TIN TỨC

Với tác giả “Khúc hát sông quê”

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-07-15 17:06:04
mail facebook google pos stwis
781 lượt xem

NGUYỄN QUẾ

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.

 

Nhà thơ Lê Huy Mậu

 

Một ngày đẹp trời, tôi và nhà thơ Nguyễn Thành Nhơn (Đồng Nai) rủ nhau về thăm bạn bè văn chương ở Vũng Tàu (cũ). Sau khi may mắn được gặp gỡ, giao lưu với các nhà văn, nhà thơ cựu chiến binh ở đô thị biển, đại tá, tiến sỹ - nhà thơ Nguyễn Quang Minh bảo chúng tôi:

- Giờ ta tới thăm bác Lê Huy Mậu nhé! -  Tôi vội hỏi:

- Có phải bác Mậu, tác giả bài thơ Khúc hát sông quê được Nguyễn Trọng Tạo phổ nhạc thành bài hát cùng tên? - Nghe anh Minh xác nhận “đúng”, tôi cảm thấy rất vui  vì ngưỡng mộ ông từ lâu nhưng chưa được gặp mặt.

Qua tìm hiểu, tôi được biết, nhà thơ Lê Huy Mậu sinh năm 1949 ở Nghệ An. Ông từng tham gia chiến đấu ở chiến trường Tây Nguyên. Sau ngày đất nước hoà bình thống nhất, Lê Huy Mậu về công tác ở Cục Hải quan tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cũ, sau đó đảm nhiệm các chức danh ở địa phương này như Uỷ viên Thường vụ - Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ, Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật, Tổng biên tập Tạp chí Văn học Nghệ thuật tỉnh. Ông đã xuất bản 19 đầu sách, trong đó có 12 tập thơ, một tập thơ văn xuôi và một trường ca. Khúc hát sông quê là bài thơ trích từ trường ca Thời gian khắc khoải của ông.

Là người con của vùng đất giàu truyền thống cách mạng, nặng  nghĩa tình, tâm hồn  Lê Huy Mậu luôn thấm đẫm niềm rung cảm sâu sắc trước cuộc sống và quê hương, đất nước. Tình cảm đẹp đẽ ấy được thể hiện rõ nét trong các tác phẩm của ông, trong đó có Khúc hát sông quê. Sau khi được phổ nhạc, bài thơ chắp cánh bay cao, bay xa, trở thành tiếng lòng sâu lắng của những người con sống xa quê…

Dọc đường tới thăm nhà thơ bấy lâu nay mình tôn kính, tôi thầm đọc và thả hồn vào dòng cảm xúc trong tác phẩm của ông. Cảm hứng của bài thơ bắt nguồn từ hình ảnh dòng sông quê hương, gắn liền với tình mẹ bao la cùng biết bao kỷ niệm của tuổi thơ yêu dấu. Sau hơn nửa đời “phiêu dạt”, thực ra là đi góp phần bảo vệ và xây dựng những vùng đất thân yêu của Tổ quốc, nhà thơ trở về bên dòng sông quê với biết bao nỗi niềm sâu lắng:

“Ngỡ như người đã hát thay tôi

ngỡ như tôi đã lẫn vào câu hát

tuổi thơ ơi!

quá nửa đời phiêu dạt

ta lại về úp mặt vào sông quê

như thuở nhỏ

úp vào lòng mẹ

để tìm sự chở che…”

Đó là tiếng vọng từ tấm lòng da diết, bâng khuâng của người con lâu năm xa xứ trở về trong niềm vui và hạnh phúc vô bờ. Hình ảnh nhà thơ“úp mặt vào sông quê/ như thuở nhỏ/ úp vào lòng mẹ/ để tìm sự chở che” thể hiện tình cảm gắn bó máu thịt thiêng liêng giữa người con với quê hương.

Sự trở về ấy cũng là dịp để tác giả tìm lại những kỷ niệm đẹp của một thời tuổi trẻ, “Tìm lại chiếc lá tre làm thuyền thả nổi/ Tìm lại dấu chân trần trên cát bỏng năm xưa”…Chìm đắm trong miền ký ức ngọt ngào, sâu lắng, nhưng tác giả không quên một thời đạn lửa, không quên công ơn của những người đã ngã xuống cho Tổ quốc có được cuộc sống thanh bình như ngày hôm nay. Nhìn dòng sông đỏ rực “như màu máu của bao người lính trẻ”, ông đớn đau, nuối tiếc:

“Những người con ra đi từ bến sông này không bao giờ trở lại

Họ nằm lại nơi đày sông hay ở chiến trường”

Đối với nhà thơ Lê Huy Mậu, dòng sông quê hương không chỉ là nơi lưu giữ những kỷ niệm, mà còn là nguồn cội tạo nên hình hài và linh hồn của xứ sở.“Cúi nhặt tình cờ” những hạt phù sa “bên bờ sông tháng chạp”, thi nhân có sự suy tưởng và cảm nhận sâu sắc:

“Ôi! Phù sa

những cá thể tự do trong hành trình của đất

đêm nao

chớp bể, mưa nguồn

trong cơn thác lũ

trong sóng đỏ

đất đi

kiến tạo

sinh thành…”

Tháng chạp là khoảng thời gian đã qua mùa lũ, những lớp phù sa từ thượng nguồn về bồi đắp cho đất đai đôi bờ thêm màu mỡ. Đây cũng là thời điểm tươi đẹp nhất của đất trời khi mùa xuân đến. Thụ hưởng những gì tinh tuý nhất từ thiên nhiên cùng bàn tay lao động con người, cây cối đua nhau đâm chồi, nẩy lộc. Đó chính là hình ảnh thể hiện rõ nhất hành trình “kiến tạo”, “sinh thành” của đất. Với sự tinh tế và nhạy bén của mình, chỉ qua một sự tiếp xúc “tình cờ”, nhà thơ đã có sự “giao cảm” sâu sắc với linh hồn của tạo vật, từ đó nhận thức rõ nguồn cội và bồi đắp, nuôi dưỡng tình cảm, lý trí của mình.

Hình ảnh của dòng sông trong bài thơ Khúc hát sông quê của Lê Huy Mậu vừa cụ thể, vừa mang ý nghĩa khái quát. Đó là dòng sông “khắc khoái trong tim hình bóng quê cha”, với những bãi bờ, cây cỏ thân thuộc, cùng “Bến đò xưa một đời dãi nắng dầm sương” “hai bờ tre xanh toả bóng mát rợp hồn”. Nơi ấy, ông lớn lên “Từ lời ru của bà, của mẹ/Từ những câu ca dao lặn lội bờ sông”, gắn liền với bao sản vật quen thuộc ông nhớ như in: Nào là những con “cá bống quẫy đuôi”, “con tôm rảo nhảy tanh tách”, “con cua rúc bùn”, “con hến nằm nghiêng”; rồi “tháng Ba phù sa sóng đỏ cá mương đớp ngọn lúa đòng đòng”, “tháng Năm lặn bắt cá ngạnh nguồn”, “tháng Chín cá lòng tong”. Ông khắc khoải nhớ cây trồng trên bãi;  nhớ tháng ngày “lúa gặt rồi còn để lại rơm thơm/ trâu đủng đỉnh nhai cả mùa đông lạnh”; nhớ những con quạ khoang, đàn cò trắng, con dã tràng xe cát... Tất cả gợi lên một không khí thật gần gũi, thân quen. Ở đó, con người, thiên nhiên và vạn vật luôn có sự giao cảm mật thiết, sống hoà hợp, sẻ chia.

Đứng trước dòng sông quê hương, một kỷ niệm đẹp đẽ, sâu sắc gắn liền với hình bóng người mẹ hiền yêu dấu ùa về, nhà thơ chợt hỏi:

“Này dòng sông

ngươi còn nhớ chốn ta ngồi ngóng mẹ

phiên chợ Lường vời vợi tuổi thơ ta”

Những từ “này”, “ngươi”, “ta” nghe qua có vẻ như xa cách, hay như một sự “lên gân”, nhưng đặt đoạn thơ trong mạch cảm xúc của cả bài thơ, ta cảm nhận được rằng, đó là sự giao tiếp thân mật, giống với cách xưng hô đùa giỡn giữa những người bạn thân thiết, tri âm tri kỷ. Cũng từ ý nghĩa ấy, tác giả “tự trào” về một thời tuổi trẻ ngoan hiền, hiểu thảo của mình:

“sao ngày ấy ta dễ ngoan đến thế

mẹ cho ta một xu bánh đa vừng

ta ngoan hết một ngày

ta ngoan hết cả năm

ta thương mẹ đến trọn đời ta sống”

Với trái tim mẫn cảm, khi nhắc tới những năm tháng tuổi thơ, một lần nữa tác giả lại bâng khuâng nhớ về một kỷ niệm thân thương:

“cùng một bến sông

phía dưới trâu đằm

phía trên ta tắm…

một dòng trong xanh chảy mãi tới vô cùng”.

Đang đắm say với những dòng xúc cảm, tôi chợt nghe anh Minh bảo: “Đến nơi rồi!”. Để tạo cho bậc đàn anh sự bất ngờ, anh Minh không điện báo trước. Ngồi trong nhà nhìn ra thấy chúng tôi đi vào sân, nhà thơ Lê Huy Mậu vội bước ra đón với thái độ niềm nở, chân tình. Tuy đã lớn tuổi nhưng trông ông vẫn nhanh nhẹn, hoạt bát. Từ con người ông toát lên sự hiền từ, chất phác, thân mật, gần gũi và tinh tế, giống như phong cách toát lên từ những vần thơ ông sáng tác.

Cơ ngơi của nhà thơ Lê Huy Mậu là một ngôi nhà nhỏ ở ngoại ô. Các vật dụng trong nhà đều rất đơn sơ, giản dị. Thú thực, tôi thấy bất ngờ và chạnh lòng. Như đoán được suy nghĩ của tôi, một người bạn đi chung khẽ bảo: “Anh Mậu trước sống vì mọi người, giờ chủ yếu vì con”.

Nhà thơ Lê Huy Mậu mời chúng tôi ngồi quây quần xung quanh chiếc bàn nhỏ bằng nhựa, bên cạnh giá sách ở phòng khách. Trên bức tường đối diện treo một tấm bảng bằng mê ca chi chít chữ ký –  bút tích của những người bạn văn, thơ lần đầu tới thăm ông. Thấy phiá dưới có để sẵn chiếc bút lông, tôi xin được lưu lại niềm vinh hạnh của mình vào góc bảng, thể hiện sự tôn kính của mình đối với nhà thơ.

- Chị đâu anh? – Anh Minh thân mật hỏi. Đúng lúc, một người phụ nữ xanh xao,  gầy gò dắt xe đạp vào sân.

- Bà ấy kìa!… Sắp thành số không rồi! - Nhà thơ Lê Huy Mậu vừa nói, vừa thân mật đưa mắt nhìn vợ.

Vợ nhà thơ gật đầu chào mọi người rồi kéo chiếc ghế nhỏ ngồi xuống bên cạnh mọi người, thân tình và gần gũi như một người bạn. Nhìn bề ngoài có vẻ tiều tuỵ nhưng chị có một tâm thế rất bình thản.

Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiêu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắcsâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.

Thời gian qua mau. Đã đến lúc chúng tôi phải nói lời tạm chia tay vợ chồng nhà thơ, Lê Huy Mậu vội đứng lên, rút mấy tập sách tặng bạn văn. Tôi hồi hộp đưa tay nhận quà của ông và nói lời cảm ơn. Như một thói quen, tôi lướt nhìn qua bìa sách rồi lật mở cuốn trên cùng, đó là tập thơ Như lá đã từng xanh của Lê Huy Mậu, và thật bất ngờ, gặp bài thơ Uống rượu với sông Lam của ông. Về lại với dòng sông quê, ông không khỏi xao xuyến, bồi hồi:

“Là đây ư? Nơi cất giữ tuổi thơ mình!

Là đây ư? Dòng sông ta úp mặt!

Và đâu rồi? Cây xoan con quạ khoang ngồi chờ chia thịt?

Và đâu là bến đò nơi đợi mẹ xu bánh đa?

Có lẽ, hình ảnh gần gũi, thân thương của dòng sông quê hương luôn hiện hữu trong trái tim nhà thơ Lê Huy Mậu. Đó là một phần đẹp đẽ trong tình yêu và lẽ sống của ông. Bên cạnh là nghĩa tình của nhà thơ đối với mọi người và cuộc đời này. Ông luôn khắc khoái nỗi nhớ đồng đội, đồng nghiệp, nhất là những ai thiếu may mắn trong đời tư; nhớ những năm tháng đầy gian nan thử thách nhưng hào hùng. Ông chia ngọt sẻ bùi vui với bạn bè, quan tâm dìu dắt những người viết trẻ, thương cảm những số phận éo le, đớn đau trước mất mát của những người xung quanh, thẳng thắn và chân tình nói lên cảm nghĩ của mình trước những vấn đề còn khiếm khuyết trong cuộc sống... Tất cả được thể hiện rõ nét trong các tác phẩm của ông. Những suy nghĩ, tình cảm của nhà thơ dễ chiếm được sự đồng cảm của độc giả, như nỗi niềm ưu tư của ông trước sự ra đi của một người bạn:

“Dẫu biết sớm muộn thôi!

Sao vẫn thấy sững sờ?

Sao vẫn thấy đời như giấc mộng

Bao nhiêu tuổi thì cuộc đời vẫn ngắn

Trước hư vô là chớp mắt đời người”

(Hãy lên đường thanh thản nhé – bạn ơi!)

Họ cũng thấu hiểu, sẻ chia hoài niệm của ông về những năm tháng hạnh phúc đủ đầy, về những hình ảnh chất phác, bình dị nhưng đẹp đẽ của tình phụ tử và mẫu tử thiêng liêng:

“Khi không ngồi nhớ vụ Chiêm, vụ Mùa

Vườn cao cây rơm, nhà thơm gạo mới

Bếp lửa củi nè. Ngọn khói nồi cơm!

 

Mẹ lận lưng váy. Cha lận lưng quần,

Khi con cua đồng. Khi con châu chấu

Về già bỗng nhớ đầy lòng hương quê”

(Khi không ngồi nhớ)

Lẽ đương nhiên, họ - nhất là những người xa xứ - muốn nghe lại, nghe mãi Khúc hát sông quê, tác phẩm thấm đượm tình cảm, tư tưởng của ông trong mỗi lời ca để tìm về một quãng đời, một phần hồn quê yêu dấu…

Ra về, tôi vui mừng ôm vào lòng những tập sách nhà thơ Lê Huy Mậu tặng. Ông thân mật tiễn chúng tôi ra tận con đường nhỏ trước nhà. Xe chạy được một đoạn khá xa, tôi quay đầu nhìn lại thấy nhà thơ cao niên vẫn đứng đó, dõi mắt về phía chúng tôi. Lòng tôi chợt trào dâng niềm xúc cảm ngọt ngào.

N.Q

Bài viết liên quan

Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm