TIN TỨC
  • Truyện
  • Đêm chiến tranh | Nguyễn Trường

Đêm chiến tranh | Nguyễn Trường

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-03-31 06:12:11
mail facebook google pos stwis
2971 lượt xem

TRUYỆN NGẮN ĐẦU TAY

NGUYỄN TRƯỜNG

Trời vẫn tối đen. Bằng và người tù binh cứ phăng phăng đi về phía trước. Thỉnh thoảng một chùm pháo réo lên đầu, nổ ầm trước mặt, lửa bùng lên, rạch đêm đen kịt rồi bóng tối khép lại, đầy bí ẩn. Trời không trăng không sao. Dưới đất không một ánh đèn. Cơn mưa lúc chập tối để lại những đám mây đen nặng trĩu trên đầu che hết các vì sao. Bằng và người tù binh đều ướt lướt thướt, lạnh co ro. Gã tù binh đi dò dẫm, in một vệt đen đen phía trước.

Đêm qua đơn vị anh đánh đồn Cả Cái, tiêu diệt gọn địch. Chiếm lĩnh xong đồn, các anh mới phát hiện ra dưới đường hầm có một tên địch. Chính hắn là tên chỉ huy.

Từ đồn Cả Cái đến trung đoàn bộ phải vượt qua một vùng đồng trống hơn chục cây số. Đi nhanh khoảng hai tiếng đồng hồ, chỉ khoảng chập tối đã đến trung đoàn bộ.

Nhưng không ngờ, những đám mây từ hướng Nam kéo đến. Gió cuộn lên mù mịt. Biển cỏ nghiêng ngửa, xoáy tít.

Mưa quất xuống mặt họ, rát rạt. Chân họ lội bì bõm trong nước, trong cỏ cao đến đầu gối. Gã tù binh vẫn ngật ngưỡng đi theo hướng chỉ của Bằng. Mưa mỗi lúc một dày hạt. Hết cơn này lại nối theo cơn khác. Sét cứ xẹt xuống, trời như nổi giận với cánh đồng.

Trời mưa nên tối khá nhanh. Càng đi, họ càng thấy tối. Cơn mưa đã làm họ đi chậm gấp đôi.

Trời tối, trên đồng cỏ phẳng lì như biển này, ban đêm rất dễ lạc đường. Bất thần một loạt pháo từ một hướng nào đó, lao qua đầu họ và nổ bùng lên phía trước. Bằng đoán có lẽ pháo bắn từ đồn Măng Đa. Hồi còn là chiến sĩ công binh anh đã bò vào đó gỡ mìn mở lối cho đồng đội đánh đồn. Anh còn nhớ nó nằm ở hướng Đông, so với vị trí ban đầu xuất phát. Anh liền kéo gã tù binh đi chếch về hướng Bắc, đi được một lúc lại mất hướng. Bằng đành phó mặc cho may rủi. Cứ để cho người tù binh lầm lũi đi.

Bỗng một tiếng nổ rất đanh bùng lên. Phản ứng nhanh, Bằng vội nằm xuống. Anh cảm thấy tiếng gió xé bên tai. Anh thấy tay mình chạm vào vật gì tròn tròn. Linh tính báo cho anh biết sự nguy hiểm. Giữ đúng vị trí cũ, anh thò một tay xuống đất và lôi lên trái lựu đạn gài. Tay vẫn bóp mỏ vịt, tay kia anh bóp cong chốt an toàn. Đặt trái lựu đạn ra xa, anh nói gã sĩ quan:

- Có mìn, đứng lại!

Gã sĩ quan ngơ ngác quay lại phía Bằng. Trong đêm tối, anh không nhìn thấy rõ khuôn mặt, chỉ thấy gã đứng như trời trồng. Bằng nói:

- Đừng bước nữa, lọt vào bãi mìn rồi.

- Trời!… - Gã tù binh la lên. Bằng thấy người gã như khuỵ xuống.

- Ông ơi, làm sao bây giờ?

- Thì cứ bình tĩnh đã.

Bằng nói, giọng cứng cỏi nhưng chính anh cũng thấy ớn lạnh sống lưng. Họ đã đi sâu vào bãi mìn. Bây giờ họ không tài nào nhớ nổi lối ra. Cũng còn hên, chắc là con chồn nào lúc nãy chạy ẩu đã đụng và mìn nhạy nổ, báo động cho họ.

- Phải ra khỏi bãi mìn - Bằng nói.

- Ra cách nào được, ông?

- Anh bám theo tôi, đi chệch một chút là chết đấy!

Bằng để gã đi sau. Anh khoác súng lên vai, đưa tay lần tìm dây. Người lính công binh dùng độ nhạy của đôi tay để phân biệt đâu là cọng cỏ, đâu là sợi dây nối với trái gài. Anh biết loại thông thường chôn chừa một phần ba trái trên mặt đất để nó không lật mà sát thương mạnh. Tháo chốt cho gần tuột ra, nối chốt với cây cọc. Nếu địch đụng vào dây, chốt sẽ tuột ra và lựu đạn nổ.

Bằng nghĩ, nếu cứ gỡ như thế, đến bao giờ mới ra khỏi bãi mìn dày đặc này. Anh tính cách lách trong bãi mìn không cần gỡ trái, cách đi của đặc công. Tay đưa ra phía trước tìm dây. Nhưng trước khi bước, bàn tay phải sờ xuống phía trước, xoa xoa nhẹ một miếng đất xem có gì lạ không mới đặt bàn chân lên. Cứ như thế mà tiến.

Vừa đưa tay xoa xoa dưới cỏ, Bằng bỗng rùng mình vội rụt tay về: "Mìn râu rồi!", nguy hiểm quá, loại này bay lên ngang mặt người mới nổ.

Như vậy, anh đã lọt vào bãi mìn "Thiên la địa võng". Thật khó thoát ra. Bằng là người dày dạn trận mạc nhưng chỉ nắm được phần nào cách gài của du kích. Còn khi họ biến hoá cách gài thì thật khó lường. Bây giờ muốn đi kiểu đặc công trong bãi mìn thì chỉ một mình anh đi nổi. Còn gã tù binh kia thì sao?

Mình tự cứu mình không nổi lại còn phải cứu nó nữa. Anh quay nhìn lại phía hắn. Muốn thoát khỏi chốn này chỉ còn cách… Ở đây chỉ có ta với hắn, không một ai biết được… Sáng mai, ta báo hắn đã chạy trốn vào bãi mìn mà chết. Đơn vị chắc không kỷ luật ta. Nhưng khi tay anh từ từ kéo cò, có cái gì đó níu tay lại.

Trời tối, người tù binh không thấy Bằng đang rờ vào vòng cò chọn giây phút sống chết với hắn. Hắn chết đứng như bị trời trồng. Bằng nói nặng nhọc:

- Nhấc cao chân lên, rê dò đụng vào dây là chết đó. Đi đúng vào bước chân của tôi.

Gã sĩ quan thở hổn hển bước sát vào người Bằng. Anh lầm bầm trong miệng: "Phúc cho mày, chút xíu nữa mày về chầu Diêm vương rồi".

Hắn run lập cập vừa bước vừa cầu Chúa. Hắn do dự. Đi sát bên Bằng cũng sợ. Đi cách Bằng một đoạn để an toàn cũng sợ. Có lúc Bằng dừng lại đưa cho hắn "sờ" thử một trái gài vừa tháo được. Chạm vào vỏ thép lành lạnh làm da hắn sởn gai ốc. Hắn tuy là sĩ quan nhưng chưa từng trải trận mạc. Ở trường sĩ quan Đà Lạt hắn cũng được học cách gỡ mìn, nhưng thực tế chạm vào cái sống và cái chết kiểu này thì chưa từng trải qua. Nhất là cách gài đầy sáng tạo của du kích. Với bãi mìn này và người lính Việt cộng kia, rõ ràng hắn chỉ là tân binh. Hắn ranh mãnh chọn cách đi sau Bằng một đoạn xa. Nếu có chết, phải là Bằng, chứ không thể là hắn được.

Nhưng hắn chưa kịp mừng được bao lâu, ánh chớp xanh lè dưới chân hắn bất ngờ bùng lên. Hắn gục xuống. Hắn không kịp nghe tiếng nổ. Còn Bằng, anh giật nảy mình vì tiếng nổ. Đất cát ném đầy đầu, cổ anh. Mùi thuốc khét lẹt.

Khẩu súng đang đeo sau lưng giật nảy lên vì mảnh chém vào, xô anh té dụi. Bằng ngồi dậy mò mẫm lại phía gã sĩ quan. Hắn nằm phục dưới đất rên hừ hừ. Hắn bị thương. Anh rút trong người ra cuộn băng, rờ rẫm tìm vết thương để băng cho hắn. May hắn chỉ bị thương vào chân.

Vừa băng xong cho hắn, Bằng thấy tay mình tê dần. Mình cũng bị thương rồi. Người bị thương mấy phút đầu không thấy đau. Máu đang trào ra. Nguy quá, vết thương đúng vào bả vai phải. Chỉ còn một tay trái hoạt động trong lúc đau buốt, khó đưa tay trái ngược phía sau mà băng nổi. Để chậm chút nữa, hết máu mình sẽ chết. Phải có người giúp đỡ. Nhưng là ai đây? Trên đồng cỏ lúc này chỉ có ta với người tù binh. Làm sao hắn làm được việc đó khi tay hắn bị trói trật ra phía sau? Mở trói cho hắn? Hắn sẽ cướp súng và thay vị trí của ta. Mình sẽ là tù binh của hắn. Nhưng cứ thử là tù binh thì sao nhỉ? Hắn có đi trước gỡ mìn mở lối không? Liệu hắn sẽ khống chế, bắt ta phải mở đường cho hắn đi? Hắn vẫn là hắn, an toàn ở phía sau. Còn người dám liều chết, mở đường vẫn là ta.

Lúc đó… lúc đó… Không, không bao giờ mở đường cho hắn. Máu ra nhiều quá… Mình phải sống. Nếu mình gục xuống là thất bại. Anh sờ vào khẩu súng, tháo băng đạn ra và kéo khoá nòng. Nhưng khoá nòng đã cứng ngắc. Thôi rồi, nãy anh đeo sau lưng, mảnh lựu đạn bay trúng bộ khoá nòng. Anh bóp cò thử, cò cũng bị liệt. Mảnh đạn văng trúng vào khẩu súng mới trượt xuống vai anh. Nếu không có khẩu súng che, chắc anh đã chết rồi.

Gã sĩ quan nghe anh dùng súng lách cách, giật mình nhổm dậy:

- Ông tha chết, đừng bắn…

- Tôi tháo súng đó. Bây giờ tôi cởi trói cho anh. Đưa tay đây…

Bằng bàn tay trái và một ít cử động yếu của bàn tay phải, anh cởi trói cho người tù binh. Hắn nghe tiếng Bằng:

- Tôi bị thương vào vai bên phải. Anh băng giùm tôi.

Hắn lúng túng vì phải chọn quyết định bất ngờ. Băng cho người lính Việt cộng này? Để cứu hắn ư? Để hắn lại bắt mình làm tù binh? Vậy thì không, để cho mày ra hết máu. Mày phải chết! Còn ta phải được tự do, sẽ về với quê hương, với cuộc sống sung sướng của ta. Súng của hắn đâu, bắt hắn làm tù binh! Nãy hắn nói tháo súng rồi phải không? Hắn khôn thật! Nhưng được rồi, ta không băng cho mày cũng đủ giết chết mày. Cần gì phải súng!

Thấy gã sĩ quan chần chừ. Bằng đưa vào tay hắn trái lựu đạn gài, giọng cứng rắn:

- Anh băng giùm tôi. Nếu không, trước khi chết, tôi sẽ cho nổ trái này, tôi với anh cưa đôi.

Nói rồi anh đưa trái lựu đạn vào ngực hắn. Chất thép lành lạnh chạm vào da thịt làm hắn ớn lạnh sống lưng. Ồ, người Việt cộng này dám cưa đôi với mình thiệt. Chỉ có mình, đáng giá gấp ngàn lần hắn mới không dám chết. Hắn nói là làm, dù gì hắn cũng chết. Còn ta, chạy khỏi đây? Chạy khỏi hắn? Nhưng vừa dợm đứng lên, gã đã sợ. Chạy thì vướng mìn, không chạy cũng chết. À, ta cần có người mở đường ra khỏi bãi mìn. Vậy tên Vệt cộng kia còn có ích cho ta. Không thể để hắn chết được…

Gã đã nghĩ đúng. Gã cần có Bằng cũng như bây giờ Bằng cần có gã. Hai người không giúp nhau lúc này thì cả hai cùng chết.

Hắn cầm lấy cuộn băng, sờ lên vai Bằng tìm vết thủng. Hắn đặt miếng gạc vào đó rồi khéo léo băng cho anh. Hắn băng rất thành thạo. Chắc chắn được học ở trường sĩ quan.

Bằng thấy mắt mình hoa lên. Mệt rã rời, nhưng anh không dám nằm xuống. Gục xuống lúc này, anh sẽ là người chiến bại. Bằng tất cả ý chí của mình, anh gượng đứng lên, cầm lấy sợi dây dù rồi nói với người sĩ quan:

- Đưa tay đây.

Gã sĩ quan quay lại phía anh. Anh ráng hết sức còn lại của mình mà cột. Người anh cứ run lên bần bật. Anh cố tự bảo mình: "Ráng lên, gút này nữa thôi, ráng lên! Đừng gục xuống. Nếu mày gục xuống là mày thua nó". Và rồi sức anh đã tàn. Anh lảo đảo gục xuống.

Bằng còn lờ mờ hiểu được, trước khi khuỵ xuống, nút thắt cuối cùng đã hoàn thành. Ý chí không cho phép anh ngất đi mặc dù sức khoẻ đã kiệt. Anh ở vào trạng thái nửa ngủ nửa thức. Gã sĩ quan cũng ra nhiều máu, cũng rệu rã rồi. Tuy nhiên, nhờ to khoẻ nên hắn còn tỉnh hơn anh chút ít. Hắn không đủ sức giết anh nếu anh còn tỉnh. Hắn ngồi chờ khi anh ngất đi là hắn hành động. Sáng mai, máy bay trực thăng sẽ thấy hắn, sẽ ném dây xuống cứu hắn. Nhưng anh phải ngất hẳn hắn mới dám làm. Hắn sợ anh, trong tay anh còn có trái lựu đạn gài. Nếu anh còn "thức", hắn hành động, anh sẽ chỉ khẽ buông tay là hắn đi đời.

Bằng ở trong trạng thái như vậy đến nửa tiếng. Ý chí kêu anh phải dậy mà thoát khỏi đây. Sáng mai, máy bay đến là nguy to. Việc của anh đầu tiên là nhặt súng. Anh lắp băng đạn vào súng. Khẩu súng đã hỏng rồi, nhưng anh cần có nó.

Anh loạng choạng đứng lên rồi ngồi xổm đưa tay tìm dây. Bàn chân lại đặt đúng vào chỗ bàn tay đã xoa trên đất.

Trời vẫn tối đen. Chắc là khuya lắm. Bỗng Bằng nhận ra phía chân trời một ngôi sao vừa chui ra khỏi đám mây, nhấp nháy. Anh nhằm hướng có ngôi sao ấy mà đi. Gã sĩ quan thấy anh đi, lại lò dò đi theo. Lần này, hắn không "khôn" như ban nãy nữa, bám thật sát anh. Anh vừa nhấc chân đi là hắn đặt bàn chân của mình vào.

Bất ngờ, có tiếng gà vọng tới. Ở đây gần làng ư? Đây là đâu? Vùng giải phóng hay ấp chiến lược? Bằng chỉ còn kịp nghĩ có vậy rồi lặng người đi. Tiếng gà làm anh xúc động. Những đêm hành quân, Bằng vẫn nghe tiếng gà gáy sáng. Nhưng đêm nay, cái đêm cô độc giữa biển cỏ bao la, như là trên hành tinh xa xôi chỉ có hai người, anh bỗng thấy nôn nao. Tiếng gà như nhắc với anh, sau cái đêm tối tăm này, còn có quê hương, có người thân, vợ con anh…

Và anh sửng sốt. Gã sĩ quan cũng chồm dậy lắng nghe tiếng gà. Hắn đang ở trong tâm trạng như anh. Tiếng gà cho Bằng một nghị lực mới làm anh thấy bình tâm lại. Anh bỗng thèm được nói chuyện.

- Anh là thứ mấy trong gia đình?

- Dạ thứ tư.

- Tôi thứ hai. Chắc là anh đông anh em lắm?

- Dạ, đúng như vậy. Gia đình tôi mười anh em cả thảy. Mấy người đã có gia đình và đi làm công sở.

- Vì sao anh lại phải đi lính?

Câu chuyện bỗng dừng lại sau câu hỏi của anh.

Tiếng gà lại vọng sang. Lần này nó nhắc anh trời sắp sáng rồi. Hãy nhanh lên! Anh lại nhổm dậy nhằm hướng có ngôi sao sáng phía chân trời mà đi tới. Không biết ma lực nào cứ hút Bằng về hướng có ngôi sao sáng phía đó. Ít ra nó cũng làm vật chuẩn để họ nhìn vào đó mà căn đường đi tới, dù không hề biết hướng đó sẽ đến đâu. Nhưng anh cứ tin, cứ đi theo. Vừa đi, tay anh vừa sờ xuống cỏ, bàn tay chạm vào vật lạ. Cẩn thận, Bằng nắm chặt cả búi cỏ. Tay kia thọc vào và xác định đúng là trái gài. Bằng sực nhớ. Có lần một chiến sĩ đơn vị anh nghĩ cách gài không cần dùng lon, không dùng dây mà vẫn rút chốt an toàn. Anh ta gài bằng cách dùng cỏ dài cuộn quanh trái gài rồi vùi vào bụi cỏ bên cạnh. Mỏ vịt bật lên, vướng cỏ, nhưng nếu đụng nhẹ, trái gài sẽ bung ra và nổ. So với các kiểu gài đã kể trên, cách gài này nguy hiểm hơn. Chỉ những người gan "cùng mình" mới gỡ nổi. Khi đã cầm gọn nó trên tay, anh lại dùng kim băng gài chốt. Tháo xong trái gài hóc búa này, Bằng thấy người mệt lả. Ngực anh phập phồng, tim đập rộn lên, tay muốn xuôi xuống. Bàn tay lại đụng vào vật gì cong cong, anh rùng mình: Mìn Clây-mo! Anh không đủ sức nhấc nó lên nữa. Anh sờ theo dây tìm con cóc điện rồi vắt nó sang bên lối đi. Thấy chưa an toàn, anh nhè nhẹ xoay mặt lõm của trái mìn ra ngoài. Nếu có nổ, các anh cũng an toàn vì đây là loại mìn định hướng.

Anh kịp nhận ra gã sĩ quan đang thở hổn hển sát mặt mình. Trời ơi! Hai tay hắn đung đưa về phía trước bắt chước anh. Phải rồi, nãy trói hắn nhưng mệt quá anh thắt không chặt, hắn đã gỡ ra được. Anh gằn giọng:

- Sợi dây trói đâu?

Tên sĩ quan thều thào:

- Tuột ra rồi không biết ở đâu…

Đêm tối như mực. Không nhớ đã đi qua chỗ nào làm sao quay lại tìm. Vả lại Bằng đã mệt lắm rồi, không còn sức mà tìm, trói hắn nữa.

Bằng vẫn lo lắng. Khẩu súng của anh đã hỏng rồi. Bây giờ anh với gã ngang nhau. Hai người cùng bị thương, đều mất máu như nhau. Vậy mà, cớ sao nãy giờ hắn vẫn sợ anh? Anh hơn hắn ở điểm nào? Những ý nghĩ đến với anh thật nhanh rồi lại biến đi thật nhanh. Còn lại nỗi lo về bãi mìn. Tay anh lần đụng một trái mìn khác, đã cầm được nó nhưng sức anh yếu quá. Nếu không đủ sức bóp chặt, mỏ vịt sẽ đẩy những ngón tay anh bung ra và búa đập vào hạt nổ. Anh sẽ tan xác. Anh run run đưa lên miệng để cắn cong chốt an toàn. Răng anh chạm vào chốt thép mỏng manh – cái mỏng manh chặn cả khối sức nổ công phá ghê gớm bên trong. Anh ráng sức cắn. Đã có lúc anh muốn gục xuống, rồi kệ, ra sao thì ra.

Anh lại gượng đứng lên. Như có gì đó trong ngực anh, trong đầu, vực toàn bộ cơ thể anh dậy. Anh lại dò dẫm…

Từ nãy giờ, gã sĩ quan vẫn ngồi sát bên anh. Hắn cũng run bần bật. Hắn yếu đến nỗi phải chống tay xuống đất để khỏi đổ kềnh ra. Hắn biết bây giờ hắn đổ xuống, coi như hết đời. Hắn cũng ráng sức để sống. Tuy vậy, hắn vẫn còn sức hơn Bằng, dù chỉ hơn tí chút. Hắn còn tỉnh để nhận ra Bằng đang đưa trái gài lên miệng, tay run rẩy, vẻ nặng nhọc. Hắn hiểu anh cũng đuối sức rồi. Hắn lo quá, chỉ sợ Bằng không đủ sức bóp chặt mỏ vịt và từ đó mồi lửa xanh lè sẽ phụt ra và hắn tan xác. Tim hắn đập rộn lên. Ngực hắn phồng lên vì phải nín thở. Khi Bằng đưa trái lựu đạn lên cắn chốt an toàn, hắn nhắm mắt lại, miệng thốt lên:

- Cẩn thận, anh Hai!

Tiếng hắn thều thào như hơi gió.

Bằng đặt trái lựu đạn sang bên người, nhón chân bước lên. Hắn lại ngoan ngoãn đặt tiếp bàn chân của mình vào.

***

Cho đến sáng hẳn, Bằng và gã tù binh mới ra khỏi bãi mìn. Cảnh đầu tiên đập vào mắt Bằng là rặng cây xanh xanh phía trước. Phía đó, ngôi sao dẫn đường của anh đã trở nên mờ mờ. Con đường rẽ cỏ còn mới dẫn đến nơi anh ngồi. Xung quanh không còn những tấm bảng báo tử địa nữa. Thận trọng, anh vẫn đưa tay sờ ra xung quanh cả một đoạn đường. Đến lúc không còn gặp vật gì lạ, anh mới nói một mình: "Qua rồi". Tiếng nói không cất thành lời.

Gã tù binh cũng nhận thấy điều ấy, nhưng chưa dám tin ngay. Hắn chăm chú nhìn theo bàn tay của Bằng sờ ra xung quanh. Và chỉ khi anh nói: "Qua rồi" với những nếp dãn ra trên mặt, hắn mới dám tin nhưng vẫn hỏi:

- Sao, anh Hai?

- Qua bãi mìn rồi!

Gã tù binh chợt cười. Nhưng chỉ vừa hé môi gã đã gục xuống đất bất tỉnh. Sự căng thẳng đã vượt quá sức chịu đựng của gã.

Bằng vẫn ngồi xuống đó, với cây súng hỏng trong tay. Anh chống báng súng xuống đất để làm điểm tựa cho khỏi ngã. Anh ráng sức giữ chặt lấy nó. Anh thấy người cứ quay quay, sắp gục xuống như người tù binh kia. Anh càng bám chặt vào cây súng. Bây giờ gục xuống là gục luôn. Rồi không biết sự việc kết thúc ra sao. Anh và gã tù binh, ai sẽ là tù binh của ai? Chỉ cần một trong hai người tỉnh dậy trước. Mắt anh hoa lên… Không được gục xuống… Không được… tiếng nói nào cứ văng vẳng bên tai. Nhưng rồi anh cũng gục xuống, không tài nào cưỡng nổi.

Người tù binh tỉnh dậy trước. Gã thấy chói mắt dưới ánh sáng ban mai rực rỡ. Cơn mưa đêm qua đã gột rửa tất cả những gì khô khan của cảnh vật. Cây cối xanh lên. Trên các cành cây khẳng khiu, những lộc non vừa hé. Tiếng chim đâu đó lanh lảnh như không hề biết đến chuyện vừa xảy ra đêm qua. Gã dụi mắt, uể oải đứng lên, bước lại bên Bằng. Bỗng gã giật mình lùi lại. Gã bỏ chạy. Nhưng được mấy bước, gã bỗng dừng lại thở, rồi từ từ đến bên Bằng. Gã luồn tay vào ngực Bằng, nâng anh dậy, miệng kêu thảng thốt:

- Anh Hai! Anh Hai!

Bằng vẫn bất động. Gã sĩ quan bước đến chiếc đìa, dùng hai tay vốc nước nhỏ vào miệng, vào mặt Bằng. Đôi môi Bằng mấp máy, rồi từ từ mở mắt. Anh ngồi ngay dậy.

Phản ứng rất nhanh, anh tính chụp lấy súng. Nhưng ngay giây phút đó, Bằng chợt hiểu ra. Anh nở nụ cười, nói với gã sĩ quan:

- Trời sáng rồi à?

- Dạ, sáng rồi.

N.T
Tháng 6 năm 1981.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Câu cua – Truyện ngắn Lê Văn Tám
Sơn bơi xuồng về, nó ấm ức lắm vì ông Giáo keo kiệt không cho anh em nó mượn cái bình, bình ac quy Đồng Nai nhà nó hết điện đem đi sạc hôm qua, nhanh thì cũng phải hai hôm nữa mơi đủ điện lấy về. Tức lắm, sau này đi học điện, kéo điện về sài cho đã, mua cái tivi màu 50 in coi cho thấy cả cỏ trên sân, thấy cả lông chân cầu thủ, khỏi tivi trắng đen, nạp bình chi cho mệt người. Nó làu nhàu nói với Thành.
Xem thêm
Cát lư hương - Truyện ngắn Lệ Hằng
“Ba, ba… ơ kìa ba!”. Cánh cổng bị chiếc xe va trúng kêu xoảng lên một tiếng khó chịu vô cùng. Tôi nhìn người đàn ông lưng khòm gầy guộc quẩy chiếc nón đội lên đầu rồi dứt khoát đẩy xe cát ra khỏi sân mà chới với gọi theo.
Xem thêm
Đi qua mình truyện ngắn Chu Phương Thảo
Căn nhà nhỏ chìm trong một thứ im lặng quen thuộc đến mức không còn ai đủ sức gọi tên. Không tiếng cãi vã, không lời trách móc, cũng chẳng có một câu xin lỗi hay chia tay nào để khép lại những điều đã nứt vỡ từ rất lâu. Chỉ có hai con người, mỗi người ngồi trong phần tối của riêng mình, lặng lẽ chịu đựng một nỗi đau khác biệt, như thể sự im lặng này đã trở thành cách duy nhất để họ còn có thể ở lại bên nhau.
Xem thêm
Trở lại Phong Điền - Truyện ngắn Kim Quyên
Xe đang qua cầu Cần Thơ. Cây cầu thế kỷ lừng lững soi bóng trên dòng nước bạc mênh mang, những chiếc dây giăng khổng lồ nối từ nóc xuống thân cầu khiến ta không thể hình dung được khối óc và bàn tay con người đã làm nên những chiếc cầu đẹp, hiện đại mang tầm cỡ thế giới. Ban đêm, chiếc cầu mới khoe hết những nét rực rỡ của nó, đèn hoa giăng quanh cầu nhấp nháy khiến khi ngồi trên xe ta có cảm giác đang trôi trên dãy ngân hà của thời hồng hoang nào đó. Phía dưới là dòng sông mênh mông sóng vỗ, những cụm lục bình trôi mãi về nơi chân trời xa tít…
Xem thêm
Cố nhân - Truyện ngắn Cao Duy Sơn
Trở về Cô Sầu, anh đã đi qua hai mươi ba năm, ba tháng, hai mươi ba ngày. Đuôi các con số kết bằng con số ba trùng hợp thật ngẫu nhiên. Bước qua phố nhỏ, mái ngói tuềnh toàng gợi bao ký ức. Thời gian làm con người đổi thay nhưng phố xưa vẫn phố xưa đây.
Xem thêm
Rừng Thiêng - Truyện ngắn Võ Đào Phương Trâm
Rừng mang linh hồn từ máu và nước mắt, những lời nguyền kỳ bí không ít lần vận lên ngôi mộ của những gã ngông nghênh, hằn sâu ấn tích cho những ai vắt cuộc đời mình bằng nghề lộc gỗ mà không hiểu được nguyên tắc từ nơi rừng thiêng nước độc...
Xem thêm
Linh hồn bị giam cầm – Truyện ngắn Angela Kosta
Angela Kosta sinh ra tại Elbasan (Albania) và sống tại Ý từ năm 1995. Bà là Giám đốc điều hành của các Tạp chí: MIRIADE, NUANCES ON THE PANORAMIC CANVAS, BRIDGES OF LITERATURE, biên tập viên, nhà viết tiểu luận, nhà báo, nhà phê bình văn học, nhà xuất bản và nhà quảng bá văn học. Bà đã xuất bản 25 cuốn sách: tiểu thuyết, thơ và truyện cổ tích bằng tiếng Albania, tiếng Ý, tiếng Ả Rập, tiếng Pháp, tiếng Hàn, tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Anh. Tác phẩm của Angela Kosta đã được dịch và xuất bản ở 40 ngôn ngữ nước ngoài và quốc gia. Năm 2023, tạp chí OBELISK tuyên bố bà là dịch giả xuất sắc nhất với bản dịch của nhà thơ đoạt giải Nobel Giosuè Alessandro Giuseppe Carducci.
Xem thêm
Genki và chiếc nắng trước hiên – Truyện ngắn Lê Hoàng Kha
Chiều ấy, nắng chạm rất khẽ vào lưng Genki. Cái bóng của nó in xuống nền gạch. Hơi méo, hơi lệch nhưng rất rõ một cái bóng đủ đầy. Tôi chợt hiểu: con người ta, cả đời đi tìm hai chữ “hoàn hảo”. Nhưng có lẽ, điều đáng quý hơn là “toàn vẹn”. Toàn vẹn trong chính hình dạng của mình. Toàn vẹn trong những gì mình có, chứ không phải trong những gì mình thiếu. Genki không dạy tôi cách trở nên mạnh mẽ, nó dạy tôi cách trở nên dịu dàng với chính mình.
Xem thêm
Như xuân tìm xứ – Truyện ngắn của Tống Phước Bảo
Thằng Ấu nhất quyết chỉ có cha già xuôi ghe từ Cái Rơn xuống chợ đèn dầu mỗi cuối tuần mới biết. Chứ hỏi khắp cái chợ thì ai cũng lắc đầu nguầy nguậy. Đám bán chợ này sinh sau đẻ muộn, khi mà trái sáng đã thôi rơi ngoài phía rạch, hỏa châu thôi làm đèn soi đêm khu bốn.
Xem thêm
Tôi viết truyện ngắn Tết - Truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều
Một buổi chiều khi chị đang tha thẩn trong vườn bên những khóm hoa hồng thì Giêm bước đến và nói gì đó nhưng chị không hiểu. Chị vô cùng lúng túng và khó chịu. Chị muốn bỏ vào nhà. Nhưng thấy Giêm vẫn hào hứng nói chị không lỡ bỏ đi. Đang lúc chị không biết làm cách nào thì chàng nhà văn trẻ xuất hiện. “Cậu làm gì mà mất mặt cả chiều thế. Cậu có nhiệm vụ làm phiên dịch cho chúng tôi đấy’’. Chị gắt một cách vô lý. Hình như Giêm cũng rất mừng khi chàng nhà văn trẻ xuất hiện. Giêm nói một tràng dài. Chị muốn biết Giêm nói gì nhưng không giục chàng nhà văn trẻ dịch. “Tôi cũng không có nhu cầu nghe’’. Chị nói thầm. “Anh ấy bảo nhà anh ấy cũng có một khu vườn nhỏ và đầy hoa hồng – Chàng nhà văn trẻ dịch – Một năm sau khi từ chiến trường Việt Nam trở về, anh ấy bị trầm cảm.
Xem thêm
Người giỏi Sán Trá - Bút ký của Thế Quynh
Vượt dốc Bản Công, chiếc xe Honda Win 100 chạy ì ì, tiếng máy gằn lên nặng nhọc. Ngồi sau tay lái Hờ A Xà - nguyên cán bộ văn hóa xã Bản Công (nay là xã Hạnh Phúc) mà lòng tôi cứ thấp thỏm mỗi lúc vào cua. Hơn chục km, phân nửa thuộc thôn Bản Công đã bê tông hóa, còn lại vẫn là đường đất.
Xem thêm
Con Ngọ và tôi - Truyện ngắn Kim Quyên
Năm đó, con Ngọ 16 tuổi, còn tôi hơn nó 2 tuổi. Nó con ông cậu, em ruột của má tôi nên nó kêu tôi bằng chị. Gia đình bên ngoại nó không có dì cậu nào hết nên nó xem tôi như người chị ruột. Hai chị em gặp nhau là tíu tít không rời.
Xem thêm
Người cận vệ của vua Hàm Nghi - Truyện ngắn của Trần Thúc Hà
Một người ở xuôi thường lên xuống các bản làng dân tộc thiểu số bán muối và mua các sản vật của rừng. Người ấy cũng đã có vài lần đến bản ông, một bản làng tận rừng sâu heo hút trên dãy Trường Sơn, nơi thượng nguồn sông Long Đại, sông Nhật Lệ, sát biên giới với nước Lào.
Xem thêm
Mây trắng Tràng An – Truyện lịch sử Nguyễn Thị Việt Nga
Từng dải dài lững lờ như tơ trời vắt qua bầu không gian xám nhạt. Có cụm mây xốp như gấm, có mảng mây mỏng như làn khói, có vệt rời rạc như hơi thở cuối cùng của một người hấp hối. Tất cả trôi, không âm thanh, không phương hướng. Trôi như đã trôi ngàn năm trên trời đất Tràng An này.
Xem thêm
Hoa vẫn nở - Truyện ngắn của Nguyễn Thị Minh Phương
Hoa vẫn nở của Nguyễn Thị Minh Phương là một truyện ngắn thấm đẫm không khí miền núi, nơi bi kịch gia đình, thân phận người đàn bà và sự mù quáng của lòng ghen được kể lại bằng giọng văn chậm, sâu và nhân ái.
Xem thêm
Khai khẩu - Truyện ngắn của Nguyễn Trường
Lúc đó khoảng 9 giờ sáng, một người lính tìm gặp Diệu Thúy, trao cho cô lá thư, nói là của ngài Trung tá tỉnh trưởng Kiến Hòa.Diệu Thúy hồi hộp mở thư ra đọc: “Gửi cô Diệu Thúy. Việc cô nhờ tôi đã có kết quả, đúng 11 giờ trưa nay, cô đưa cậu Hai đến dinh tỉnh trưởng, phải đúng giờ”. Bức thư làm Diệu Thúy hiểu và bắt đầu lo. Bởi vì, kể ra cô cũng liều thật, bây giờ ngài trung tá tỉnh trưởng làm được theo lời khẩn cầu của cô, nghĩa là cô phải đáp đền những đề nghị của ngài, mà cái đề nghị đó mới oái oăm làm sao.
Xem thêm
Đuổi theo bóng nắng - Truyện ngắn của Lữ Thị Mai
Nhà tôi ở sườn đồi, nhìn xuống dòng sông Mã. Cha tôi kể rằng, xưa kia đây vốn là vùng chuyên quy tập hài cốt bộ đội hy sinh.
Xem thêm
Chuyện lạ ngày Xuân “Ăn trộm đào”
LTS: Mỗi độ Tết đến, giữa không khí lễ hội tưng bừng, không ít người phương Đông vẫn còn niềm tin mơ hồ rằng thực và ảo có thể bất chợt giao nhau. “Ăn Trộm Đào” là một câu chuyện như thế — vừa mang dáng dấp hội hè, vừa phảng phất trò ảo thuật dân gian. Truyện do nhà văn Bồ Tùng Linh (Pu Songling) ghi chép trong Liêu Trai Chí Dị vào đời Thanh. Bản tiếng Anh dùng để dịch ở đây là của Herbert A. Giles xuất bản năm 1880 trong cuốn Strange Stories from a Chinese Studio. Hiện nội dung được công khai trên Project Gutenberg, như một nhịp cầu nối kho tàng truyện cổ với độc giả quốc tế.
Xem thêm
Thương nhau ngày Tết - Truyện Võ Đào Phương Trâm
Mưa cuối mùa, tầm tã nặng hạt, như trút cho hết nước xuống từng ngõ ngách nội đô. Tiếng gió thốc mạnh, va vào tấm bạt như muốn xé toạc bằng cơn thịnh nộ. Mỗi lần gió lớn, tấm bạt tròng trành đổ ào đống nước nặng trịch xuống đường, văng tung tóe. Bên dưới, người đàn bà ngồi co ro, cái gánh chè đậu đen, đậu xanh còn nóng hổi nhưng chưa bán được một nửa, đành chịu cảnh vắng khách. Chiếc nón lá thỉnh thoảng bị gió thổi bật ra phía sau như một trò bỡn cợt với thân phận người nghèo, trượt giữa mặt đường đời, chông chênh và cam chịu.
Xem thêm