TIN TỨC

Nhà tù Sơn La và cây đào Tô Hiệu

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-07-18 15:48:15
mail facebook google pos stwis
16 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Mỗi lần trở lại nhà tù Sơn La, gót chân tôi như bị níu chặt trước cây đào mang tên người chiến sĩ cộng sản Tô Hiệu. Giống như lần trước, tôi lại trông thấy rất nhiều người vây quanh và lặng yên chụp ảnh bên tấm biển nhỏ cắm ở dưới gốc cây đào. Cội đào cổ thụ kiêu hãnh bên nền móng cổ xưa như thể tựa mình vào vách đá của tù ngục; sừng sững ngay bên lối vào với cành lá tươi xanh, tán xoè rộng khắp như thể đang che chở cho những miền ký ức.

 

Nơi nhà cách mạng Tô Hiệu hy sinh

 

Lần nào cũng vậy, mỗi khi ngược ngàn lên Điện Biên, đi qua dải đất Sơn La, tôi thường hay rủ bạn bè ghé vào nghĩa trang Gốc Ổi để thắp nén tâm nhang tưởng nhớ công lao của các bậc cách mạng tiền bối. Và, sau khi khói hương quấn quyện vào đất trời, tôi lại cùng mọi người sang thăm Nhà tù Sơn La nằm ngay kế bên, trên đỉnh đồi Khau Cả lộng gió. Cũng như những lần trước, chiều nay đứng trên đỉnh đồi, ngắm nhìn phố núi nhộn nhịp, sầm uất trước mặt, tôi không khỏi suy tư về cái nhà ngục từ cái thời còn khét tiếng là một “địa ngục trần gian” của thực dân Pháp ở giữa “xứ sở hoa ban” xinh đẹp này mà trong lòng lại lắng lại những nỗi niềm yêu mến và thương đau.

Giờ đây, miền đất Chiềng An, Chiềng Lề đã khoác lên mình một tấm áo mới, khác hẳn hồi đầu thế kỷ trước, khi tỉnh lỵ Vạn Bú được di chuyển từ bản Pá Giạng xã Ít Ong về đây với tên gọi mới là tỉnh Sơn La. Trải qua hơn một trăm năm thăng trầm, vùng đất từng bị coi là “rừng thiêng nước độc” năm nào nay đã vươn mình trở thành một thành phố đẹp đẽ, duyên dáng giữa đại ngàn hùng vĩ. Nơi đây không còn là viên ngọc ẩn mình nữa mà đang ngày ngày khoe sắc lung linh giữa núi rừng Tây Bắc bình yên. Từ trên đồi cao Khau Cả nhìn xuống, thu vào trong mắt tôi là hình ảnh sống động của quảng trường Tây Bắc rộng mênh mông, cùng những toà nhà cao tầng bề thế nằm dọc theo các trục đường thênh thang, uốn lượn bên các triền núi xanh tươi đang tràn trề nhựa sống. Thế nhưng giữa dòng chảy thay đổi hối hả của phố thị ấy, tôi vẫn ám ảnh bởi một góc lặng đang được núi rừng neo giữ lại để làm một chứng nhân tôn nghiêm của lịch sử. Đó là nhà tù Sơn La, nơi một thời được xem là một trong những địa ngục tàn khốc nhất của thực dân Pháp ở Đông Dương, chỉ xếp sau nhà tù Côn Đảo.

 

Du khách bên di tích nhà tù Sơn La

 

Bước qua chiếc cổng sắt và bức tường đá cao ngất bao quanh nhà ngục, di tích nhà tù Sơn La hiện ra trước mắt tôi đầy u tịch. Nơi đây giờ chỉ còn lại những chòi canh, trại giam, xà lim và mấy mảng tường dày cộp được xây kiên cố bằng gạch đỏ nhưng cũng đã sụp đổ nham nhở đang nằm phơi mình bên những chân móng bằng đá màu xám xịt của các đại lao năm xưa. Tất cả những bức tường lạnh lùng thuở trước nay cũng ngả màu phôi pha theo thời gian, trơ trọi như một chứng tích hoang tàn của lịch sử. Những phế tích đổ nát này là kết quả bước đầu phục dựng, mới được một phần, của những gì còn lại sau hai lần tàn phá của kẻ thù. Lần thứ nhất vào năm 1952, thực dân Pháp cho máy bay ném bom hòng xoá bỏ những dấu vết của tội ác man rợ mà chúng đã gây ra cho các tù nhân cách mạng ở nơi đây. Lần thứ hai vào năm 1965, khi đế quốc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc, chúng tiếp tục dội bom phá huỷ những gì còn lại của nhà tù sau lần ném bom trước đó.

Đặt chân vào nhà tù Sơn La, lắng nghe thanh âm của lịch sử vọng về, tôi mới bàng hoàng trước dòng chảy thời gian của nơi từng được mệnh danh là “địa ngục trần gian” này. Thuở mới di dời từ Tạ Bú về thị xã Sơn La, vào năm 1908, dưới bàn tay của Công sứ Jean Monpéra, nơi đây chỉ là một nhà giam nhỏ nhoi, rộng vỏn vẹn khoảng 500 mét vuông, dùng để lưu giữ thường phạm địa phương. Khi ấy, nhà tù chỉ có hai buồng giam lớn và bốn buồng giam nhỏ, xây bằng đá xám xịt, đậy bằng mái tôn, mùa lạnh thì tê tái, mùa nóng thì hầm hập, nằm chéo nhau như những mũi dao hình tam giác. Ngày ấy, thực dân Pháp hành hạ người tù bằng một gian xà lim tam giác cân ở góc chéo, nằm liền kề với một góc khuất lạnh lẽo, dùng để chứa xác tù nhân. Trên những chiếc bục xi măng xám lạnh của nhà tù còn những gắn cùm chân rỉ sét. Người tù phải còn sống chung với mùi xú uế của những chiếc thùng xí nổi. Nhưng sự tàn bạo ấy mới chỉ là bắt đầu. Cuối năm 1930, trước ngọn lửa cách mạng bùng cháy mạnh mẽ, thực dân Pháp run sợ. Chúng điên cuồng mở rộng nhà tù, thêm 1684 mét vuông và chính thức biến nơi này thành một địa ngục theo đúng nghĩa với năm nhà giam chính cùng bốn lô cốt, chòi canh sừng sững mọc lên ở bốn góc. Hàng ngày, xen lẫn những đòn roi đẫm máu là các công việc khổ sai như xay lúa, giã gạo … đã hành hạ, làm kiệt sức tù nhân. Nhưng đáng sợ nhất phải kể đến cuộc sống trong xà lim ngầm. Đó là các khu giam giữ tù nhân được đào sâu xuống dưới lòng đất, khoảng hơn 3 mét để đày đoạ các chiến sĩ cách mạng. Dưới xà lim, trong bóng tối đặc quánh của lòng đất, nơi ở của người tù hiện ra như những chiếc hộp kín mít khi cánh cửa gỗ sập lại. Ở đấy, con người bị khoá chặt trong những chiếc cùm sắt lạnh ngắt, rất khó cựa quậy và không thể phân biệt được ngày hay đêm. Sự sống ở đấy được níu lại bằng một cái lỗ thông hơi nhỏ nhoi đưa lên mặt đất. Tội ác ấy cứ thế tiếp diễn đến đầu năm 1940, khi Thống sứ Bắc Kỳ cho xây thêm một trại lớn, 3 gian ở phía sau trại lính khố xanh. Rồi đến tháng 7 năm 1941, Nha Công Chính lại tiếp tục phóng tay, vạch ra những bản thiết kế ma quỷ nhằm xây dựng một nhà giam lớn gấp đôi nhà tù cũ để sẵn sàng nuốt chửng từ 500 đến 800 tù nhân chính trị. Cứ vậy, qua ba lần cơi nới mở rộng nhà ngục, tội ác của bọn thực dân ngày càng chồng chất. Và chúng đã biến nhà ngục thành một con quái vật khổng lồ với tổng diện tích 2184 mét vuông, gồm 49 phòng giam lớn nhỏ. Đương thời, kẻ thù rất tự tin và tuyên bố: “nếu ở Hỏa Lò các anh lo đối phó với chính phủ thì lên Sơn La các anh phải lo đối phó với sốt rét”. Với dã tâm “một thời gian không lâu, sốt rét, bệnh tật và công việc khổ sai sẽ tiêu hao chúng một cách êm thấm”, thực dân Pháp đã không từ một thủ đoạn khắc nghiệt nào về ăn, ở và các công việc lao dịch hàng ngày hòng dập tắt ý chí yêu nước của những người cộng sản. Nhưng chúng đã nhầm. Chính từ bóng tối sâu thẳm của nhà nhà tù và những xiềng xích cùm gông, những đóa hoa thép cách mạng lại nở rộ rực rỡ và kiên cường hơn bao giờ hết. Ngược lại với ý chí của kẻ thù, những tù nhân cách mạng ở nhà ngục Sơn La đã biến cái “địa ngục trần gian” thành một ngôi trường cách mạng vĩ đại, tôi luyện cho tổng cộng 1007 lượt tù nhân cộng sản. Trong số ấy, sau này có rất nhiều người đã trở thành những nhà lãnh đạo ưu tú, những tướng lĩnh cao cấp của Đảng, của đất nước như Lê Duẩn, Trường Chinh, Lê Đức Thọ, Nguyễn Cơ Thạch, Nguyễn Lương Bằng, Văn Tiến Dũng, Trần Quốc Hoàn, Xuân Thủy, Song Hào…

 

Cội đào Tô Hiệu

 

Mỗi lần trở lại nhà tù Sơn La, gót chân tôi như bị níu chặt trước cây đào mang tên người chiến sĩ cộng sản Tô Hiệu. Giống như lần trước, tôi lại trông thấy rất nhiều người vây quanh và lặng yên chụp ảnh bên tấm biển nhỏ cắm ở dưới gốc cây đào. Cội đào cổ thụ kiêu hãnh bên nền móng cổ xưa như thể tựa mình vào vách đá của tù ngục; sừng sững ngay bên lối vào với cành lá tươi xanh, tán xoè rộng khắp như thể đang che chở cho những miền ký ức. Rất tiếc chuyến đi này của tôi không đúng mùa hoa nên không được mãn nhãn với sắc hồng phai vốn nổi tiếng và đã trở thành giai điệu đặc trưng của núi rừng Tây Bắc. Tuy thiếu mất sắc hoa nhưng trong tôi lại được bù đắp bằng âm vang của câu chuyện lịch sử mà cây đào hiện lên như một giá trị biểu tượng. Cây đào gắn với tên tuổi và những năm tháng oanh liệt của nhà cách mạng Tô Hiệu. Nó đứng bên bức tường của lao tù địa ngục nên không chỉ đơn thuần là cây đào biết đơm bông khoe sắc vào mỗi độ xuân về. Hơn những thế, từ lâu, nó đã đi vào tâm tưởng biết bao người là một “cây đào biết nói” của lịch sử cách mạng Việt Nam. Giờ đây, cội đào ấy giống như một chứng nhân lịch sử trong chốn tù đày khắc nghiệt nhưng vô cùng bất khuất kiên cường của những người cộng sản. Đứng dưới gốc đào đang xoè ô che mát, tôi như nghe thấy tiếng thì thầm của ngày xưa vọng lại, kể về người Bí thư Thành ủy Hải Phòng năm nào khi về đây thắp lửa cho chi bộ nhà tù trong những ngày đông lạnh giá cuối năm 1939 cho đến khi ngã xuống ở chính nơi này, vào tháng 3 năm 1944. Cho nên, gốc đào ấy trong tôi còn là một giá trị bất tử của Tô Hiệu để lại. Cây đào kiên cường trong ngục tù cũng giống như tinh thần bất khuất của Tô Hiệu. Tinh thần của người cộng sản ấy hóa thân vào cỏ cây. Người chiến sĩ năm ấy đã truyền lửa và để lại cho đời cái khí phách kiên cường trong cốt cách lớp lớp cán bộ ở lại, khơi nguồn cho một Tháng Tám lẫy lừng vào một năm sau.

Đứng dưới gốc đào cổ thụ, giữa nơi ngục tù ngày xưa, bất chợt tôi lại nhớ đến cụ Nguyễn Tuân trong chuyến đi thực tế ở Sơn La hồi năm 1958 cùng với bài tuỳ bút “Đào cộng sản”, sau được đưa vào in trong tập “Sông Đà”. Rồi lại chợt nghĩ Sơn La là “miền hoa ban” nhưng cũng là xứ sở của hoa đào, cho nên cây đào trong nhà tù này và cây đào ở trên đất Tây Bắc có gì dị biệt. Nghĩ thế rồi lại tự mình luận giải. Đào đâu chẳng vậy. Có khác chăng chỉ là những huyền thoại bao quanh cội đào trong nhà tù mà thôi. Đó là cây đào Tô Hiệu, cây đào gắn với huyền thoại trong tù của Tô Hiệu. Đấy là một linh hồn bất khuất trong ngục tối Sơn La. Phải chăng người đời đã ngưỡng mộ và kính yêu tấm lòng yêu nước của người chiến sĩ cách mạng mà đã gắn tên ông cho một nhành hoa đón xuân của xứ này, mọc bên phòng ông bị giam giữ, để thắp lên cái cái “tình” ấm áp giữa những nanh vuốt của kẻ thù. Lâu dần, cái “tình” ấy được người đời thiêng hoá và biến thành cái “đẹp”. Đó là cái đẹp của nghệ thuật. Một hình tượng nghệ thuật mang vẻ đẹp thanh tao nhưng bất khuất, kiên cường trước mọi bão giông lao ngục. Cái đẹp ấy là cái đẹp của lòng yêu nước, của tinh thần xả thân vì nghĩa lớn. Có lẽ cũng bởi cái ý nghĩa thiêng liêng ấy mà người ta đã chiết cành từ cội đào này đem về trồng ở bên lăng Bác và nhân giống để đem xuống trồng tại Nghĩa trang liệt sĩ Gốc Ổi, nơi Tô Hiệu đang yên nghỉ, dưới chân đồi Khau Cả.

Giữa bốn bề sắt đá dày đặc của lao tù; trên đống hoang tàn đổ nát của phế tích năm xưa, gốc đào mang tên Tô Hiệu vẫn cứ vươn mình, toả bóng xanh mát. Ngắm nhìn cây đào, trong tôi lại hình dung viễn cảnh mùa xuân ngục tù thuở trước. Cứ mỗi độ hoa về, sắc hồng phai lại rực rỡ bung nở giữa chốn ngục tù tăm tối, giống như một loài hoa kiên cường nở trong bão táp. Đó là mùa xuân của ánh sáng, của tương lai và chiến thắng. Sức sống mãnh liệt của cây đào trên gạch đá và sắt thép, trước gông cùm và hai lần bom dội, chính là khúc khải hoàn của chính nghĩa trước phi nghĩa, của cái thiện trước cái ác. Đó là sự sống vươn lên từ cõi chết. Bởi thế, gốc đào mang tên người chiến sĩ cách mạng Tô Hiệu tựa như một bài thơ bất tử. Cội đào ấy chính là một lời khẳng định đanh thép: cách mạng là bất diệt. Kẻ thù có thể giam cầm thân xác người tù nhưng không thể giam cầm được tinh thần yêu nước và khát vọng tự do của họ. Cho nên, tham quan nhà tù, đứng bên gốc đào, trong tôi có một linh cảm. Dường như ta không chỉ đang ở bên một chứng nhân của lịch sử mà còn đang chạm đến tinh thần Tô Hiệu; chạm vào một biểu tượng bất khuất của Việt Nam trong chốn lao đày nghiệt ngã.

Miên man trên đỉnh đồi tù ngục, rồi ngắm nhìn thành phố vùng cao Tây Bắc, tôi chợt nhận ra sau những thăng trầm, Sơn La hôm nay không còn giống cái thời “rừng thiêng nước độc” như trong ký ức lịch sử, không còn cảnh “địa ngục trần gian” như trong những năm tháng nô lệ. Xung quanh đồi Khau Cả giờ đây đang mọc lên những phố phường trẻ trung; đang khoác lên mình những tấm áo mới, hiện đại và thơ mộng. Nhưng nhà tù Sơn La và gốc đào mang tên Tô Hiệu vẫn kiêu hãnh giữa trung tâm phố núi như một chứng nhân vĩnh cửu. Khúc tráng ca bất tử ấy tiếp tục là điểm tựa tinh thần, truyền lửa và kết nối những giá trị thiêng liêng của quá khứ anh hùng với hiện tại tươi sáng. Những đoá hoa kiên cường năm xưa giờ đã trở thành bảo vật của mảnh đất này, thành điểm hẹn của những khát vọng hòa bình. Và cái dòng nhựa sống mãnh liệt ấy vẫn cứ âm thầm chảy trong lòng đất mẹ, nhắc nhở muôn đời về một lời thề sắt son: quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh. Rưng rưng những nỗi niềm như thế ai nấy trong lòng chẳng thấy một Sơn La sao mà “thương” đến thế!

Bài, ảnh: Đào Thị Thu Hiền

Bài viết liên quan

Xem thêm
Trên những nẻo đường tri ân - Ký của Nguyên Hùng
Dọc dải đất miền Trung, nơi từng rung chuyển bởi đạn bom và nước mắt, vẫn còn đó những địa danh đã đi vào tâm thức dân tộc: Trường Sơn, Khe Sanh, Thành cổ Quảng Trị, sông Thạch Hãn, địa đạo Vĩnh Mốc... Mỗi tấc đất, mỗi dòng sông là một trang sử được viết bằng máu của những người lính tuổi hai mươi.
Xem thêm
Em đợi anh về
Dòng sông Vàm Cỏ vẫn miệt mài chảy, nước vẫn trôi đi, thời gian vẫn luân hồi qua từng mùa lá rụng. Nhưng bên bờ sông ấy, có những nỗi nhớ đã hóa đá, có những tình yêu đã vượt thoát khỏi ranh giới của sự sống và cái chết, để trở thành một biểu tượng bất tử. Câu chuyện về người chiến sĩ - liệt sĩ Huỳnh Văn Quên và người con gái Nguyễn Thị Lệ là một minh chứng sâu sắc – một câu chuyện được viết bằng máu, nước mắt và tấm lòng sắt son của người phụ nữ Việt Nam trong khói lửa chiến tranh.
Xem thêm
Nghĩa tình với liệt sĩ
Những ngày này, cả nước cùng tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ, chúng ta lại càng thấm thía hơn về hai chữ “tri ân”. Tri ân không chỉ là những vòng hoa, những nén tâm hương thành kính dâng trên đài tưởng niệm, mà đôi khi còn là những câu chuyện lặng thầm, bền bỉ được thắp sáng từ nghĩa đồng bào, tình đồng đội sâu nặng giữa thời bình.
Xem thêm
Tiếng ghi - ta rung lên ngày ấy - Tản văn Văn Lê Tám
Có những chuyến đi là để trở về, nhưng cũng có những lần trở về chỉ để nhận ra mình đã vĩnh viễn đánh rơi một phần hồn ở lại. Ba mươi năm, một chớp mắt của đất trời, nhưng là hơn nửa đời người đối với nhóm bạn lớp 8A2 ngày ấy trên quê hương Minh Hải.
Xem thêm
Một đêm Bến Hải - Bút ký của Nguyễn Thị Việt Nga
Đặt trong bối cảnh quốc tế hôm nay, khi nhiều nơi trên thế giới vẫn còn tiếng súng, vẫn còn những dòng người rời bỏ quê hương, vẫn còn những đứa trẻ lớn lên giữa đổ vỡ, vẫn còn những đường biên bị biến thành vết thương, một đêm Bến Hải càng trở nên thấm thía. Từ một dòng sông từng là giới tuyến, Việt Nam gửi đi một lời nhắn không ồn ào nhưng bền bỉ: hòa bình không phải là một trạng thái tự nhiên, mà là thành quả của lương tri, của đối thoại, của sự kiềm chế, của lòng nhân ái và của trách nhiệm với tương lai.
Xem thêm
A Pa Chải, một lần đến cả đời thương nhớ
Chúng tôi muốn lưu lại với miền đất ba biên A Pa Chải lắm, nhưng để kịp cho hành trình trở về vào ngày hôm sau nên cũng đành phải chia tay với Sín Thầu trong những luyến tiếc. Tạm biệt “vùng đất bằng phẳng rộng lớn”, nghĩa của từ A Pa Chải theo tiếng địa phương của đồng bào Hà Nhì, chúng tôi khép lại một hành trình khám phá miền cực Tây thân thương của Tổ quốc và mang theo về cả một khoảng trời biên viễn cùng với tâm nguyện sẽ có một ngày được trở lại. Thế đấy, có những vùng đất, có những chuyến đi, dù chỉ một lần chạm mặt mà trong lòng đã thầm gửi lại cả một đời thương nhớ. Có lẽ từ đây, A Pa Chải trong tôi cũng vậy. Nó đã gieo vào lòng tôi những thanh âm bâng khuâng của một miền biên thuỳ, trong niềm thương bản quán chẳng thể nào quên.
Xem thêm
Rạng rỡ tên người
Không chỉ bởi hàng nghìn ánh đèn, những màn hình khổng lồ, những chùm pháo hoa sẽ bừng nở cuối chương trình, mà còn bởi một cái tên đã trở thành ánh sáng dẫn đường cho cả dân tộc suốt hơn một thế kỷ qua.
Xem thêm
Một kết nối nhân văn
Chiều ngày 26 tháng 6 năm 2026, tại Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh diễn ra cuộc gặp mặt, giao lưu giữa lãnh đạo Quân đội với đội ngũ văn nghệ sĩ khu vực phía Nam.
Xem thêm
Nhà văn Sơn Nam: Người chép sử bằng hương rừng, mật đất
Sơn Nam, tên thật Phạm Minh Tài, sinh năm 1926 tại huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang (nay là An Giang) – vùng đất Miệt Thứ với rừng tràm, bưng biền và sông rạch đan xen. Không gian khắc nghiệt ấy sớm hình thành trong ông cảm thức văn hóa đặc biệt về đất đai, lịch sử mở cõi và thân phận con người phương Nam.
Xem thêm
Đừng tiếc lời khen khi dạy trẻ nhỏ
Khi đời sống của mỗi gia đình ngày càng được nâng cao, nhiều gia đình có điều kiện chăm sóc và nuôi dạy con cái được tốt hơn. Giáo dục thời hội nhập hiện nay có nhiều cơ hội được tiếp cận, học hỏi phương pháp giáo dục tiên tiến, khoa học, nhiều bậc phụ huynh đã chú trọng giáo dục cho con nhỏ rất tích cực. Từ cách ứng xử hàng ngày cho đến lời nói, cử chỉ đều được người lớn ý thức khi giao tiếp với con trẻ. Trong quá trình giao tiếp đó, lời nói và đặc biệt là lời khen lại có tác động lớn tới nhận thức và hành vi, tình cảm của trẻ con.
Xem thêm
Trái tim rỉ máu! - Tạp bút Nguyễn Xuân Hương
Năm nay mùa mưa lại đến. Những cơn giông lốc gió cuốn kèm theo những cơn mưa nghe ràn rạt trên đường phố. Giờ đây, gã đã nghỉ hưu không phải bon chen lặn lội trên đường như thuở trước nữa. Trái tim gã đã trả lại nhịp đập bình thường như trước ngày bị bệnh. Và trong những giấc mơ về đêm không còn cảnh trái tim rỉ máu nữa. Cuộc sống cứ bình thản trôi đi mặc cho bão táp phong ba. Mong rằng trái tim gã cứ hoạt động bình thường đến ga cuối cuộc đời gã. Như vậy là mãn nguyện lắm rồi. Xin cảm ơn tất cả mọi người, xin cảm ơn cuộc đời, thật đáng quý biết bao.
Xem thêm
Chuyện về một thương binh nặng – Bút ký Trần Trọng Trung
Nhắc đến thương binh Nguyễn Văn Hữu ngụ xã Bến Lức, tỉnh Tây Ninh là gợi nhớ đến những ký ức hào hùng, cuộc hành trình không giới hạn của Sống đẹp! Ông đã cống hiến cả một thời tuổi trẻ, không quản ngại gian khổ, hy sinh xương trắng, máu đào của bản thân mình chiến đấu chống kẻ thù, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
Xem thêm
Nấm Dẩn, một sinh thái trong lành – Bút ký Đào Thị Thu Hiền
Chiều buông, rời bước ra khỏi bãi đá cổ, lòng tôi cứ bâng khuâng trước vẻ đẹp vừa hoang dại, vừa tôn nghiêm của vùng cao biên giới Nấm Dẩn. Những địa danh như đèo Gió, thác Tiên, hay bãi đá cổ Nấm Chanh giờ đây không còn là những cái tên vô danh giữa đại ngàn heo hút mà đã được định danh trên bản đồ di sản nước nhà. Di tích Bãi đá cổ bản Nấm Chanh ở xã Nấm Dẩn đã được nhà nước xếp hạng cấp quốc gia năm 2008 và khu danh lam thác Tiên - đèo Gió cũng được xếp hạng thắng cảnh quốc gia vào năm 2009. Nhưng rồi lại nghĩ, bản đồ du lịch ở Nấm Dẩn đã mở ra nhưng giao thông và hạ tầng ở đây còn chưa theo kịp. Muốn nhiều người biết hơn nữa về những thắng cảnh và di sản ở Nấm Dẩn đường đi và các dịch vụ chắc chắn phải đi trước một bước để đón chân du khách. Nghĩ thế, rồi lại nhìn sang những vùng đất khác. Du lịch mở ra và bản sắc văn hoá cứ mất dần vì làn sóng thương mại hóa. Bất giác, tôi giật mình và tự hỏi: liệu một mai, khi rộn rã thanh âm của những bước chân du lịch, Nấm Dẩn có còn giữ nổi cho mình là một sinh thái trong lành nữa hay không?
Xem thêm
Chân mây 6 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Thành Tuyên trong câu chuyện thời thiếu nữ của ai. Trong rung động thời trai trẻ của ai. Hương hoa rừng ngào ngạt. Đồi núi bạt ngàn xanh mướt. Những bông hoa gạo nóng bỏng. Những dây leo lộng lẫy hoa vàng. Những viên gạch cổ rêu phong thiêng liêng. Và sông Lô hào hùng. Sông Lô dạt dào sóng nước.
Xem thêm
Chuyện về nhà thơ Hoa Níp sau 10 năm rời cõi tạm
Hoa Nip là nhà thơ trẻ từng tham gia hoạt động trong Ban Nhà văn trẻ - Hội Nhà văn TP.HCM do nhà thơ Phan Hoàng làm trưởng ban. Dù sinh sống ở Bà Rịa - Vũng Tàu, nhưng mỗi khi Hội Nhà văn TP.HCM tổ chức các chuyến đi thực tế, sáng tác anh đều tham gia và hoạt động rất tích cực. Trong quan hệ đồng nghiệp, anh được bạn bè yêu thương, trân quý. Trong sáng tác anh được đánh giá là một nhà văn trẻ giàu triển vọng. Nhưng cuộc đời quả vô thường, năm 2016, một tai nạn thương tâm xảy ra đã cướp đi sinh mạng của anh trong sự đau đớn và tiếc thương của gia đình và đồng nghiệp. Nhân kỷ niệm 10 năm ngày mất của nhà thơ Hoa Nip, Phùng Hiệu xin giới thiệu bài viết của cha anh - tác giả Trần Vinh.
Xem thêm
Cái đẹp đời thường trong tranh họa sĩ Vũ Dương - Bút ký Trần Trung Sáng
“Vẽ cuộc đời bằng cảm xúc” là chủ đề chương trình giới thiệu cuốn sách tranh của họa sĩ Vũ Dương do Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ thuật thành phố Đà Nẵng phối hợp với Chi hội Mỹ thuật Việt Nam tại Đà Nẵng và gia đình họa sĩ Vũ Dương tổ chức trong những ngày đầu tháng 5 vừa qua.
Xem thêm
Hành trình lan tỏa tình yêu biển đảo từ những lá cờ Tổ quốc mang dấu Trường Sa
Giữa mênh mông biển trời, lá cờ Tổ quốc tung bay trên các điểm đảo thuộc Quần đảo Trường Sa không chỉ khẳng định chủ quyền thiêng liêng của Việt Nam, mà còn nhắc nhở mỗi người dân đất Việt về trách nhiệm gìn giữ biển đảo quê hương bằng những hành động thiết thực, từ những điều giản dị nhất.
Xem thêm
Chuyện bây giờ mới kể - Bút ký Trần Trọng Trung
Bác sĩ Lê Trung Hiếu năm nay đã bước vào độ tuổi “nhân sinh thất thập cổ lai hy”, tóc điểm sương trắng mái đầu, nhưng cử chỉ vẫn còn nhanh nhẹn, trí nhớ còn minh mẫn, nói năng từ tốn, rõ ràng… Bác sĩ Hiếu từng trải qua nhiều chức vụ Phó Giám đốc Trung tâm y tế huyện Tam Nông (hiện nay là Trung tâm y tế khu vực Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp) rồi làm Hội Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế Việt Nam… Trước khi về nghỉ hưu, ông giữ chức vụ Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội huyện Tam Nông (hiện nay là Bảo hiểm xã hội cơ sở Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp).
Xem thêm