TIN TỨC

Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-07-29 19:40:13
mail facebook google pos stwis
2269 lượt xem

NGUYỄN VĂN HÒA

Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm. Đó không chỉ là tiếng nói của thi ca, mà trước hết là lời tự sự của một người lính đã từng đi qua chiến trường ác liệt, mang theo ký ức đồng đội, những mất mát không thể bù đắp, để rồi kết tinh thành những vần thơ giàu tính nhân bản, có sức ám ảnh bền bỉ trong lòng người đọc.

Nhà văn Nguyễn Văn Hòa (trái) và nhà thơ CCB Trần Ngọc Phượng.

Sinh năm 1945 tại Sài Gòn, quê gốc Nam Định, Trần Ngọc Phượng nhập ngũ từ rất sớm và có gần 10 năm chiến đấu ở chiến trường miền Đông Nam Bộ trong vai trò Đài trưởng vô tuyến điện của Đoàn 814 - Cục Hậu cần B2. Chính những năm tháng ấy đã hun đúc nên một tâm hồn vừa kiên cường vừa nhạy cảm. Điều đáng trân quý là ngay giữa những thời khắc khốc liệt nhất của chiến tranh, khi cái chết luôn cận kề, ông vẫn làm thơ, vẫn ghi lại cảm xúc của mình trên những tờ giấy pơ-luya mỏng manh. Những câu thơ ấy không được viết trong sự bình yên, mà được chắt lọc giữa bom đạn, giữa những bước hành quân gian khổ, giữa ranh giới mong manh của sự sống và cái chết.

Trong ký ức thơ Trần Ngọc Phượng, những địa danh như Dốc Năm Cua, Ngã ba Cây Cầy không chỉ là vị trí địa lý mà đã trở thành biểu tượng của một thời máu lửa. Đó là những cung đường vận tải ác liệt, nơi con người đối diện với hiểm nguy từng giờ, từng phút. Trong Dốc Năm Cua, ông viết: “Nào xong chưa/ Ta vượt Dốc Năm Cua/ Hơi thuốc cuối sáng mặt người bình thản…”.

Sự “bình thản” ấy là bản lĩnh, là cốt cách của người lính được tôi luyện từ gian khổ, từ niềm tin vào ngày chiến thắng. Cũng như trong Ngã ba Cây Cầy, hình ảnh thân cây bị bom đạn tàn phá mà vẫn “hiên ngang đứng vững giữa trời” đã trở thành biểu tượng cho ý chí, niềm tin của con người: “Đã bao lần xe ta vượt lên/ Nơi trọng điểm pháo bầy bom giội/ Thương thân cây máu tuôn nhựa xối/ Vẫn hiên ngang đứng vững giữa trời…”.

Chính từ những không gian chiến tranh ấy, nơi sự sống và cái chết luôn cận kề, mạch cảm xúc tri ân trong thơ Trần Ngọc Phượng được hình thành và ngày càng trở nên sâu đậm theo năm tháng.  Là người lính trực tiếp tham gia chiến đấu ở chiến trường nên nhà thơ càng thấu rõ những khó khăn, vất vả, thiệt thòi. Trong những lúc khó khăn nhất, nguy hiểm nhất, cái chết cận kề ông thể làm cho ông chùn bước. Niềm tin và ý thức của một người lính bộ đội cụ Hồ đã giúp ông vượt qua tất cả.

Ngày đất nước thống nhất, đứa con gọi mẹ trong niềm hân hoan bằng lời thông báo: “Con sống rồi mẹ ơi!”. Tiếng gọi mẹ trong niềm vui trào dâng nhưng đằng sau đó là nỗi xót xa khi những người bạn, người đồng chí, đồng đội của mình đã ra đi mãi mãi. “Con sống rồi/ Tưởng không ngày trở lại/ Tưởng như thật như mơ/ Đất nước reo vui đỏ rợp sắc cờ/ Tiếng reo đầu tiên/ Con xin dâng cho Mẹ/…// Bao bà Mẹ mất con/ Bao người vợ mất chồng/ Nước mắt nhòa bảng Tổ quốc ghi công/ Khói nhang bay trên nấm mồ Liệt sĩ/ Ai biết hòa bình/ Bao máu xương phải trả?/ Con của mẹ sống rồi/ Trong đất nước trường sinh”.

Một trong những bài thơ tiêu biểu thể hiện chiều sâu tri ân ấy là Chiều nghĩa trang Trường Sơn. Không gian nghĩa trang hiện lên trong ánh chiều lặng lẽ, bảng lảng khói hương, nơi mỗi hàng mộ trắng như một chứng tích của lịch sử. Ở đó, người sống không chỉ đến viếng, mà còn để lắng nghe, để đối thoại với những người đã khuất. Giọng thơ chậm rãi, trầm mặc, không bi lụy mà thấm đẫm suy tư. Những nấm mộ vô danh hay hữu danh đều quy tụ về một ý nghĩa chung: sự hy sinh đã hóa thành nền tảng cho hòa bình hôm nay. “Hương khói bay/ Lồng lộng gió ngàn/ Đang bật dậy/ Những linh hồn/ Bất tử!”. Đứng trước nghĩa trang, nhà thơ không chỉ tưởng niệm, mà còn tự vấn, như một cách để nhắc nhở chính mình và thế hệ hôm nay về trách nhiệm sống xứng đáng.

“Đất nước hòa bình/ Nhưng nào đã bình yên/ Giặc ngoại xâm, nội xâm đe dọa/ Biển trước mặt phơi đầy xác cá/ Rừng sau lưng trơ trọi gốc cây/ Trẻ đến trường/ Phải lội suối, đeo dây/ Tàu ngư dân bị đâm từ tàu lạ”.

Nếu chiến tranh là nơi ông chứng kiến sự hy sinh, thì hậu chiến là nơi ký ức ấy tiếp tục sống lại trong day dứt. Trần Ngọc Phượng viết về những người đồng đội đã nằm lại mà không tìm được hài cốt, về những “nấm mộ vô danh” trải dài khắp đất nước. Bài thơ Bên nấm mộ vô danh là một trong những tác phẩm tiêu biểu thể hiện sâu sắc nhất nỗi đau ấy. Hình ảnh người lính Thanh Tề hiện về trong ký ức: “Thắp nhang lên/ Thấy em hiện về/ Nheo mắt cười tinh nghịch:/ ‘Chúng mình dễ gì chết…’”

Nụ cười ấy gợi lại một thời tuổi trẻ, một niềm tin hồn nhiên vào sự sống. Nhưng chính vì thế mà thực tại càng trở nên xót xa: người đã hy sinh, không còn tên tuổi, không còn dấu tích cụ thể. Nỗi đau ở đây không ồn ào, mà âm ỉ, day dứt. Bài thơ đặt ra một câu hỏi lớn về thân phận: khi người lính đã hy sinh tất cả, liệu họ có được nhớ đến trọn vẹn? Và chính sự không trọn vẹn ấy làm nên chiều sâu nhân văn trong thơ Trần Ngọc Phượng. Đó là sự tri ân không chỉ bằng cảm xúc mà bằng ý thức gìn giữ ký ức.

Cùng với đó, bài Mười cô gái Đồng Lộc là một khúc tưởng niệm đầy xúc động về những nữ thanh niên xung phong đã hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ. Họ không chỉ là những cá nhân, mà là biểu tượng của cả một thế hệ. Thơ Trần Ngọc Phượng không xoáy vào bi thương, mà khắc họa vẻ đẹp của sự dâng hiến. Sự hy sinh của các chị vì thế không chìm vào mất mát, mà tỏa sáng như một giá trị bất tử.

Trong Nụ cười Thành Cổ, cảm xúc tri ân lại được thể hiện qua một hình ảnh giàu tính biểu tượng. “Nụ cười” của người lính trước giờ ra trận, trước cái chết, là nụ cười của lòng dũng cảm, của sự chấp nhận. Nhưng chính nụ cười ấy lại trở thành ám ảnh, bởi phía sau nó là những mất mát không thể bù đắp. Sự đối lập giữa nụ cười và cái chết làm nên sức nặng cảm xúc cho bài thơ, khiến người đọc không khỏi suy ngẫm về giá trị của hòa bình hôm nay.

Một cách thể hiện khác của mạch thơ tri ân là thông qua những chi tiết rất đời thường, như trong Cái ba lô con cóc. Chiếc ba lô nhỏ bé ấy trở thành biểu tượng của cả một thế hệ người lính. Nó không chỉ chứa vật dụng mà còn chứa cả ký ức, tình cảm, lý tưởng, niềm tin và chiều sâu tâm hồn người lính.

Trong khi đó, Đón anh về cùng đất nước vui xuân lại đặt cảm xúc tri ân trong bối cảnh hòa bình. Người lính trở về, nhưng không còn nguyên vẹn; đất nước đã độc lập, nhưng cái giá phải trả là vô cùng lớn. Niềm vui đoàn tụ vì thế luôn đi kèm với nỗi xót xa. Sự đan xen giữa hai trạng thái cảm xúc ấy tạo nên một dư âm đặc biệt - một mùa xuân không chỉ của hiện tại, mà còn của ký ức. “Đón anh về cùng đất nước vui Xuân/ Vẫn đội hình trùng điệp hành quân/ Vẫn mũ tai bèo, ba lô con cóc/ Đường anh đi năm xưa/ Bây giờ bao đổi khác/…// Những cung đường xưa đổ nát/ Nay mọc lên những thành phố nguy nga”. Niềm vui hòa bình luôn đi cùng khoảng trống của những người đã hy sinh.

Còn ở bài Nơi cửa ngõ anh nằm mang đến một sắc thái tâm linh sâu đậm. Ở đó, nhà thơ không chỉ tưởng nhớ, mà còn như trò chuyện với những linh hồn liệt sĩ. Những người đã khuất không hề mất đi mà vẫn hiện diện, vẫn dõi theo vận mệnh đất nước. Bài thơ giống như một lời khấn nguyện, thể hiện niềm tin vào sự bất tử của những hy sinh.“Máu xương anh tan vào lòng đất/ Kết tụ thành linh khí Quốc gia…// Về bên mộ anh/ muôn vàn thương nhớ/ Nửa thế kỷ đi qua/ Mỗi bước đi, bao ngọt bùi cay đắng/ Chậm hay nhanh?/ Dài hay ngắn?/ Vẫn chưa hết đâu những tham nhũng bất công/ Nhưng niềm tin như sắc nắng ửng hồng …”.

Điểm nổi bật trong thơ Trần Ngọc Phượng là sự đồng hiện giữa quá khứ và hiện tại, niềm tin tưởng tốt đẹp vào tương lai. Những gì đã qua không bị đóng lại, mà luôn hiện diện trong đời sống hôm nay. Sự hy sinh của người lính không chỉ thuộc về lịch sử, mà còn tiếp tục sống trong từng công trình, từng con đường, từng nhịp sống của đất nước. Chính vì thế, tri ân trong thơ ông không chỉ là nhớ, mà còn là ý thức sống tiếp, sống xứng đáng với những hy sinh to lớn của các thế hệ cha ông.

Ở tuổi ngoài 80, thơ Trần Ngọc Phượng càng trở nên trầm lắng, giàu chiêm nghiệm. Ông viết về thời gian, về tuổi tác, nhưng không hề bi quan mà vẫn có một niềm tin bền bỉ: “Thơ vẫn còn le lói chiều hôm…”. Đó không chỉ là ánh sáng của ký ức, của lòng tri ân mà còn là sự tiếp nối giữa các thế hệ.

Đọc thơ Trần Ngọc Phượng trong dịp 27/7, điều đọng lại không chỉ là những hình ảnh chiến tranh, mà là một hệ giá trị sâu sắc: lòng biết ơn, sự thủy chung, niềm tin vào đất nước và trách nhiệm của người còn sống, của thế hệ trẻ hôm nay. Thơ ông không bi lụy, không tô hồng, mà đứng ở điểm cân bằng giữa đau thương và niềm hy vọng. Chính điều đó làm nên sức sống bền bỉ của một tiếng thơ xuất phát từ người lính, một thương binh, người đã đi qua chiến tranh bằng chính tuổi thanh xuân của cuộc đời mình.

Ở đó, mỗi bài thơ là một mảnh ký ức, mỗi câu chữ là một nén hương tưởng niệm. Và khi những dòng thơ ấy được đọc lên trong ngày 27/7, không chỉ nhắc nhớ về quá khứ, mà còn nhắc nhở hiện tại: phải biết trân trọng hòa bình, phải sống xứng đáng với những hy sinh của bao thế hệ cha ông đã làm nên đất nước hôm nay.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thơ Lê Văn Sự - Tiếng thơ của vùng ký ức
Lê Văn Sự, nguyên là giáo viên dạy toán, nhưng tâm hồn thơ dào dạt, làm nên những vẻ đẹp “phi logic” của ngôn ngữ thơ. Không “đại ngôn”, nhưng phải nói rằng, anh là một nhà thơ “toàn tòng”. Cho đến nay, Lê Văn Sự đã xuất bản 11 tập thơ, trong số 12 tác phẩm đã công bố của anh. Anh là tiếng thơ cất lên từ làng bước ra xa lộ, nâng niu, đắm đuối ký ức.
Xem thêm
Thơ Trương Trọng Nghĩa từ góc nhìn phê bình sinh thái
Hành trình sáng tạo tuy chưa dài và còn nhiều dự cảm, nhưng Trương Trọng Nghĩa đã tự khẳng định tâm thế và tâm cảm của mình để hình thành chất thơ và thi pháp cá nhân. Thơ anh nặng sâu tình người, tình quê hương, xứ sở. Và trong quá trình đô thị hóa của xã hội Việt Nam thời hiện đại, nó giúp nhà thơ và giúp người đọc tìm về nguồn cội để được sống lại trong không - thời gian sinh thái thiên nhiên và sinh thái nhân văn trong sáng, thanh bình cho mỗi phận người và mỗi kinh nghiệm quan hệ người
Xem thêm
Trương Nam Hương – Thi sĩ tuổi Mèo với những câu thơ đẹp như nỗi buồn
Thơ Trương Nam Hương tài hoa mà đằm thắm, đau đáu với mẹ cha, quê nhà và những ân tình không thể nguôi quên. Nhân sinh nhật lần thứ 63 của nhà thơ (23/10/1963 – 23/10/2026), Văn chương TP.HCM trân trọng giới thiệu bài viết của Lê Huy Hòa như một món quà thân tình gửi đến anh – người thi sĩ vẫn bền bỉ gìn giữ những miền xanh trong trẻo của tâm hồn.
Xem thêm
Ấm áp những nụ cười trong tập thơ “Có phải cô là nắng” của Phan Thanh Tâm
Có phải Cô là nắng là tác phẩm thứ 9 và Tuyển tập thơ thứ 2 viết cho thiếu nhi của Nhà văn Phan Thanh Tâm. Tập thơ có 50 bài thơ đề cập đến nhiều chủ đề với cái nhìn dễ thương của trẻ thơ.
Xem thêm
Thơ ca và những tấm lòng đồng điệu trong buổi ra mắt sách của Phan Thanh Tâm
Bởi suy cho cùng, những hạt nắng đẹp nhất trong thơ thiếu nhi chính là những hạt nắng được gieo vào tâm hồn trẻ nhỏ.
Xem thêm
Tôi gọi Hoa của nước là hoa chữ trường ca
Tôi gọi Hoa của nước của nữ nhà văn Trầm Hương là “Hoa chữ trường ca”. Đây không phải sự tung hô tùy hứng, càng không phải lời khen dành cho tác phẩm của nhà văn đương đại tại TP.HCM. Hoa của nước đẹp nhưng không phải do tô điểm thành nên!
Xem thêm
Từ biểu tượng trong thơ đến việc tìm hiểu đặc trưng của thơ cổ điển, siêu thực
Khi tìm hiểu đặc trưng của các trào lưu (phong cách, trường phái) văn học, có thể bắt đầu từ các khái niệm gần gũi như hình tượng, biểu tượng... Bài viết này dùng các khái niệm này để lần lượt mở cánh cửa đi vào thế giới thơ cổ điển và thơ siêu thực.
Xem thêm
Ký ức trần thuật trong tiểu thuyết Trước bình minh của Trần Thị Hảo
Tiểu thuyết Trước bình minh của Trần Thị Hảo mở ra một thế giới ký ức, nơi những biến động của lịch sử, chiến tranh và đời sống hậu chiến được soi chiếu qua số phận một con người.
Xem thêm
Con khiếu rất linh
Nguyễn Linh Khiếu đã làm cho chính sử, một thứ đại lịch sử/đại tự sự, vỡ ra thành nhiều lịch sử, nhiều tiểu tự sự. Như dòng sông Hồng được tiếp nước từ các chi lưu lại chia nước cho các phân lưu để tạo thành một mạng lưới thủy văn. Mỗi dòng sông con đều bắt đầu câu chuyện của riêng nó. Một lịch sử đời thường với những cảm quan phồn sinh sâu sắc, đồng thời là một tư duy phản biện lịch sử...
Xem thêm
Người sống với văn chương cùng thời
PGS-TS Hồ Thế Hà đọc Thi pháp truyện ngắn hiện đại của Bùi Việt Thắng, Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 2020
Xem thêm
Đời vẫn xanh, tình vẫn xanh và thơ…
Bài đăng tạp chí Sông Hương, tháng 9/2026
Xem thêm
Đi qua “nham thạch”, đón mùi “lụa hương”
Có những bài thơ, vừa đọc qua, đã cảm thấy độ nóng bỏng như lửa, nhưng ngẫm kỹ, lại thấy bên trong ấy, chứa đầy một thế giới rất mềm mại, dịu êm. Cũng có những bài thơ chỉ thoảng qua như một mùi hương, tưởng nhẹ tênh mà lại đủ sức níu lấy cả một miền ký ức.
Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm