TIN TỨC

Bát pin – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-07-27 01:22:04
mail facebook google pos stwis
466 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Có những kỷ niệm tưởng đã lùi rất xa vào dĩ vãng, vậy mà chỉ cần một âm thanh quen thuộc bất chợt vang lên là tất cả lại hiện về rõ ràng như mới hôm qua. Với tôi, đó là tiếng nói ấm áp phát ra từ chiếc đài bán dẫn cũ – thứ âm thanh từng thắp sáng những ngày tháng gian khó nơi miền quê chưa có điện. Và mỗi lần nhớ về chiếc đài ấy, tôi lại nhớ đến “bát pin” – một sáng kiến vụng về nhưng chứa đựng biết bao niềm hy vọng của một thời thiếu thốn mà đầy khát khao.

 

Ảnh minh họa. Nguồn internet

 

Ngày rời quân ngũ trở về, hành trang của tôi chỉ là chiếc ba lô cũ, vài bộ quần áo và mấy món đồ lặt vặt. Trong đó, quý nhất là chiếc đài bán dẫn hai loa, ba băng tần hiệu “Standa”, chạy bằng ba quả pin. Vỏ nhựa đã ngả màu theo năm tháng, mặt lưới loa hơi xước, chiếc cần dò sóng bằng kim loại lúc nào cũng được tôi lau sạch như một báu vật. Tôi đã đổi nó bằng bộ quân phục cùng khoản trợ cấp xuất ngũ hơn bốn mươi đồng. Với nhiều người, đó chỉ là một chiếc đài cũ; còn với tôi, đó là tài sản quý giá nhất, là niềm vui lớn lao của cả một thời.

Chiếc đài theo tôi về ngôi nhà đất đơn sơ giữa bản nghèo. Từ ngày có nó, căn nhà như có thêm một người bạn mới. Mỗi buổi sớm, tiếng nhạc cất lên cùng làn sương còn giăng kín ngoài hiên. Mỗi buổi tối, giữa ánh đèn dầu leo lét, tiếng nói từ chiếc đài lại làm cho gian nhà bớt quạnh vắng. Nó mang theo hơi thở của cuộc sống ngoài kia, đưa những câu chuyện từ khắp mọi miền đất nước vượt núi, vượt rừng đến với một miền quê còn nhiều thiếu thốn.

Đối với tôi ngày ấy, chiếc đài không chỉ để nghe tin tức hay giải trí. Nó là ô cửa nhỏ mở ra thế giới rộng lớn ngoài những dãy núi. Qua làn sóng phát thanh, tôi biết thêm bao điều mới mẻ, được đắm mình trong dân ca, chèo, quan họ, cải lương và mong ngóng từng chương trình quen thuộc. Tối thứ Bảy có “Câu chuyện cảnh giác”, sáng Chủ nhật là “Chuyện kể ở đại đội”, còn mười giờ đêm là “Tiếng thơ”. Giữa màn đêm tĩnh lặng của núi rừng, những câu thơ ngân lên trầm ấm, thấm vào lòng người như hơi sương lặng lẽ ngấm vào đất.

Chưa một lần gặp mặt, nhưng giọng hát của Thu Hiền, Trung Đức, Thanh Hoa, Minh Vương, Thanh Kim Huệ… đã trở thành những người bạn thân thiết. Tiếng hát theo tôi lên nương, xuống ruộng, đồng hành trong những buổi phát cỏ, cuốc đất, gặt lúa. Mỗi khi mang chiếc đài theo bên mình, con dốc dường như thấp hơn, thửa ruộng như ngắn lại, còn những nhọc nhằn cũng nhẹ đi rất nhiều.

Thế nhưng, niềm vui ấy không phải lúc nào cũng trọn vẹn. Có hôm trời quang, tiếng đài trong veo, giọng phát thanh viên vang lên như ở ngay trước mặt. Nhưng mỗi khi mưa giông kéo đến, sóng phát thanh lại chập chờn, tiếng được tiếng mất, lẫn trong những âm thanh rè rè xa lạ. Tôi kiên nhẫn xoay từng nấc dò sóng, nâng cao chiếc ăng-ten, dịch chiếc đài hết góc này sang góc khác của căn nhà, chỉ mong bắt lại được làn sóng thân quen.

Ngày ấy, quê tôi chưa có điện lưới. Chiếc đài chỉ sống nhờ ba quả pin khô, trong khi pin lại hiếm như một thứ hàng xa xỉ. Muốn mua cũng không phải lúc nào có tiền là mua được; nhiều khi còn phải chờ phân phối theo tem phiếu. Bởi vậy, mỗi khi tiếng đài bắt đầu nhỏ dần, rè đi rồi yếu hẳn, lòng tôi cũng chùng xuống. Tôi hiểu rằng nguồn điện trong những quả pin đã gần cạn.

Không nỡ để chiếc đài yếu tiếng, tôi tìm đủ mọi cách níu giữ chút năng lượng còn sót lại. Pin cũ được ghép với pin mới; những viên đã hết được tháo ra, cạo sạch hai đầu cực rồi mang phơi nắng, hy vọng vớt vát thêm chút điện cuối cùng. Có lúc, tôi còn dùng ống nứa nối nhiều viên pin thành một dãy dài để tăng điện áp, chỉ mong chiếc đài cất thêm vài bản tin hay một đoạn nhạc quen thuộc. Nhưng mọi cố gắng cũng chỉ kéo dài được ít giờ. Rồi chiếc đài lại lặng im, bởi những viên pin ấy đã cạn kiệt đến giọt năng lượng cuối cùng.

Không cam lòng nhìn chiếc đài mãi im tiếng, tôi nhớ đến nguyên lý tạo dòng điện đơn giản từng được học và quyết định thử nghiệm bằng những vật liệu sẵn có trong nhà.

Mỗi chiếc bát ăn cơm được tôi tận dụng làm một “ngăn pin”. Tôi nhặt những lõi than từ các viên pin cũ đã bỏ đi, kiếm từng mảnh nhôm, đoạn dây đồng, rồi hòa muối vào nước đổ đầy bát. Lõi than và các mảnh kim loại được nối với nhau bằng những sợi dây đồng nhỏ. Chiếc bát thứ nhất nối sang chiếc bát thứ hai, rồi chiếc thứ ba… Cứ thế, từng “ngăn pin” được mắc nối tiếp bằng tất cả sự kiên nhẫn, mày mò và hy vọng của tôi.

Khó khăn nhất là hàn nối các đầu dây. Không có mỏ hàn, tôi lấy chiếc cắt tút cũ đập dẹt rồi nung nóng để thay thế. Thiếc hàn phải gỡ từ những bảng mạch hay chiếc đài hỏng. Thiếu nhựa thông, tôi dùng nhựa trám làm chất trợ hàn. Có khi mối nối lỏng, tôi lại cắt từng đoạn săm xe đạp cũ để buộc chặt, giữ cho các điểm tiếp xúc được ổn định. Có hôm, dưới ánh đèn dầu leo lét đến tận khuya, tôi vẫn kiên nhẫn hơ nóng chiếc cắt tút, chấm từng giọt thiếc lên mối nối, chỉ mong dòng điện nhỏ nhoi ấy đủ sức làm chiếc đài cất lên tiếng nói quen thuộc.

Tôi đi xin từng đoạn dây đồng, nhặt từng mảnh nhôm từ chiếc gác-đờ-bu xe đạp cũ đem về cắt thành điện cực. Đôi bàn tay lúc nào cũng mằn mặn mùi nước muối, nhiều khi rát buốt vì ngâm lâu trong dung dịch.

Rồi đến một hôm, sau không biết bao nhiêu lần tháo ra lắp vào, điều chỉnh độ mặn, tôi hồi hộp nối hai đầu dây cuối cùng vào chiếc đài. Căn nhà im phăng phắc. Tôi khẽ xoay núm nguồn. Chiếc loa chỉ bật lên vài tiếng rè rất khẽ. Tim như muốn ngừng đập. Tôi lại cúi xuống kiểm tra từng mối nối, siết lại một đoạn dây đồng hơi lỏng, thêm chút nước muối vào chiếc bát ở đầu dãy rồi thử lại lần nữa…

Bất chợt, sau vài tiếng lách tách yếu ớt như sóng đang dò đường, giọng phát thanh viên cất lên rõ dần. Tôi lặng người. Bàn tay vẫn đặt trên núm chỉnh âm lượng mà quên cả buông xuống. Tiếng nhạc hiệu quen thuộc bỗng vang lên giữa căn nhà nhỏ khiến tôi đứng sững, như sợ chỉ cần cử động mạnh, dòng điện mong manh ấy sẽ vụt tắt.

Cảm giác lúc ấy thật khó diễn tả. Không phải vì tôi vừa tạo ra một nguồn điện lớn lao, mà vì những chiếc bát ăn cơm bình dị, những lõi pin cũ, mảnh nhôm vụn và nước muối đã thực sự đánh thức chiếc đài sau bao ngày im tiếng. Trong căn nhà nhỏ chỉ có ánh đèn dầu leo lét, tiếng phát thanh vang lên… như một mạch sống vừa được khơi lại từ những thứ tưởng chừng đã bỏ đi.

Câu chuyện “làm điện bằng bát ăn cơm” chẳng mấy chốc lan sang hàng xóm. Có người tò mò ghé xem, ngồi xổm bên gầm giường ngắm nghía hồi lâu rồi bật cười, bảo tôi nghĩ ra lắm trò. Có người bán tín bán nghi, lắc đầu không tin mấy chiếc bát nước muối lại có thể làm chiếc đài cất tiếng. Nhưng khi tôi bật công tắc, tiếng phát thanh thật sự vang lên, ai nấy đều tròn mắt ngạc nhiên. Mấy đứa trẻ chui xuống gầm giường đếm từng chiếc bát, người lớn thì xuýt xoa hỏi cách làm. Căn nhà vốn yên tĩnh bỗng rộn rã tiếng cười.

Những chiếc bát xếp thành hàng dưới gầm giường, nối với nhau bằng những sợi dây đồng chằng chịt, trở thành một “trạm điện” nhỏ trong nhà. Ban đầu tôi còn cẩn thận kê gọn, che chắn kỹ. Nhưng dần dần, mọi thứ cứ bày ra tự nhiên như một phần sinh hoạt hằng ngày.

Có lần, tôi đặt chiếc đài ngay đầu giường nghe chương trình đêm khuya. Dưới gầm giường là “nhà máy điện” bát pin. Đang lúc câu chuyện trên đài hấp dẫn thì con chó rượt con mèo, cả hai lao vào góc nhà, húc phải dàn bát. Một tiếng “loảng xoảng” vang lên trong đêm. Nước muối tràn ra nền đất, dây đồng bung rối như mạng nhện, những chiếc bát nghiêng ngả. Tiếng đài lập tức tắt phụt.

Tôi bật dậy, chui vội xuống gầm giường trong bóng tối, lần từng chiếc bát để nối lại mạch điện. Nhưng khi mọi thứ vừa tạm ổn, chương trình đã trôi xa mất rồi. Tôi ngồi lặng rất lâu dưới gầm giường. Không phải vì tiếc những chiếc bát hay công sức, mà vì tiếc một câu chuyện đang nghe dang dở giữa đêm khuya.

Dần dần, tôi hiểu rằng “bát pin” không phải thứ làm một lần là xong. Nó giống như một cơ thể sống, phải chăm sóc liên tục. Hôm nào quên thay nước, hôm sau tiếng đài sẽ yếu đi rõ rệt. Nước muối cũng phải vừa đủ mặn: loãng quá thì dòng điện yếu, còn mặn quá thì các điện cực lại nhanh bị ăn mòn. Chỉ một mối nối lỏng hay một thanh kim loại bị ăn mòn đứt rời cũng đủ làm cả hệ thống “im tiếng”. Tôi phải “nếm” độ mặn bằng kinh nghiệm, phải thử bằng cảm giác hơn là công thức, như thể đang giữ một sinh thể sống bằng sự cân bằng mong manh giữa nước – muối – kim loại.

Rồi thời gian trôi đi, cuộc sống cũng dần đổi khác. Điện lưới về tới từng bản làng. Những chiếc đài bán dẫn thô sơ lui vào dĩ vãng, nhường chỗ cho đài cát-sét, ti vi, rồi những thiết bị hiện đại hơn. Sau này, khi máy phát điện nhỏ, bình ắc quy xuất hiện, việc nghe tin tức không còn là điều phải chắt chiu từng viên pin như trước nữa.

Thế nhưng, mỗi lần nghe lại một âm thanh quen thuộc từ radio hay một giai điệu cũ, ký ức về “bát pin” năm nào vẫn bất chợt hiện về. Không chỉ là nhớ một cách làm điện thô sơ, mà là nhớ cả một thời đã sống, đã chờ đợi, đã kiên nhẫn đi qua thiếu thốn bằng tất cả sự sáng tạo và bền bỉ của mình.

N.H.Q

Bài viết liên quan

Xem thêm
Những ngọn đèn đứng gác trong đêm – Tản văn của Vũ Minh Phúc
Suốt đêm dài, họ không ngủ và như thể còn trong giấc ngủ chập chờn, tôi nói chuyện với họ, về công việc, gia đình, con gái, luôn trong trạng thái lo lắng; và sau một hồi tiếp nhận đủ các thông tin từ trung tâm báo về, họ ngập đầu trong các ca trực, nghe điện thoại, ghi chép nhật ký lịch trình thời gian tàu chạy, giải quyết ùn tắc ở ngã tư và đóng barie chắn ngang, tôi mới hiểu tại sao trong mọi tình huống giao thông nguy hiểm người gác chắn lại trở nên quan trọng hơn đối với tất cả mọi người.
Xem thêm
Tiếng trống ngày khai trường giữa hai thế hệ - Tản văn Nguyễn Đại Duẫn
Sáng nay, tôi đưa cháu đến trường dự lễ khai giảng năm học mới. Con đường đến trường như cũng vui hơn trong tiếng nói cười của trẻ nhỏ; tiếng ồn ào xe cộ, tiếng lao xao của các bậc phụ huynh. Cháu tôi năm nay vào lớp 1, cái tuổi vừa ngỡ ngàng, rụt rè vừa muốn tìm hiểu làm cho tâm trạng cháu vừa hồi hộp vừa náo nức. Cháu mặc bộ quần áo mới, đeo chiếc cặp trên vai, bàn tay nhỏ xíu nắm lấy tay ông. Nhìn cháu nhảy chân sáo bước vào cổng trường, lòng tôi bỗng rộn ràng một niềm vui khó tả.
Xem thêm
Từ mùa thu 1945 đến kỷ nguyên vươn mình của dân tộc – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Trong không gian phát triển mới đầy thách thức và cơ hội đó, mục tiêu chiến lược của Đảng vì con người được thể hiện một cách nhất quán, xuyên suốt và mang tầm vóc đột phá. Trước hết, đó là quyết tâm chính trị cao độ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm an sinh xã hội bền vững, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền để tinh thần không ai bị bỏ lại phía sau trở thành hiện thực sinh động trong từng cộng đồng dân cư.
Xem thêm
Tiếng chim trong vườn bà – Tản văn của Trà Bình
Tôi trở về ngôi nhà cũ của bà vào một buổi chiều mùa hạ. Ngôi nhà cấp bốn nằm nép mình trong xóm nhỏ giờ im lìm, cửa đóng then cài, mái ngói phủ rêu xanh. Tôi chậm rãi bước ra khu vườn trước nhà. Đứng bên gốc vải già còn sót lại vài quả cuối vụ, tôi chợt nghe tiếng chim lảnh lót từ vòm cây vọng xuống, như đánh thức miền ký ức tuổi thơ.
Xem thêm
Pha Đin – Nơi đỉnh trời vương vấn – Bút ký Đào Thị Thu Hiền
Trên cửa ngõ của chiến trường Điện Biên, tôi nghĩ đèo Pha Đin quả là một huyền thoại. Huyền thoại không phải chỉ được hiểu theo nghĩa là một phương pháp sáng tác trong văn học dân gian nhằm giải thích, phân chia ranh giới của hai tỉnh Sơn La và Điện Biên như người Thái từng kể, mà là cách gọi một hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường như người ta nghĩ. Cái hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường ấy không có gì khác ngoài sự khốc liệt của chiến tranh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp để bảo vệ đất nước diễn ra trên con đèo.
Xem thêm
Vận dụng nghệ thuật chỉ huy tác chiến của Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới
Kỷ niệm 115 năm Ngày sinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp (25/8/1911 - 25/8/2026) là dịp để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thành kính tưởng nhớ, tri ân sâu sắc công lao to lớn của vị Tổng Tư lệnh văn võ song toàn, người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Xem thêm
Ngoại tôi – Tản văn Nguyễn Đức Hải
Nhớ hồi nhỏ, ngoại và tụi bạn cùng trang lứa trong ấp lội đồng bắt cá, chân lấm tay bùn vô tư lắm. Bắt được con cá lóc, cả đám gom rơm rạ khô trui ngay bên bờ cỏ, da cá cháy xém, mùi thơm phức lan tỏa trong gió chiều. Cá chín được xé ra nóng hổi, chấm muối ớt cay xé lưỡi, đứa nào cũng hít hà, miệng mồm đen nhẻm. Những ký ức thời tuổi thơ ấy đã làm nên một tuổi trẻ thấm đẫm hồn quê miền Tây, vừa hồn hậu, vừa nguyên sơ. Ngoại mỉm cười, ánh mắt đong đầy bao hoài niệm của một thời đã xa.
Xem thêm
Trái tim xanh của Bắc Kinh
Vào những ngày nóng nắng nhất đầu tháng 8, tôi cùng đoàn nhà văn TP.HCM hăm hở kéo va ly sang Bắc Kinh.
Xem thêm
Nhà văn Khuynh Diệp nằm hầm bí mật và tình yêu với TP Hồ Chí Minh
Cuộc thi “50 năm thành phố trong tôi” giúp nhà văn Khuynh Diệp lan tỏa ký ức, gửi gắm tình yêu dành cho TPHCM – nơi ông đã đi qua chiến tranh, trưởng thành trong nghề viết và gắn bó hơn nửa thế kỷ.
Xem thêm
Dòng suối mát trong rừng Mạn Ngược – Tùy bút Phương Uyên
Quê hương tôi có thể chưa nổi tiếng trên những bản đồ du lịch, nhưng với tôi, dòng suối giữa đại ngàn luôn là món quà đẹp nhất mà thiên nhiên đã ban tặng. Đó là vẻ đẹp của sự giản dị, thuần khiết và bền bỉ, như chính tâm hồn của những con người miền núi luôn chân thành, mộc mạc mà nghĩa tình.
Xem thêm
Mồ hôi và nước mắt tìm kiếm liệt sĩ
Chiến tranh đã lùi vào quá khứ nửa thế kỷ, nhưng dư âm của những năm tháng máu trộn bùn non vẫn còn khắc sâu trên từng tấc đất quê hương, trong tâm trí của triệu triệu người con đất Việt. Những người lính Cụ Hồ, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, những chiến sĩ biệt động và dân quân du kích năm ấy, khi dấn thân ra trận, tuổi đời hãy còn rất trẻ; các anh, các chị mang theo những hoài bão thanh xuân mãnh liệt và cả những ước mơ còn dang dở. Rồi trong khói lửa đạn bom khắc nghiệt, các anh, các chị đã anh dũng ngã xuống, hóa thân thành hồn thiêng sông núi, trở thành một phần máu thịt của đất trời Tổ quốc. Hưởng ứng hành trình 500 ngày đêm tìm kiếm hài cốt và xác định danh tính liệt sĩ đang được triển khai sâu rộng trên toàn quốc, hàng triệu trái tim lại thổn thức, cùng hướng về một cuộc hành trình lặng thầm nhưng vô cùng cao cả: tìm kiếm, đón các anh, các chị về với đất mẹ, về với vòng tay ôm ấp của gia đình, người thân và quê hương xứ sở.
Xem thêm
Sắc tím bàng vuông - Tản văn Nguyễn Thu Hà SG
Tháng sáu, hoa bàng vuông nhà mình năm nay nở đặc bông. Thứ hoa chẳng được bày trưng bao giờ, cứ bung rực ra sắc tím tươi như những lời hẹn ước. Đôi khi em bắt gặp con đứng cạnh lồng chim và đăm đăm ngắm chùm hoa đang rộ. Tiếng con nhồng kêu lanh lảnh “ Cha về! Cha về!” làm thằng bé chợt giật mình…
Xem thêm
Cuộc gặp gỡ kỳ lạ - Bút ký của Vũ Minh Phúc
Năm ấy, tôi được cử lên Điện Biên Phủ để tường thuật về sự kiện 1.000 anh hùng thời đại Hồ Chí Minh. Những con người anh hùng nhất, dũng cảm nhất, hôm ấy giữa Hội trường khang trang rộng lớn, ai cũng thổn thức kể chuyện đời mình. Những tấm huân, huy chương lấp lánh và cao quý nhất trên ngực những người lính già, nó được dành để trao tặng cho những con người đã hy sinh cả cuộc đời mình cho sự nghiệp vĩ đại của Tổ quốc. Cuộc gặp gỡ qua đi, tôi về nhà, nhưng những câu chuyện ấy chẳng bao giờ qua đi, nó như cứ trở đi trở lại trong những giấc mơ.
Xem thêm
Nhà tù Sơn La và cây đào Tô Hiệu
Mỗi lần trở lại nhà tù Sơn La, gót chân tôi như bị níu chặt trước cây đào mang tên người chiến sĩ cộng sản Tô Hiệu. Giống như lần trước, tôi lại trông thấy rất nhiều người vây quanh và lặng yên chụp ảnh bên tấm biển nhỏ cắm ở dưới gốc cây đào. Cội đào cổ thụ kiêu hãnh bên nền móng cổ xưa như thể tựa mình vào vách đá của tù ngục; sừng sững ngay bên lối vào với cành lá tươi xanh, tán xoè rộng khắp như thể đang che chở cho những miền ký ức.
Xem thêm
Trên những nẻo đường tri ân - Ký của Nguyên Hùng
Dọc dải đất miền Trung, nơi từng rung chuyển bởi đạn bom và nước mắt, vẫn còn đó những địa danh đã đi vào tâm thức dân tộc: Trường Sơn, Khe Sanh, Thành cổ Quảng Trị, sông Thạch Hãn, địa đạo Vĩnh Mốc... Mỗi tấc đất, mỗi dòng sông là một trang sử được viết bằng máu của những người lính tuổi hai mươi.
Xem thêm
Em đợi anh về
Dòng sông Vàm Cỏ vẫn miệt mài chảy, nước vẫn trôi đi, thời gian vẫn luân hồi qua từng mùa lá rụng. Nhưng bên bờ sông ấy, có những nỗi nhớ đã hóa đá, có những tình yêu đã vượt thoát khỏi ranh giới của sự sống và cái chết, để trở thành một biểu tượng bất tử. Câu chuyện về người chiến sĩ - liệt sĩ Huỳnh Văn Quên và người con gái Nguyễn Thị Lệ là một minh chứng sâu sắc – một câu chuyện được viết bằng máu, nước mắt và tấm lòng sắt son của người phụ nữ Việt Nam trong khói lửa chiến tranh.
Xem thêm
Nghĩa tình với liệt sĩ
Những ngày này, cả nước cùng tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ, chúng ta lại càng thấm thía hơn về hai chữ “tri ân”. Tri ân không chỉ là những vòng hoa, những nén tâm hương thành kính dâng trên đài tưởng niệm, mà đôi khi còn là những câu chuyện lặng thầm, bền bỉ được thắp sáng từ nghĩa đồng bào, tình đồng đội sâu nặng giữa thời bình.
Xem thêm
Tiếng ghi - ta rung lên ngày ấy - Tản văn Văn Lê Tám
Có những chuyến đi là để trở về, nhưng cũng có những lần trở về chỉ để nhận ra mình đã vĩnh viễn đánh rơi một phần hồn ở lại. Ba mươi năm, một chớp mắt của đất trời, nhưng là hơn nửa đời người đối với nhóm bạn lớp 8A2 ngày ấy trên quê hương Minh Hải.
Xem thêm
Một đêm Bến Hải - Bút ký của Nguyễn Thị Việt Nga
Đặt trong bối cảnh quốc tế hôm nay, khi nhiều nơi trên thế giới vẫn còn tiếng súng, vẫn còn những dòng người rời bỏ quê hương, vẫn còn những đứa trẻ lớn lên giữa đổ vỡ, vẫn còn những đường biên bị biến thành vết thương, một đêm Bến Hải càng trở nên thấm thía. Từ một dòng sông từng là giới tuyến, Việt Nam gửi đi một lời nhắn không ồn ào nhưng bền bỉ: hòa bình không phải là một trạng thái tự nhiên, mà là thành quả của lương tri, của đối thoại, của sự kiềm chế, của lòng nhân ái và của trách nhiệm với tương lai.
Xem thêm
A Pa Chải, một lần đến cả đời thương nhớ
Chúng tôi muốn lưu lại với miền đất ba biên A Pa Chải lắm, nhưng để kịp cho hành trình trở về vào ngày hôm sau nên cũng đành phải chia tay với Sín Thầu trong những luyến tiếc. Tạm biệt “vùng đất bằng phẳng rộng lớn”, nghĩa của từ A Pa Chải theo tiếng địa phương của đồng bào Hà Nhì, chúng tôi khép lại một hành trình khám phá miền cực Tây thân thương của Tổ quốc và mang theo về cả một khoảng trời biên viễn cùng với tâm nguyện sẽ có một ngày được trở lại. Thế đấy, có những vùng đất, có những chuyến đi, dù chỉ một lần chạm mặt mà trong lòng đã thầm gửi lại cả một đời thương nhớ. Có lẽ từ đây, A Pa Chải trong tôi cũng vậy. Nó đã gieo vào lòng tôi những thanh âm bâng khuâng của một miền biên thuỳ, trong niềm thương bản quán chẳng thể nào quên.
Xem thêm