, “con cua rúc bùn”, “con hến nằm nghiêng”; rồi “tháng Ba phù sa sóng đỏ cá mương đớp ngọn lúa đòng đòng”, “tháng Năm lặn bắt cá ngạnh nguồn”, “tháng Chín cá lòng tong”. Ông khắc khoải nhớ cây trồng trên bãi;  nhớ tháng ngày “lúa gặt rồi còn để lại rơm thơm/ trâu đủng đỉnh nhai cả mùa đông lạnh”; nhớ những con quạ khoang, đàn cò trắng, con dã tràng xe cát... Tất cả gợi lên một không khí thật gần gũi, thân quen. Ở đó, con người, thiên nhiên và vạn vật luôn có sự giao cảm mật thiết, sống hoà hợp, sẻ chia.

Đứng trước dòng sông quê hương, một kỷ niệm đẹp đẽ, sâu sắc gắn liền với hình bóng người mẹ hiền yêu dấu ùa về, nhà thơ chợt hỏi:

“Này dòng sông

ngươi còn nhớ chốn ta ngồi ngóng mẹ

phiên chợ Lường vời vợi tuổi thơ ta”

Những từ “này”, “ngươi”, “ta” nghe qua có vẻ như xa cách, hay như một sự “lên gân”, nhưng đặt đoạn thơ trong mạch cảm xúc của cả bài thơ, ta cảm nhận được rằng, đó là sự giao tiếp thân mật, giống với cách xưng hô đùa giỡn giữa những người bạn thân thiết, tri âm tri kỷ. Cũng từ ý nghĩa ấy, tác giả “tự trào” về một thời tuổi trẻ ngoan hiền, hiểu thảo của mình:

“sao ngày ấy ta dễ ngoan đến thế

mẹ cho ta một xu bánh đa vừng

ta ngoan hết một ngày

ta ngoan hết cả năm

ta thương mẹ đến trọn đời ta sống”

Với trái tim mẫn cảm, khi nhắc tới những năm tháng tuổi thơ, một lần nữa tác giả lại bâng khuâng nhớ về một kỷ niệm thân thương:

“cùng một bến sông

phía dưới trâu đằm

phía trên ta tắm…

một dòng trong xanh chảy mãi tới vô cùng”.

Đang đắm say với những dòng xúc cảm, tôi chợt nghe anh Minh bảo: “Đến nơi rồi!”. Để tạo cho bậc đàn anh sự bất ngờ, anh Minh không điện báo trước. Ngồi trong nhà nhìn ra thấy chúng tôi đi vào sân, nhà thơ Lê Huy Mậu vội bước ra đón với thái độ niềm nở, chân tình. Tuy đã lớn tuổi nhưng trông ông vẫn nhanh nhẹn, hoạt bát. Từ con người ông toát lên sự hiền từ, chất phác, thân mật, gần gũi và tinh tế, giống như phong cách toát lên từ những vần thơ ông sáng tác.

Cơ ngơi của nhà thơ Lê Huy Mậu là một ngôi nhà nhỏ ở ngoại ô. Các vật dụng trong nhà đều rất đơn sơ, giản dị. Thú thực, tôi thấy bất ngờ và chạnh lòng. Như đoán được suy nghĩ của tôi, một người bạn đi chung khẽ bảo: “Anh Mậu trước sống vì mọi người, giờ chủ yếu vì con”.

Nhà thơ Lê Huy Mậu mời chúng tôi ngồi quây quần xung quanh chiếc bàn nhỏ bằng nhựa, bên cạnh giá sách ở phòng khách. Trên bức tường đối diện treo một tấm bảng bằng mê ca chi chít chữ ký –  bút tích của những người bạn văn, thơ lần đầu tới thăm ông. Thấy phiá dưới có để sẵn chiếc bút lông, tôi xin được lưu lại niềm vinh hạnh của mình vào góc bảng, thể hiện sự tôn kính của mình đối với nhà thơ.

- Chị đâu anh? – Anh Minh thân mật hỏi. Đúng lúc, một người phụ nữ xanh xao,  gầy gò dắt xe đạp vào sân.

- Bà ấy kìa!… Sắp thành số không rồi! - Nhà thơ Lê Huy Mậu vừa nói, vừa thân mật đưa mắt nhìn vợ.

Vợ nhà thơ gật đầu chào mọi người rồi kéo chiếc ghế nhỏ ngồi xuống bên cạnh mọi người, thân tình và gần gũi như một người bạn. Nhìn bề ngoài có vẻ tiều tuỵ nhưng chị có một tâm thế rất bình thản.

Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiêu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắcsâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.

Thời gian qua mau. Đã đến lúc chúng tôi phải nói lời tạm chia tay vợ chồng nhà thơ, Lê Huy Mậu vội đứng lên, rút mấy tập sách tặng bạn văn. Tôi hồi hộp đưa tay nhận quà của ông và nói lời cảm ơn. Như một thói quen, tôi lướt nhìn qua bìa sách rồi lật mở cuốn trên cùng, đó là tập thơ Như lá đã từng xanh của Lê Huy Mậu, và thật bất ngờ, gặp bài thơ Uống rượu với sông Lam của ông. Về lại với dòng sông quê, ông không khỏi xao xuyến, bồi hồi:

“Là đây ư? Nơi cất giữ tuổi thơ mình!

Là đây ư? Dòng sông ta úp mặt!

Và đâu rồi? Cây xoan con quạ khoang ngồi chờ chia thịt?

Và đâu là bến đò nơi đợi mẹ xu bánh đa?

Có lẽ, hình ảnh gần gũi, thân thương của dòng sông quê hương luôn hiện hữu trong trái tim nhà thơ Lê Huy Mậu. Đó là một phần đẹp đẽ trong tình yêu và lẽ sống của ông. Bên cạnh là nghĩa tình của nhà thơ đối với mọi người và cuộc đời này. Ông luôn khắc khoái nỗi nhớ đồng đội, đồng nghiệp, nhất là những ai thiếu may mắn trong đời tư; nhớ những năm tháng đầy gian nan thử thách nhưng hào hùng. Ông chia ngọt sẻ bùi vui với bạn bè, quan tâm dìu dắt những người viết trẻ, thương cảm những số phận éo le, đớn đau trước mất mát của những người xung quanh, thẳng thắn và chân tình nói lên cảm nghĩ của mình trước những vấn đề còn khiếm khuyết trong cuộc sống... Tất cả được thể hiện rõ nét trong các tác phẩm của ông. Những suy nghĩ, tình cảm của nhà thơ dễ chiếm được sự đồng cảm của độc giả, như nỗi niềm ưu tư của ông trước sự ra đi của một người bạn:

“Dẫu biết sớm muộn thôi!

Sao vẫn thấy sững sờ?

Sao vẫn thấy đời như giấc mộng

Bao nhiêu tuổi thì cuộc đời vẫn ngắn

Trước hư vô là chớp mắt đời người”

(Hãy lên đường thanh thản nhé – bạn ơi!)

Họ cũng thấu hiểu, sẻ chia hoài niệm của ông về những năm tháng hạnh phúc đủ đầy, về những hình ảnh chất phác, bình dị nhưng đẹp đẽ của tình phụ tử và mẫu tử thiêng liêng:

“Khi không ngồi nhớ vụ Chiêm, vụ Mùa

Vườn cao cây rơm, nhà thơm gạo mới

Bếp lửa củi nè. Ngọn khói nồi cơm!

 

Mẹ lận lưng váy. Cha lận lưng quần,

Khi con cua đồng. Khi con châu chấu

Về già bỗng nhớ đầy lòng hương quê”

(Khi không ngồi nhớ)

Lẽ đương nhiên, họ - nhất là những người xa xứ - muốn nghe lại, nghe mãi Khúc hát sông quê, tác phẩm thấm đượm tình cảm, tư tưởng của ông trong mỗi lời ca để tìm về một quãng đời, một phần hồn quê yêu dấu…

Ra về, tôi vui mừng ôm vào lòng những tập sách nhà thơ Lê Huy Mậu tặng. Ông thân mật tiễn chúng tôi ra tận con đường nhỏ trước nhà. Xe chạy được một đoạn khá xa, tôi quay đầu nhìn lại thấy nhà thơ cao niên vẫn đứng đó, dõi mắt về phía chúng tôi. Lòng tôi chợt trào dâng niềm xúc cảm ngọt ngào.

N.Q

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm