TIN TỨC

Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-07-29 19:40:13
mail facebook google pos stwis
1958 lượt xem

NGUYỄN VĂN HÒA

Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm. Đó không chỉ là tiếng nói của thi ca, mà trước hết là lời tự sự của một người lính đã từng đi qua chiến trường ác liệt, mang theo ký ức đồng đội, những mất mát không thể bù đắp, để rồi kết tinh thành những vần thơ giàu tính nhân bản, có sức ám ảnh bền bỉ trong lòng người đọc.

Nhà văn Nguyễn Văn Hòa (trái) và nhà thơ CCB Trần Ngọc Phượng.

Sinh năm 1945 tại Sài Gòn, quê gốc Nam Định, Trần Ngọc Phượng nhập ngũ từ rất sớm và có gần 10 năm chiến đấu ở chiến trường miền Đông Nam Bộ trong vai trò Đài trưởng vô tuyến điện của Đoàn 814 - Cục Hậu cần B2. Chính những năm tháng ấy đã hun đúc nên một tâm hồn vừa kiên cường vừa nhạy cảm. Điều đáng trân quý là ngay giữa những thời khắc khốc liệt nhất của chiến tranh, khi cái chết luôn cận kề, ông vẫn làm thơ, vẫn ghi lại cảm xúc của mình trên những tờ giấy pơ-luya mỏng manh. Những câu thơ ấy không được viết trong sự bình yên, mà được chắt lọc giữa bom đạn, giữa những bước hành quân gian khổ, giữa ranh giới mong manh của sự sống và cái chết.

Trong ký ức thơ Trần Ngọc Phượng, những địa danh như Dốc Năm Cua, Ngã ba Cây Cầy không chỉ là vị trí địa lý mà đã trở thành biểu tượng của một thời máu lửa. Đó là những cung đường vận tải ác liệt, nơi con người đối diện với hiểm nguy từng giờ, từng phút. Trong Dốc Năm Cua, ông viết: “Nào xong chưa/ Ta vượt Dốc Năm Cua/ Hơi thuốc cuối sáng mặt người bình thản…”.

Sự “bình thản” ấy là bản lĩnh, là cốt cách của người lính được tôi luyện từ gian khổ, từ niềm tin vào ngày chiến thắng. Cũng như trong Ngã ba Cây Cầy, hình ảnh thân cây bị bom đạn tàn phá mà vẫn “hiên ngang đứng vững giữa trời” đã trở thành biểu tượng cho ý chí, niềm tin của con người: “Đã bao lần xe ta vượt lên/ Nơi trọng điểm pháo bầy bom giội/ Thương thân cây máu tuôn nhựa xối/ Vẫn hiên ngang đứng vững giữa trời…”.

Chính từ những không gian chiến tranh ấy, nơi sự sống và cái chết luôn cận kề, mạch cảm xúc tri ân trong thơ Trần Ngọc Phượng được hình thành và ngày càng trở nên sâu đậm theo năm tháng.  Là người lính trực tiếp tham gia chiến đấu ở chiến trường nên nhà thơ càng thấu rõ những khó khăn, vất vả, thiệt thòi. Trong những lúc khó khăn nhất, nguy hiểm nhất, cái chết cận kề ông thể làm cho ông chùn bước. Niềm tin và ý thức của một người lính bộ đội cụ Hồ đã giúp ông vượt qua tất cả.

Ngày đất nước thống nhất, đứa con gọi mẹ trong niềm hân hoan bằng lời thông báo: “Con sống rồi mẹ ơi!”. Tiếng gọi mẹ trong niềm vui trào dâng nhưng đằng sau đó là nỗi xót xa khi những người bạn, người đồng chí, đồng đội của mình đã ra đi mãi mãi. “Con sống rồi/ Tưởng không ngày trở lại/ Tưởng như thật như mơ/ Đất nước reo vui đỏ rợp sắc cờ/ Tiếng reo đầu tiên/ Con xin dâng cho Mẹ/…// Bao bà Mẹ mất con/ Bao người vợ mất chồng/ Nước mắt nhòa bảng Tổ quốc ghi công/ Khói nhang bay trên nấm mồ Liệt sĩ/ Ai biết hòa bình/ Bao máu xương phải trả?/ Con của mẹ sống rồi/ Trong đất nước trường sinh”.

Một trong những bài thơ tiêu biểu thể hiện chiều sâu tri ân ấy là Chiều nghĩa trang Trường Sơn. Không gian nghĩa trang hiện lên trong ánh chiều lặng lẽ, bảng lảng khói hương, nơi mỗi hàng mộ trắng như một chứng tích của lịch sử. Ở đó, người sống không chỉ đến viếng, mà còn để lắng nghe, để đối thoại với những người đã khuất. Giọng thơ chậm rãi, trầm mặc, không bi lụy mà thấm đẫm suy tư. Những nấm mộ vô danh hay hữu danh đều quy tụ về một ý nghĩa chung: sự hy sinh đã hóa thành nền tảng cho hòa bình hôm nay. “Hương khói bay/ Lồng lộng gió ngàn/ Đang bật dậy/ Những linh hồn/ Bất tử!”. Đứng trước nghĩa trang, nhà thơ không chỉ tưởng niệm, mà còn tự vấn, như một cách để nhắc nhở chính mình và thế hệ hôm nay về trách nhiệm sống xứng đáng.

“Đất nước hòa bình/ Nhưng nào đã bình yên/ Giặc ngoại xâm, nội xâm đe dọa/ Biển trước mặt phơi đầy xác cá/ Rừng sau lưng trơ trọi gốc cây/ Trẻ đến trường/ Phải lội suối, đeo dây/ Tàu ngư dân bị đâm từ tàu lạ”.

Nếu chiến tranh là nơi ông chứng kiến sự hy sinh, thì hậu chiến là nơi ký ức ấy tiếp tục sống lại trong day dứt. Trần Ngọc Phượng viết về những người đồng đội đã nằm lại mà không tìm được hài cốt, về những “nấm mộ vô danh” trải dài khắp đất nước. Bài thơ Bên nấm mộ vô danh là một trong những tác phẩm tiêu biểu thể hiện sâu sắc nhất nỗi đau ấy. Hình ảnh người lính Thanh Tề hiện về trong ký ức: “Thắp nhang lên/ Thấy em hiện về/ Nheo mắt cười tinh nghịch:/ ‘Chúng mình dễ gì chết…’”

Nụ cười ấy gợi lại một thời tuổi trẻ, một niềm tin hồn nhiên vào sự sống. Nhưng chính vì thế mà thực tại càng trở nên xót xa: người đã hy sinh, không còn tên tuổi, không còn dấu tích cụ thể. Nỗi đau ở đây không ồn ào, mà âm ỉ, day dứt. Bài thơ đặt ra một câu hỏi lớn về thân phận: khi người lính đã hy sinh tất cả, liệu họ có được nhớ đến trọn vẹn? Và chính sự không trọn vẹn ấy làm nên chiều sâu nhân văn trong thơ Trần Ngọc Phượng. Đó là sự tri ân không chỉ bằng cảm xúc mà bằng ý thức gìn giữ ký ức.

Cùng với đó, bài Mười cô gái Đồng Lộc là một khúc tưởng niệm đầy xúc động về những nữ thanh niên xung phong đã hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ. Họ không chỉ là những cá nhân, mà là biểu tượng của cả một thế hệ. Thơ Trần Ngọc Phượng không xoáy vào bi thương, mà khắc họa vẻ đẹp của sự dâng hiến. Sự hy sinh của các chị vì thế không chìm vào mất mát, mà tỏa sáng như một giá trị bất tử.

Trong Nụ cười Thành Cổ, cảm xúc tri ân lại được thể hiện qua một hình ảnh giàu tính biểu tượng. “Nụ cười” của người lính trước giờ ra trận, trước cái chết, là nụ cười của lòng dũng cảm, của sự chấp nhận. Nhưng chính nụ cười ấy lại trở thành ám ảnh, bởi phía sau nó là những mất mát không thể bù đắp. Sự đối lập giữa nụ cười và cái chết làm nên sức nặng cảm xúc cho bài thơ, khiến người đọc không khỏi suy ngẫm về giá trị của hòa bình hôm nay.

Một cách thể hiện khác của mạch thơ tri ân là thông qua những chi tiết rất đời thường, như trong Cái ba lô con cóc. Chiếc ba lô nhỏ bé ấy trở thành biểu tượng của cả một thế hệ người lính. Nó không chỉ chứa vật dụng mà còn chứa cả ký ức, tình cảm, lý tưởng, niềm tin và chiều sâu tâm hồn người lính.

Trong khi đó, Đón anh về cùng đất nước vui xuân lại đặt cảm xúc tri ân trong bối cảnh hòa bình. Người lính trở về, nhưng không còn nguyên vẹn; đất nước đã độc lập, nhưng cái giá phải trả là vô cùng lớn. Niềm vui đoàn tụ vì thế luôn đi kèm với nỗi xót xa. Sự đan xen giữa hai trạng thái cảm xúc ấy tạo nên một dư âm đặc biệt - một mùa xuân không chỉ của hiện tại, mà còn của ký ức. “Đón anh về cùng đất nước vui Xuân/ Vẫn đội hình trùng điệp hành quân/ Vẫn mũ tai bèo, ba lô con cóc/ Đường anh đi năm xưa/ Bây giờ bao đổi khác/…// Những cung đường xưa đổ nát/ Nay mọc lên những thành phố nguy nga”. Niềm vui hòa bình luôn đi cùng khoảng trống của những người đã hy sinh.

Còn ở bài Nơi cửa ngõ anh nằm mang đến một sắc thái tâm linh sâu đậm. Ở đó, nhà thơ không chỉ tưởng nhớ, mà còn như trò chuyện với những linh hồn liệt sĩ. Những người đã khuất không hề mất đi mà vẫn hiện diện, vẫn dõi theo vận mệnh đất nước. Bài thơ giống như một lời khấn nguyện, thể hiện niềm tin vào sự bất tử của những hy sinh.“Máu xương anh tan vào lòng đất/ Kết tụ thành linh khí Quốc gia…// Về bên mộ anh/ muôn vàn thương nhớ/ Nửa thế kỷ đi qua/ Mỗi bước đi, bao ngọt bùi cay đắng/ Chậm hay nhanh?/ Dài hay ngắn?/ Vẫn chưa hết đâu những tham nhũng bất công/ Nhưng niềm tin như sắc nắng ửng hồng …”.

Điểm nổi bật trong thơ Trần Ngọc Phượng là sự đồng hiện giữa quá khứ và hiện tại, niềm tin tưởng tốt đẹp vào tương lai. Những gì đã qua không bị đóng lại, mà luôn hiện diện trong đời sống hôm nay. Sự hy sinh của người lính không chỉ thuộc về lịch sử, mà còn tiếp tục sống trong từng công trình, từng con đường, từng nhịp sống của đất nước. Chính vì thế, tri ân trong thơ ông không chỉ là nhớ, mà còn là ý thức sống tiếp, sống xứng đáng với những hy sinh to lớn của các thế hệ cha ông.

Ở tuổi ngoài 80, thơ Trần Ngọc Phượng càng trở nên trầm lắng, giàu chiêm nghiệm. Ông viết về thời gian, về tuổi tác, nhưng không hề bi quan mà vẫn có một niềm tin bền bỉ: “Thơ vẫn còn le lói chiều hôm…”. Đó không chỉ là ánh sáng của ký ức, của lòng tri ân mà còn là sự tiếp nối giữa các thế hệ.

Đọc thơ Trần Ngọc Phượng trong dịp 27/7, điều đọng lại không chỉ là những hình ảnh chiến tranh, mà là một hệ giá trị sâu sắc: lòng biết ơn, sự thủy chung, niềm tin vào đất nước và trách nhiệm của người còn sống, của thế hệ trẻ hôm nay. Thơ ông không bi lụy, không tô hồng, mà đứng ở điểm cân bằng giữa đau thương và niềm hy vọng. Chính điều đó làm nên sức sống bền bỉ của một tiếng thơ xuất phát từ người lính, một thương binh, người đã đi qua chiến tranh bằng chính tuổi thanh xuân của cuộc đời mình.

Ở đó, mỗi bài thơ là một mảnh ký ức, mỗi câu chữ là một nén hương tưởng niệm. Và khi những dòng thơ ấy được đọc lên trong ngày 27/7, không chỉ nhắc nhớ về quá khứ, mà còn nhắc nhở hiện tại: phải biết trân trọng hòa bình, phải sống xứng đáng với những hy sinh của bao thế hệ cha ông đã làm nên đất nước hôm nay.

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Trần Hạ Vi và hành trình nỗi nhớ
Phiến hạ là tập thơ thứ 3 của Trần Hạ Vi. Là người quan tâm đến đời sống văn học, tác giả và tác phẩm, nên trong những người Việt sống và viết ở hải ngoại, tôi khá quan tâm đến các tác giả như Trương Anh Tú (Đức), Võ Thị Như Mai (Úc) và Trần Hạ Vi (Canada). Vì thế, tôi tìm đọc Phiến hạ.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm