TIN TỨC

Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-07-29 19:40:13
mail facebook google pos stwis
144 lượt xem

NGUYỄN VĂN HÒA

Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm. Đó không chỉ là tiếng nói của thi ca, mà trước hết là lời tự sự của một người lính đã từng đi qua chiến trường ác liệt, mang theo ký ức đồng đội, những mất mát không thể bù đắp, để rồi kết tinh thành những vần thơ giàu tính nhân bản, có sức ám ảnh bền bỉ trong lòng người đọc.

Nhà văn Nguyễn Văn Hòa (trái) và nhà thơ CCB Trần Ngọc Phượng.

Sinh năm 1945 tại Sài Gòn, quê gốc Nam Định, Trần Ngọc Phượng nhập ngũ từ rất sớm và có gần 10 năm chiến đấu ở chiến trường miền Đông Nam Bộ trong vai trò Đài trưởng vô tuyến điện của Đoàn 814 - Cục Hậu cần B2. Chính những năm tháng ấy đã hun đúc nên một tâm hồn vừa kiên cường vừa nhạy cảm. Điều đáng trân quý là ngay giữa những thời khắc khốc liệt nhất của chiến tranh, khi cái chết luôn cận kề, ông vẫn làm thơ, vẫn ghi lại cảm xúc của mình trên những tờ giấy pơ-luya mỏng manh. Những câu thơ ấy không được viết trong sự bình yên, mà được chắt lọc giữa bom đạn, giữa những bước hành quân gian khổ, giữa ranh giới mong manh của sự sống và cái chết.

Trong ký ức thơ Trần Ngọc Phượng, những địa danh như Dốc Năm Cua, Ngã ba Cây Cầy không chỉ là vị trí địa lý mà đã trở thành biểu tượng của một thời máu lửa. Đó là những cung đường vận tải ác liệt, nơi con người đối diện với hiểm nguy từng giờ, từng phút. Trong Dốc Năm Cua, ông viết: “Nào xong chưa/ Ta vượt Dốc Năm Cua/ Hơi thuốc cuối sáng mặt người bình thản…”.

Sự “bình thản” ấy là bản lĩnh, là cốt cách của người lính được tôi luyện từ gian khổ, từ niềm tin vào ngày chiến thắng. Cũng như trong Ngã ba Cây Cầy, hình ảnh thân cây bị bom đạn tàn phá mà vẫn “hiên ngang đứng vững giữa trời” đã trở thành biểu tượng cho ý chí, niềm tin của con người: “Đã bao lần xe ta vượt lên/ Nơi trọng điểm pháo bầy bom giội/ Thương thân cây máu tuôn nhựa xối/ Vẫn hiên ngang đứng vững giữa trời…”.

Chính từ những không gian chiến tranh ấy, nơi sự sống và cái chết luôn cận kề, mạch cảm xúc tri ân trong thơ Trần Ngọc Phượng được hình thành và ngày càng trở nên sâu đậm theo năm tháng.  Là người lính trực tiếp tham gia chiến đấu ở chiến trường nên nhà thơ càng thấu rõ những khó khăn, vất vả, thiệt thòi. Trong những lúc khó khăn nhất, nguy hiểm nhất, cái chết cận kề ông thể làm cho ông chùn bước. Niềm tin và ý thức của một người lính bộ đội cụ Hồ đã giúp ông vượt qua tất cả.

Ngày đất nước thống nhất, đứa con gọi mẹ trong niềm hân hoan bằng lời thông báo: “Con sống rồi mẹ ơi!”. Tiếng gọi mẹ trong niềm vui trào dâng nhưng đằng sau đó là nỗi xót xa khi những người bạn, người đồng chí, đồng đội của mình đã ra đi mãi mãi. “Con sống rồi/ Tưởng không ngày trở lại/ Tưởng như thật như mơ/ Đất nước reo vui đỏ rợp sắc cờ/ Tiếng reo đầu tiên/ Con xin dâng cho Mẹ/…// Bao bà Mẹ mất con/ Bao người vợ mất chồng/ Nước mắt nhòa bảng Tổ quốc ghi công/ Khói nhang bay trên nấm mồ Liệt sĩ/ Ai biết hòa bình/ Bao máu xương phải trả?/ Con của mẹ sống rồi/ Trong đất nước trường sinh”.

Một trong những bài thơ tiêu biểu thể hiện chiều sâu tri ân ấy là Chiều nghĩa trang Trường Sơn. Không gian nghĩa trang hiện lên trong ánh chiều lặng lẽ, bảng lảng khói hương, nơi mỗi hàng mộ trắng như một chứng tích của lịch sử. Ở đó, người sống không chỉ đến viếng, mà còn để lắng nghe, để đối thoại với những người đã khuất. Giọng thơ chậm rãi, trầm mặc, không bi lụy mà thấm đẫm suy tư. Những nấm mộ vô danh hay hữu danh đều quy tụ về một ý nghĩa chung: sự hy sinh đã hóa thành nền tảng cho hòa bình hôm nay. “Hương khói bay/ Lồng lộng gió ngàn/ Đang bật dậy/ Những linh hồn/ Bất tử!”. Đứng trước nghĩa trang, nhà thơ không chỉ tưởng niệm, mà còn tự vấn, như một cách để nhắc nhở chính mình và thế hệ hôm nay về trách nhiệm sống xứng đáng.

“Đất nước hòa bình/ Nhưng nào đã bình yên/ Giặc ngoại xâm, nội xâm đe dọa/ Biển trước mặt phơi đầy xác cá/ Rừng sau lưng trơ trọi gốc cây/ Trẻ đến trường/ Phải lội suối, đeo dây/ Tàu ngư dân bị đâm từ tàu lạ”.

Nếu chiến tranh là nơi ông chứng kiến sự hy sinh, thì hậu chiến là nơi ký ức ấy tiếp tục sống lại trong day dứt. Trần Ngọc Phượng viết về những người đồng đội đã nằm lại mà không tìm được hài cốt, về những “nấm mộ vô danh” trải dài khắp đất nước. Bài thơ Bên nấm mộ vô danh là một trong những tác phẩm tiêu biểu thể hiện sâu sắc nhất nỗi đau ấy. Hình ảnh người lính Thanh Tề hiện về trong ký ức: “Thắp nhang lên/ Thấy em hiện về/ Nheo mắt cười tinh nghịch:/ ‘Chúng mình dễ gì chết…’”

Nụ cười ấy gợi lại một thời tuổi trẻ, một niềm tin hồn nhiên vào sự sống. Nhưng chính vì thế mà thực tại càng trở nên xót xa: người đã hy sinh, không còn tên tuổi, không còn dấu tích cụ thể. Nỗi đau ở đây không ồn ào, mà âm ỉ, day dứt. Bài thơ đặt ra một câu hỏi lớn về thân phận: khi người lính đã hy sinh tất cả, liệu họ có được nhớ đến trọn vẹn? Và chính sự không trọn vẹn ấy làm nên chiều sâu nhân văn trong thơ Trần Ngọc Phượng. Đó là sự tri ân không chỉ bằng cảm xúc mà bằng ý thức gìn giữ ký ức.

Cùng với đó, bài Mười cô gái Đồng Lộc là một khúc tưởng niệm đầy xúc động về những nữ thanh niên xung phong đã hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ. Họ không chỉ là những cá nhân, mà là biểu tượng của cả một thế hệ. Thơ Trần Ngọc Phượng không xoáy vào bi thương, mà khắc họa vẻ đẹp của sự dâng hiến. Sự hy sinh của các chị vì thế không chìm vào mất mát, mà tỏa sáng như một giá trị bất tử.

Trong Nụ cười Thành Cổ, cảm xúc tri ân lại được thể hiện qua một hình ảnh giàu tính biểu tượng. “Nụ cười” của người lính trước giờ ra trận, trước cái chết, là nụ cười của lòng dũng cảm, của sự chấp nhận. Nhưng chính nụ cười ấy lại trở thành ám ảnh, bởi phía sau nó là những mất mát không thể bù đắp. Sự đối lập giữa nụ cười và cái chết làm nên sức nặng cảm xúc cho bài thơ, khiến người đọc không khỏi suy ngẫm về giá trị của hòa bình hôm nay.

Một cách thể hiện khác của mạch thơ tri ân là thông qua những chi tiết rất đời thường, như trong Cái ba lô con cóc. Chiếc ba lô nhỏ bé ấy trở thành biểu tượng của cả một thế hệ người lính. Nó không chỉ chứa vật dụng mà còn chứa cả ký ức, tình cảm, lý tưởng, niềm tin và chiều sâu tâm hồn người lính.

Trong khi đó, Đón anh về cùng đất nước vui xuân lại đặt cảm xúc tri ân trong bối cảnh hòa bình. Người lính trở về, nhưng không còn nguyên vẹn; đất nước đã độc lập, nhưng cái giá phải trả là vô cùng lớn. Niềm vui đoàn tụ vì thế luôn đi kèm với nỗi xót xa. Sự đan xen giữa hai trạng thái cảm xúc ấy tạo nên một dư âm đặc biệt - một mùa xuân không chỉ của hiện tại, mà còn của ký ức. “Đón anh về cùng đất nước vui Xuân/ Vẫn đội hình trùng điệp hành quân/ Vẫn mũ tai bèo, ba lô con cóc/ Đường anh đi năm xưa/ Bây giờ bao đổi khác/…// Những cung đường xưa đổ nát/ Nay mọc lên những thành phố nguy nga”. Niềm vui hòa bình luôn đi cùng khoảng trống của những người đã hy sinh.

Còn ở bài Nơi cửa ngõ anh nằm mang đến một sắc thái tâm linh sâu đậm. Ở đó, nhà thơ không chỉ tưởng nhớ, mà còn như trò chuyện với những linh hồn liệt sĩ. Những người đã khuất không hề mất đi mà vẫn hiện diện, vẫn dõi theo vận mệnh đất nước. Bài thơ giống như một lời khấn nguyện, thể hiện niềm tin vào sự bất tử của những hy sinh.“Máu xương anh tan vào lòng đất/ Kết tụ thành linh khí Quốc gia…// Về bên mộ anh/ muôn vàn thương nhớ/ Nửa thế kỷ đi qua/ Mỗi bước đi, bao ngọt bùi cay đắng/ Chậm hay nhanh?/ Dài hay ngắn?/ Vẫn chưa hết đâu những tham nhũng bất công/ Nhưng niềm tin như sắc nắng ửng hồng …”.

Điểm nổi bật trong thơ Trần Ngọc Phượng là sự đồng hiện giữa quá khứ và hiện tại, niềm tin tưởng tốt đẹp vào tương lai. Những gì đã qua không bị đóng lại, mà luôn hiện diện trong đời sống hôm nay. Sự hy sinh của người lính không chỉ thuộc về lịch sử, mà còn tiếp tục sống trong từng công trình, từng con đường, từng nhịp sống của đất nước. Chính vì thế, tri ân trong thơ ông không chỉ là nhớ, mà còn là ý thức sống tiếp, sống xứng đáng với những hy sinh to lớn của các thế hệ cha ông.

Ở tuổi ngoài 80, thơ Trần Ngọc Phượng càng trở nên trầm lắng, giàu chiêm nghiệm. Ông viết về thời gian, về tuổi tác, nhưng không hề bi quan mà vẫn có một niềm tin bền bỉ: “Thơ vẫn còn le lói chiều hôm…”. Đó không chỉ là ánh sáng của ký ức, của lòng tri ân mà còn là sự tiếp nối giữa các thế hệ.

Đọc thơ Trần Ngọc Phượng trong dịp 27/7, điều đọng lại không chỉ là những hình ảnh chiến tranh, mà là một hệ giá trị sâu sắc: lòng biết ơn, sự thủy chung, niềm tin vào đất nước và trách nhiệm của người còn sống, của thế hệ trẻ hôm nay. Thơ ông không bi lụy, không tô hồng, mà đứng ở điểm cân bằng giữa đau thương và niềm hy vọng. Chính điều đó làm nên sức sống bền bỉ của một tiếng thơ xuất phát từ người lính, một thương binh, người đã đi qua chiến tranh bằng chính tuổi thanh xuân của cuộc đời mình.

Ở đó, mỗi bài thơ là một mảnh ký ức, mỗi câu chữ là một nén hương tưởng niệm. Và khi những dòng thơ ấy được đọc lên trong ngày 27/7, không chỉ nhắc nhớ về quá khứ, mà còn nhắc nhở hiện tại: phải biết trân trọng hòa bình, phải sống xứng đáng với những hy sinh của bao thế hệ cha ông đã làm nên đất nước hôm nay.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm