TIN TỨC
  • Truyện
  • Đuổi theo bóng nắng - Truyện ngắn của Lữ Thị Mai

Đuổi theo bóng nắng - Truyện ngắn của Lữ Thị Mai

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-01-16 11:59:31
mail facebook google pos stwis
22 lượt xem

Nhà tôi ở sườn đồi, nhìn xuống dòng sông Mã. Cha tôi kể rằng, xưa kia đây vốn là vùng chuyên quy tập hài cốt bộ đội hy sinh.

Sau này, đất chật người đông, những cặp vợ chồng trẻ tuổi, nghèo khó như cha mẹ tôi ra đó tìm mảnh đất cắm dùi. Rất nhiều ngôi mộ liệt sĩ chưa biết tên được cha tôi làm lễ, quy tập thành một nghĩa trang riêng do chính bà con xóm núi hương khói. Chuyện gia đình, ngôi làng nhỏ bé của tôi là những nỗi đau thương nối dài không hồi kết. Tôi lớn lên giữa bốn bề sim mua lau sậy điểm xuyết những nấm mồ cỏ xanh ngắt vây quanh. Từ nhỏ, tôi luôn có những giấc mơ kỳ lạ, trùng lặp. Tôi mơ thấy một cô bé trạc tuổi mình, tóc tết đuôi sam mặc chiếc áo hoa đứng bên cửa sổ cười cười, đôi bàn tay nhỏ xinh đưa lên vẫy vẫy. Có lần lại thấy cô bé ấy đứng thẫn thờ mở to cặp mắt đọng nước gọi mẹ, gọi anh rồi đưa tay quệt ngang dòng nước mắt…

Những đêm cha ôm tôi trong lòng, đung đưa cánh võng, tôi thủ thỉ kể lại giấc mơ của mình. Cha bần thần nhớ lại: "Hồi cô Hà nhà mình mất, cũng trạc tuổi con bây giờ. Đó là buổi sáng tựu trường đầy nắng, từ hôm trước bà nội gom tiền bán chum vại mua cho cô chiếc áo hoa dưới chợ phiên. Cô đến trường trong tà áo mới nhưng vẫn tung tăng chân đất. Buổi trưa ấy, khi cả nhà đang theo thuyền đổ hàng trên thượng nguồn thì nghe tin bom Mỹ dội xuống trường làng. Tất cả thầy cô, học trò có mặt vào sáng tựu trường hầu hết đều vùi xác trong bom đạn. Cha về được đến làng, xuống trường tìm cô, chỉ nhận ra cô nhờ manh áo hoa ban sáng rách tả tơi lẫn giữa đống đổ nát hoang tàn. Tiếng kêu khóc, than van u uất cả vùng quê".

Đó là ngày đại tang khắp miền quê nghèo khó bên dòng sông Mã. Tấm bia đá với dòng chữ đầu tiên "Thù này nhớ mãi không quên" tạc cùng ngày tháng năm và số người chết vì bom Mỹ được dựng lên ngay mỏm núi đầu làng tôi.

"Ngày 27 tháng 9 năm 1969, vào hồi 8 giờ sáng, đế quốc Mỹ đã cho nhiều tốp máy bay từ biển lao vào đánh phá. Sau những chớp lửa xanh lè là tiếng nổ ran, tiếng la hét kêu cứu từ các lán học sinh, ngõ xóm. Giặc Mỹ ném xuống quê hương ta 4 quả bom bi mẹ, chứa 1.280 quả bom bi con làm 68 người chết, trong đó có 44 em học sinh cấp 1, 70 người bị thương. Cán bộ, nhân dân các địa phương lân cận phải góp vải, hòm, ván hỗ trợ mai táng".

Hàng loạt thi thể oan khuất lần lượt qua các cuộc mai táng ở bãi sông thành dãy dài những nấm mồ trông ra dòng nước cuộn trôi thao thiết. Đau thương chồng chất đau thương. Nhiều năm sau đó, chỉ bởi một giấc mơ của bà nội tôi thường xuyên thấy cô Hà trở về cười nói, khoe vừa chạy chơi từ bờ sông lên, gió còn thổi rung rinh mái tóc mà bà ngỏ ý với cả gia đình cứ để phần mộ của cô gần sông cho cô còn nghe trai gái làng hò sông Mã, nghe tiếng kẻng ông thuyền chài khua cá giữa đêm khuya và tiếng bước chân bộ đội hành quân về làng. Hài cốt của cô không được cải táng lên đồi cao như bao phần mộ của những người xấu số trong làng. Rồi trận lũ đỉnh điểm năm ấy đã san phẳng bến sông, gò bãi. Nước rút, nhìn lớp bùn bồi dày loang loáng phù sa, cả làng đều kinh ngạc, thất thần, bất lực khi gia đình tôi không thể tìm được phần mộ của cô Hà. Nước mắt bà tôi gần như khô cạn, tròng mắt cũng lòa dần cho đến lúc nhìn mọi thứ chỉ đỏ đục, lờ mờ một màu nước lũ.

Nhâm nói, trong gia đình, chỉ anh và một người anh họ tin rằng người bác ruột bị bệnh viện kết luận mắc chứng tâm thần. Nhưng trong tình yêu với vợ vẫn hoàn toàn tỉnh táo, vẹn nguyên. Tình yêu ông dành cho người đàn bà nhiều lần bỏ mình ra đi là thứ duy nhất, sau cuối còn tồn tại. Mấy người con gái, cháu chắt của ông gọi điện liên tục cho Nhâm để thông báo rằng, từ khi bác gái trở về, bác trai ngoài 80 tuổi vẫn cặm cụi giặt đồ cho vợ, cẩn trọng mắc lên dây phơi, cứ thế đứng hàng giờ nhìn áo quần nhỏ nước xuống sân, ráo khô và bay trong gió. Nắng đến đâu ông chống gậy ra sân dịch chuyển đám áo quần theo bóng sáng. Ông chờ đợi vợ ròng rã mấy chục năm trời thì việc chờ nắng đâu thấm tháp gì.

Bác của Nhâm từng là bộ đội, sau chiến tranh theo ngành sư phạm, thành thầy giáo dạy Vật lý ở trường cấp ba một huyện miền núi. Nhờ năng lực tốt, bác được cử đi học nước ngoài. Không ai hiểu chuyện gì đã xảy trong suốt vài năm ông xa vợ con họ mạc đi tu nghiệp, chỉ biết ông trở về với trạng thái sức khỏe, tâm lý bất thường, bỏ cả trường lớp, ở nhà làm bạn với khói bếp, bóng đêm. Ông gọi tất cả những ai nhòm ngó, trêu chọc, khuyên giải, can ngăn mình đều là "bọn tâm lý chiến". Thuở nhỏ, Nhâm rất thích được bố mẹ đưa đi khỏi Hà Nội lên vùng tản cư thăm gia đình bác. Thực ra, với người lớn, đó là những cuộc trông nom, dò la bệnh tình rất căng thẳng. Nhâm chỉ thấy thú vị. Bác anh vẫn ngày đêm chế tạo ống nhòm bằng cách tự nấu thủy tinh, thất bại lại cắt hàng loạt bóng điện hỏng trong nhà làm kính lồi, kính lõm, nung chảy nhựa đường để gắn kết các chi tiết với nhau. Nhà bác ngổn ngang ống nhòm, có chiếc ống nhòm dài cả mét. Ông trìu mến gọi tên chúng là Quá Khứ, Tương Lai, Tình Yêu, Ký Ức… Nhâm và lũ trẻ đưa mắt vào đó, tầm nhìn xa đến cả cây số. Quá khứ tương lai đâu chẳng biết, ban ngày bọn trẻ nhòm vào thấy rõ những bóng người trên đê khom lưng thồ hàng xuống dưới xuôi bán đổi, ban đêm ghếch ống nhòm thấy trăng sao, dải ngân hà, cả chòm sao hình ông Thần Nông khom lưng tát nước. Thỉnh thoảng, ông lên cơn co giật, luôn miệng hú hét lệnh cho lũ trẻ: "Vào nhà ngay kẻo "bọn tâm lý chiến" nó nhằm thẳng vào mình. Không thấy mít ngoài vườn nó cũng cầm gậy đập cho rụng đi à!. Không thấy nó ném đá tảng vào giữa sân nhà à?"… Sau này, ngay cả việc bác dâu Nhâm bỏ đi, ham mê cờ bạc, bán sạch đất đai nhà cửa… với bác trai cũng chỉ là âm mưu của "bọn tâm lý chiến". Ông luôn tưởng tượng về một thế lực nào đó đẩy vợ mình đi xa. Còn tình yêu họ giành cho nhau vẫn là nguyên vẹn.

"Những lúc tỉnh táo, bác anh luôn nói, nếu bác gái trở về, bác sẽ tha thứ hết mặc hai đứa con gái được ăn học đàng hoàng mà không hiểu chuyện, kệ lũ cháu chắt cứ nhấp nhẳng trách móc, tủi hờn. Ở cái phố núi nhỏ bé quanh co ấy, chuyện phức tạp trong một gia đình dưới xuôi lên tản cư như nhà bác cả vùng đều xôn xao. Người ta đồn đại, sau nhiều năm tháng đằng đẵng đợi chờ, hy sinh tuổi xuân, người đàn bà ấy đã không còn đủ kiên nhẫn sống bên người chồng tâm thần. Bà bỏ nhà đi theo người đàn ông khác, ngập chìm vào những cuộc đỏ đen. Có người về xuôi tận mắt trông thấy. Sự thể thế nào không rõ, nhưng việc bà hai lần trở về bán hai căn nhà của gia đình là có thật. Từ một căn nhà lớn mặt đường, bà bán đi mang theo toàn bộ tiền bạc có được. Họ hàng dưới xuôi thương hoàn cảnh ba bố con éo le, chia nhau nuôi giúp hai đứa con gái đang tuổi ăn tuổi lớn, gom góp tiền mua cho bác trai một căn nhà nhỏ hơn nằm sâu trong con ngõ. Sau thời gian mất hút, bà lại trở về tìm đủ cách bán tiếp căn nhà. Cuối cùng, một người họ hàng thân gần đành cắt một phần mảnh đất của gia đình, dựng căn nhà nhỏ để bác trai có chỗ trú mưa trú nắng. Nhà chật nhưng càng lúc càng nhiều ống nhòm. Người ta bảo, chứng tỏ bác ngày càng điên nặng. Gia đình anh đưa bác xuống trại tâm thần chỉ ngày một ngày hai lại tìm cách trốn về. Ngày qua ngày, bác gắn từng con mắt vào những chiếc ống nhòm nói rằng nhìn trong đó đôi khi thấy vợ với một bầy trẻ nhỏ ngày xưa. Anh luôn tự hỏi chính mình, nếu bác là người điên thực sự, lòng bao dung chờ đợi có đến mức cao cả, tôn thờ thế không?", Nhâm nói với tôi trong buổi chiều đã cạn.

*

Làng tôi có ông Thư cụt, chuyên "cầm cái" đám lô đề cờ bạc khét tiếng cả vùng. Ông xóc đĩa bằng chính cái cùi tay cụt. Ông khoe, lúc nào cũng có lựu đạn bên mình, ai hỗn hào ông "xung phong" một tiếng là cháy rụi. Vợ con, thiên hạ đều biết đó chỉ là những quả lựu đạn giả được đẽo gọt, mài giũa, sơn màu như thật. Ông nửa giấu nửa khoe đeo sát mạng sườn. Lạ thay, mỗi lúc ông lên cơn điên loạn, dọa "rút chốt" thì mọi người đều chạy thục mạng. Chạy vì thoáng gặp hai đốm lửa đỏ ối lan dần trong đôi mắt ông. Dân cờ bạc đồn thổi, cái cùi tay cụt của ông điều khiển được hai đồng xu âm dương trong đó. Ông lên voi xuống chó cũng bởi cái nghề đen bạc rủi may. Riêng lũ con lít nhít chẳng được học hành gì, chúng luôn có câu cửa miệng: "Cụt như ông Thư nhà tao còn kiếm được bộn tiền, cần gì học".

Có lần cha tôi kể, thực ra ông bị thương trong tình huống rất oái oăm. Nhập ngũ chẳng bao lâu, trong lúc huấn luyện, ông quan sát người chỉ huy làm động tác chậm mô phỏng quá trình ném một quả lựu đạn, đến khi thực hành bằng lựu đạn diễn tập, đầu óc bấn loạn thế nào, ông vẫn y nguyên động tác chậm ấy. Quả lựu đạn ông vừa rút chốt còn nắm chặt trong tay mới kịp vòng ra sau lưng đã "đoàng" một tiếng, nửa cánh tay nát bét ròng ròng máu tươi. Đồng đội cùng chiến đấu không ai nỡ kể lể câu chuyện ấy. Nhưng sau này, mỗi lúc ông dọa "xung phong" vẫn có người nói hờn nói mát. Với người lính như cha tôi, mất mát nào cũng đều là máu xương chiến trận. Ông thường nói, cũng có thể vì lỗi tự mặc cảm mà ông Thư chẳng thế nào đứng dậy sống tiếp cuộc đời tử tế. Ông là con trai độc nhất trong gia đình khá giả, noi gương thanh niên làng viết đơn bằng máu lên đường nhập ngũ. Ngày ông trở về, người ác miệng rêu rao: "Họ nhà ấy đến đời thằng Thư là mạt vận!".

 

Hình ảnh minh họa. Nguồn pinterest

 

Từ ngày người đàn bà xa lạ kia về làng tôi, lao vào cuộc đỏ đen, ông Thư cược theo và thắng lớn, gỡ gạc vốn liếng đã mất, mấy đứa con không học hành gì rủng rỉnh tiền chơi khăng đánh đáo và ăn kẹo bột bạc phếch môi. Đó cũng lần đầu tiên người làng tôi tận mắt thấy một người đàn bà ngồi chiếu bạc. Người ta bảo họa có điên mới thế. Bằng không là kiếp trời đày. Vậy mà ông Thư ngang nhiên tuyên bố sẽ lấy người đàn bà ấy làm lẽ. Người vợ quanh năm nín nhịn chỉ biết lén chùi nước mắt thuận theo. Từ bấy, bên chiếu bạc, cạnh cánh tay cụt thêm một cánh tay lành.

"Bà lo chuyện nhà mình đi, quan tâm gì cái thứ đàn bà thiên hạ lăng loàn ấy", cha tôi trách mẹ sau cuộc họp gia đình vẫn đang ngồi bên bể nước nói chuyện nhà ông Thư với các cô, các bác trong họ mạc. Bà nội tôi vừa mở cuộc họp gia đình bàn chuyện tìm lại phần mộ thất lạc của cô Hà. Bà một mực nói rằng có thể hài cốt của cô vẫn ở quanh quất bến sông mà chưa xuôi theo dòng nước. Một lần đi lễ chùa, bà tình cờ gặp được người tự xưng là nhà ngoại cảm. Lời nói của họ trùng những gì bà thắt ruột nghĩ về đứa con gái út xấu số. Người ta hứa giúp gia đình lễ lạt, kêu cầu để tìm hài cốt của cô. Câu chuyện ấy khuấy đảo cuộc sống, tâm tư trong đại gia đình tôi. Chín người mười ý nhưng tất cả cùng kết luận cứ phải "vái tứ phương".

Ngày thầy ngoại cảm làm lễ bên bờ sông, già trẻ gái trai làng tôi không ai vắng mặt. Sau một hồi xì xụp khấn vái, người ấy vung cây gậy trúc buộc lụa trắng khoanh tròn khoảnh đất có những cụm cỏ mần trầu xanh um đang mặc sức bò lan. Các anh họ tôi trực tiếp đào xới. Bỗng cả đám đông kêu lên thất kinh, phá vỡ không khí im ắng nín thở bao trùm khi nghe tiếng ai đó hô: "Có cốt", "Là cốt trẻ con", "Dùng tay đi, nhẹ nhẹ thôi kẻo vụn vỡ hết"... Đám người đứng vây quanh quỳ sụp xuống chắp tay vái lạy liên hồi, đan xen thêm tiếng kêu khóc, rền rĩ, nấc nghẹn. Bà nội tôi rên rẩm đầy tức tưởi: "Mẹ biết con chết oan khuất nên thiêng lắm mà!".

Tôi quen Nhâm khi anh về làng tôi tìm người bác dâu nhiều năm bỏ nhà đi biệt. Buổi chiều ấy, anh đứng ngay phía sau tôi, lúc tôi thắp hương lên ngôi mộ mới cất đề tên cô Hà. Bác dâu Nhâm đã có bến đỗ mới, bà khước từ cuộc trở về với người chồng mắc chứng bệnh tâm thần. Nhâm nói, thời gian, bi kịch chồng chất bi kịch khiến tâm tính bà thay đổi, không còn là người phụ nữ chung tình, nhẫn nhịn ngày xưa. Tôi và Nhâm ngồi trên đồi cao, dõi mắt nhìn xuống dòng sông Mã.

Khi câu chuyện trở nên gần gụi như giữa chúng tôi được nối chung một mối tâm giao, Nhâm nói từng lời rủ rỉ.

"Từ ngày bác dâu bỏ đi, họ hàng nhà anh thay nhau lên chăm nom bác trai. Có lần, đến phiên cha anh lên ở cùng bác, ông giật nảy mình khi vừa sáng dậy đã gặp dáng người lừng lững của bác bước ra từ căn bếp toàn khói. Bác mặc chiếc quần lụa đen nhức của vợ, tần ngần trông ra ngoài nắng. Nắng lọt qua giàn cây, hắt bóng vào bác, màu đen nhức của chiếc quần đàn bà bỗng rực lên. Cha anh nhắc nhở khuyên can, con cháu bác buông lời cáu gắt, bác rơm rớm nước mắt đi thay quần, gấp chiếc quần của vợ lại, để ngay ngắn chỗ mình vẫn ngả lưng. Bác bắt đầu thở than: "Chung quanh tôi toàn bọn "tâm lý chiến". Chả trách bà ấy đi mãi chẳng về".

"Người nhà anh kể lại, khi bác mới nhập ngũ vẫn đều đặn thư từ về. Bẵng một thời gian không dòng tin, cả khu phố tang tóc khi giấy báo tử liên tiếp gửi về từng nhà. Ngày nào ông bà anh cũng đứng trên gác ngóng người đưa thư. Chỉ nhìn dáng bộ của họ đứng trước những cửa nhà là biết tin mừng hay tin dữ. "Thư nhé!". Lời thông báo ngắn gọn từ người bưu tá vào một tối muộn lúc cả nhà đang bên mâm cơm đủ làm tất cả rộn ràng. Đáng tiếc, đó không phải thư của bác. Một lá thư có nội dung đề gửi từ chiến trường nơi bác đang chiến đấu, báo tin bác đảo ngũ, bác là một kẻ hèn hạ, bán nước, bất lương... Chừng ấy cặp mắt hết nhìn xoáy vào bức thư lại ngước trông ban thờ tổ tiên với năm di ảnh liệt sĩ trong dòng họ. Đó là nỗi đau, nỗi nhục không gì gột rửa nổi. Ông nội anh lăn đùng, đột quỵ và qua đời không lâu sau đó. Lúc hấp hối, ông vẫn đinh ninh: "Nó không thể là thằng phản bội! Là cha nó, tôi hiểu chứ! Trời ơi!". Hòa bình lặp lại, bác anh trở về trong bộ quân phục bạc màu. Có cả xe đưa tới tận nhà. Hai anh bộ đội đi cùng khoe từ đầu phố: "Bà con ơi! ra đón anh hùng". Bác lập nhiều chiến công, chế tác cả vũ khí, ứng dụng đạn dược trong nhiều trận đánh. Còn lá thư nặc danh kia chỉ là một trong những trò "tâm lý chiến" của kẻ thù. Người đầu tiên bác gọi là ông anh. Chân dung người ruột thịt đầu tiên bác thấy cũng chính là tấm ảnh của ông trên ban thờ nghi ngút khói nhang".

Tôi nói với Nhâm, từ nhỏ tôi đã luôn nghĩ về bóng nắng, như mảnh áo hoa chập chờn trở đi trở lại trong mơ. Bóng nắng ấy lan tỏa trong tôi cho đến tận bây giờ. Tôi luôn thấy cô bé đứng bên cửa sổ chìa tay về phía mình, chúng tôi nắm lấy tay nhau đuổi theo bóng nắng, chui qua những dây phơi áo quần, chỉ trỏ giàn hoa mướp vàng ươm, đuổi bắt ra đến tận bờ sông cát lấm chân phẳng mịn. Cô bé ấy lướt đôi chân nhỏ xinh trên mặt sóng, ra đến giữa dòng sông thì vẫy tay chào… Có lần, cũng cô bé ấy, toàn thân ngập chìm trong nước, bàn tay bé nhỏ huơ lên khoảng không...

Cũng chính Nhâm khi nghe chuyện gia đình tôi đã nói với tôi khi ấy mới là cô học sinh cấp hai rằng nên tiến hành xét nghiệm ADN cho bộ hài cốt mà cả gia đình tôi tin của cô Hà. Khỏi phải nói bà nội đã nổi cơn uất giận thế nào. Nỗi đau, linh cảm bấy lâu của người mẹ mất con khiến bà chỉ còn tin vào những giấc mơ cũng như cuộc gặp gỡ tình cờ với người xưng là nhà ngoại cảm. Bà chối bỏ, chì chiết mọi thứ lý lẽ, xác minh thuộc về khoa học. "Khoa học là cái chi chi, chỉ làm người đau thêm đau, người tủi thêm tủi thôi mà", bà than khóc kêu trời. Tôi đưa Nhâm về gặp cha mình.

"Cán bộ pháp y sẽ lấy mẫu của người đã mất đối chiếu với mẫu của mẹ người đó nếu còn sống. Nếu mẹ mất thì đối chiếu với anh chị em ruột, không còn anh chị em ruột thì lấy mẫu của cháu con chị gái hoặc cháu con em gái. Mẫu của người đã mất không đối chiếu được với bố đẻ, cũng không đối chiếu được với con anh trai hoặc con em trai. Gene theo dòng mẹ gọi là gene ty thể sẽ được truyền qua năm đời còn gene theo dòng bố khi chôn xuống đất sẽ mất", Nhâm chậm rãi giải thích với cha tôi. Nhiều năm qua, khi công việc đỡ bận rộn, anh theo các đoàn tình nguyện đi quy tập mộ liệt sĩ khắp dọc dài đất nước. Nhâm chứng kiến không ít cuộc nhầm lẫn dai dẳng, buồn đau, không ít người mẹ như bà nội tôi. Rốt cuộc sự thật vẫn phải trả về sự thật. Sau cuộc trò chuyện rất dài, cha đặt tay lên vai Nhâm vỗ chắc nịch: "Ở thời điểm này, tôi tin cậu!".

Tôi hứa với Nhâm xong chuyến công tác miền núi sẽ ghé thăm hai bác của anh. Họ đón tôi từ đầu ngõ. Bác trai dẫn tôi tham quan khối gia tài là những chiếc ống nhòm có tên riêng.

"Cô biết không, uống thuốc đều mà đêm tôi vẫn ngủ chập chờn lắm. Cứ sợ bà ấy đi đâu thêm lần nữa. Ngoài kia, toàn bọn "tâm lý chiến" cả chứ chả đùa! Chúng đánh mình một lần là còn nhiều lần khác".

"Trong đám con cháu, thằng Nhâm là đưa giống tôi nhất. Niềm tin cũng có di truyền đấy. Không niềm tin, "tâm lý chiến" vào là chết!", bác của Nhâm nói với tôi bằng dáng điệu có vẻ rất tỉnh táo, tự tin.

Ban đầu, bác dâu anh đẩy về tôi cái nhìn rụt rè cảnh giác, sợ lại phải nghe những lời trách móc như bao ngày tháng sau cuộc trở về bà nhận từ láng giềng, họ mạc, con cháu. Đôi mắt bà trũng sâu nhìn theo bóng chồng đang chạy đua với bóng nắng ngoài dây phơi áo quần. Sự im lặng của tôi khiến bà có thể mở lời. Bà kể, bà quyết định rời khỏi nhà ông Thư không hẳn bởi ông vũ phu tối ngày đánh đập vợ lớn vợ bé hay lũ con chồng hỗn láo mà bà đi sau những đêm trăng sáng bên sông cứ nghe văng vẳng tiếng hò, tiếng bước chân thậm thịch hành quân, cả tiếng cười tiếng khóc... Nửa đêm bà ra miếu cầu an. Nơi đó từng tồn tại ngôi chùa lớn, nhiều lần bị bom Mỹ dội chỉ còn nền gạch đổ nát và những bức tượng đá bị chém khúc ngổn ngang. Sau chiến tranh, dân làng phục dựng ngôi miếu nhỏ. Trong đêm trăng sáng, gió đông hây hẩy hắt từ mặt sông, bà thấy một cô bé mặc áo hoa ngồi khóc nhờ dẫn về nhà với mẹ. Rất nhiều đêm lặp đi lặp lại như thế. Bà hỏi han, dân làng kể chuyện cô Hà. Họ kể thêm, sau cái chết của cô, trẻ con đến người lớn trong gia đình tôi không mặc áo hoa bao giờ. "Đến một đứa trẻ còn mong về nhà, tôi cớ gì có nhà mà rời bỏ?", bác dâu Nhâm nghẹn ngào ngước đôi mắt đẫm nước nhìn tôi. Bà khóc nhiều như cái đêm gục bên nền chùa đổ.

Kết quả giám định ADN cho thấy, mẫu xương cốt dưới ngôi mộ đang đề tên cô Hà không có quan hệ huyết thống với gia đình tôi. "Vậy là nhà mình đã đưa một ngôi mộ vô chủ về thờ phụng hương khói?", "Thế ông thầy ngoại cảm đó giờ biến đâu rồi", "Sao trùng hợp thế được, đã bảo là cốt trẻ con mà?", "Liệu phần mộ cô Hà vẫn ở bãi sông hay trước đây nhà khác đã cải táng nhầm?"… những lời nói thảng thốt như có nước vang lên trong ngôi nhà chật kín người. Bà nội tôi sau đận ngất lên ngất xuống, tỉnh dậy thắp hương lên ban thờ tổ tiên chỉ lặp đi lặp lại một câu hỏi: "Vậy cớ sao từ ngày đưa bộ hài cốt ấy lên đồi cao, mẹ không còn mơ thấy em Hà về nữa?"… Đó là câu hỏi mà cho đến tận bây giờ, chẳng ai có thể giải đáp cho bà được.

Bà nội cùng cả gia đình ra bờ sông lập đàn vái vọng. Bà gọi: "Hà ơi! Con có nằm đâu cũng trên đất quê mình. Bom đạn, chiến tranh làm bao người đến lúc chết không về được quê cha đất tổ. Chắc con cũng gật đầu bằng lòng cho đứa trẻ cùng cảnh lưu lạc như con được nhà ta hương khói. Mộ đắp lên rồi, không ai về nhận, mình không đào xới thêm lần nữa, phải không con? Nhìn cảnh người, tủi kiếp mình, nhưng lòng yêu thương sẽ đưa đường cho con siêu thoát". Ông Thư cụt và tất cả dân làng tôi chứng kiến toàn bộ câu chuyện đau buồn ấy. Ông chợt quỳ xuống trước dòng sông như tạ tội, rút bên hông quả lựu đạn giả ném đi. Khóe mắt ông nhỏ hai dòng nước.

Khi tôi học hành, lập nghiệp ở xa, cha tôi vẫn giữ thói quen viết thư tay cho con cái mỗi tuần, dù có điện thoại. Cha tôi kể chuyện làng, ông Thư đã bỏ nghề đỏ đen, cùng cha và dân làng hương khói nghĩa trang liệt sĩ, sơn lại tấm bia đá trên mỏm đồi và đón tiếp, chăm lo cho những gia đình ở xa về tìm mộ.

Một ngày, Nhâm trao cho tôi cuốn nhật ký đã bạc màu anh cất giữ suốt hành trình đi tìm bác dâu. Anh nói, anh không phải nhà văn nên chẳng biết bắt đầu từ đâu để kể cho mọi người nghe bao câu chuyện đầy yêu thương, trắc ẩn mà oan khuất. Anh họ của anh, một họa sĩ đã luôn tin vào tình yêu vẹn nguyên của người lính trở về sau cuộc chiến cũng nói, tuy anh là họa sĩ nhưng không thể vẽ được ánh nắng ảo mộng chập chờn trên chiếc dây phơi áo quần đầy ám ảnh hay màu đen nhức nhối của chiếc quần lụa đàn bà lóe lên suốt chuỗi ngày bác anh đợi vợ trở về sau những chuyến đi xa. Lật giở những trang nhật ký của bác ruột Nhâm, mắt tôi nhòa nước.

Tôi vẫn tin vào tình yêu vĩ đại của người phụ nữ đã đợi chờ mình suốt cuộc chiến tranh. Tôi từng nghĩ, nếu có thể trở về, sẽ dành cả cuộc đời còn lại để yêu thương, bù đắp. Dù cố giấu gia đình mọi vết thương chiến trận, cả mảnh đạn găm trong đầu thì nó vẫn lộ ra bằng những cơn điên loạn, những trận đòn roi tôi trút lên cô ấy… Chỉ riêng những chiếc ống nhòm khiến tim tôi đập chậm…

L.T.M

Báo Văn Nghệ, số 35+ 36/2018

Bài viết liên quan

Xem thêm
Chuyện lạ ngày Xuân “Ăn trộm đào”
LTS: Mỗi độ Tết đến, giữa không khí lễ hội tưng bừng, không ít người phương Đông vẫn còn niềm tin mơ hồ rằng thực và ảo có thể bất chợt giao nhau. “Ăn Trộm Đào” là một câu chuyện như thế — vừa mang dáng dấp hội hè, vừa phảng phất trò ảo thuật dân gian. Truyện do nhà văn Bồ Tùng Linh (Pu Songling) ghi chép trong Liêu Trai Chí Dị vào đời Thanh. Bản tiếng Anh dùng để dịch ở đây là của Herbert A. Giles xuất bản năm 1880 trong cuốn Strange Stories from a Chinese Studio. Hiện nội dung được công khai trên Project Gutenberg, như một nhịp cầu nối kho tàng truyện cổ với độc giả quốc tế.
Xem thêm
Thương nhau ngày Tết - Truyện Võ Đào Phương Trâm
Mưa cuối mùa, tầm tã nặng hạt, như trút cho hết nước xuống từng ngõ ngách nội đô. Tiếng gió thốc mạnh, va vào tấm bạt như muốn xé toạc bằng cơn thịnh nộ. Mỗi lần gió lớn, tấm bạt tròng trành đổ ào đống nước nặng trịch xuống đường, văng tung tóe. Bên dưới, người đàn bà ngồi co ro, cái gánh chè đậu đen, đậu xanh còn nóng hổi nhưng chưa bán được một nửa, đành chịu cảnh vắng khách. Chiếc nón lá thỉnh thoảng bị gió thổi bật ra phía sau như một trò bỡn cợt với thân phận người nghèo, trượt giữa mặt đường đời, chông chênh và cam chịu.
Xem thêm
Quỳnh hương điện ngọc – Truyện lịch sử Nguyễn Thị Việt Nga
Dương Vân Nga lại tiến đến bên chiếc long bào. Tay đưa ra, rồi dừng lại giữa chừng. Vải gấm thêu chỉ vàng sáng lên lấp lánh dưới ánh nến. Mỗi sợi chỉ vàng là một lời thề, một trách nhiệm, một cái giá phải trả. Chiếc áo này của triều Đinh, của nhà Đinh. Nếu trao cho Lê Hoàn, nó sẽ thuộc về một triều đại khác, một dòng tộc khác. Nhưng nếu không trao? Bà nghĩ đến quân Tống đang rình rập. Nghĩ đến cảnh binh đao khói lửa ngút trời. Nước không còn, thì áo bào cũng mất. Nước không còn, thì ngai vàng cũng mất. Và mẹ con bà, làm sao toàn mạng? Không, vận nước phải lớn hơn vận mẹ con bà! Vận nước phải đặt lên trên hết! Lê Hoàn! Nếu ý trời đã định, nếu lòng người đã thuận, bà còn gì phải hoang mang?
Xem thêm
Thân thiện - Truyện ngắn của Lê Thanh Huệ
“Thân thiện” của Lê Thanh Huệ là một văn bản văn xuôi dung lượng lớn, được viết như một cuộc đối thoại mở giữa con người với tri thức, chiến tranh, công nghệ và tương lai nhân loại.
Xem thêm
Gặp gỡ bất ngờ – Truyện ngắn Đỗ Thị Thu Hiền
Nhà văn Đỗ Thị Thu Hiền, tên thật Đỗ Thị Hiền, sinh năm 1952 tại TP. Phủ Lý, tỉnh Hà Nam (cũ), nguyên giáo viên mất sức. Năm 1997 đến năm 2007 chị là UV.BCH, Chánh văn phòng Hội VHNT tỉnh Hà Nam. Hiện chị sống và viết tại TP. Bà Rịa (cũ).
Xem thêm
Gió đồng khoáng đạt – Truyện ngắn Hồ Tĩnh Tâm
Tôi cùng với anh bạn Dũng Hạnh đi xe gần hết nửa ngày, thêm gần nửa buổi ngồi đò nữa thì tới được đồng Ngao. Cánh đồng rộng ngút ngát, nhìn thấy ngờm ngợp con mắt. Anh bạn nói: “Phải mua thủ can rượu cho chắc. Nó sống mụ mị giữa đồng, hết rượu có mà chạy trào máu mắt”.
Xem thêm
Cánh ngỗng đỏ bay qua giếng ngọc – Truyện lịch sử Nguyễn Thị Việt Nga
Mối hòa hiếu của hai quốc gia lân bang được bắt đầu khi Trọng Thủy bước vào thành. Chàng là một người trẻ tuổi đẹp đẽ, trong trẻo, sáng ngời như ánh dương đầu hạ. Mắt đen thăm thẳm như nước giếng mới khơi. Lưng cao, tiếng nói dịu, lễ nghi chu toàn. Kim Quy không ngờ đó là con trai Triệu Đà. Vì chàng khác hẳn sự hiểm độc của người cha. Chàng chỉ là người trần, sinh ra từ người mẹ chết sớm, lớn lên trong cung cấm nhưng đầy mộng mơ. Chàng không biết cha mình là hóa thân của kẻ thù truyền kiếp của Kim Quy. Trọng Thủy khi ấy chỉ mang một ước vọng: tìm thấy một nơi bình yên, một người con gái xinh đẹp có thể khiến chàng được sống thật với lòng mình. Chàng cũng từng kinh sợ những cuộc giao tranh, trừng phạt, giết chóc của vua cha. Rời xa vua cha cùng kinh thành là điều chàng từng mong muốn.Trọng Thủy nhận lệnh vua cha đến Loa Thành gặp Mỵ Châu nhưng chưa một lần biết mặt người con gái đó. Chàng lãng mạn tin rằng Mỵ Châu là đóa hoa đẹp nhất của đất Âu Lạc.
Xem thêm
Tiếng trống gọi mùa ban - Truyện ngắn của Hà Minh Hưng
Tâm lý chung nhiều người khi đã đến một nơi rồi, lần trở lại thường không còn háo hức lắm.
Xem thêm
Chùm truyện siêu ngắn của Cristina Rivera Garza
Cristina Rivera Garza sinh năm 1964, nhà văn nổi tiếng người Mexico. Sự nghiệp của bà bắt đầu được ghi nhận từ những năm 1980, khi bà đoạt giải thơ Punto de Partida năm 1984 với Apuntes, giải truyện ngắn quốc gia San Luis Potosí năm 1987 với La guerra no importa. Tác phẩm được biết đến nhiều nhất của Cristina Rivera Garza là Nadie me verá llorar, tác phẩm này đã mang lại cho bà Giải IMPAC/CONARTE/ITESM năm 2000. Carlos Fuentes từng gọi đây là “một trong những tiểu thuyết vừa đẹp vừa ám ảnh nhất từng được viết ở Mexico”. Năm 2024, bà đoạt giải Pulitzer cho thể loại hồi kí - tự truyện với tác phẩm El invencible verano de Liliana.
Xem thêm
Lock down – Truyện ngắn của Bùi Đế Yên.
Nhà văn Bùi Đế Yên làm thơ trước khi viết truyện ngắn. Đọc truyện của chị, tưởng chị đang ngồi thủ thỉ kể một câu chuyện vừa mới xãy ra đầy hấp dẫn, khi nghe hết chuyện, lòng ta cứ thấy bâng khuâng …
Xem thêm
Nguyền rủa - Truyện ngắn
Gia đình bà Hường chuyển về sống lam lũ với xóm nghèo. Các khu dân cư mọc lên như nấm sau mưa; lối mòn biến thành đường nhựa. Ông Tấn suốt ngày cắp laptop vợ mua, đi “quan hệ kinh doanh”; đám trẻ con tò mò kháo nhau ông không biết dùng máy vi tính.
Xem thêm
Đêm trước phiên chợ – Truyện ngắn của Lương Mỹ Hạnh
Lão Hạo không lộ mặt, ra lệnh cho tay chân nhanh chóng neo thuyền lại. Chúng lấy những đoạn dây chão to bằng cổ tay chằng buộc hai thuyền kẹp cứng với nhau. Mặt đằng đằng sát khí, hơn chục thằng cầm dao, kiếm, côn nhảy sang thuyền thằng Lanh. Một cuộc ẩu đả bất phân thắng bại nổ ra, hai bên cùng xông vào nhau đấm đá túi bụi.
Xem thêm
Tro bụi ngược chiều – Truyện ngắn Tịnh Bảo
Nắng trưa vàng như chảo mật ong tưới xuống. Nghĩa trang lớn nằm ở ngoại ô, những ngôi mộ nơi góc khuất bị cỏ dại bọc kín, bia đá lấm bụi, từng vệt bẩn kéo dài chảy xuống theo vệt nước mưa, có lẽ do cơn mưa chiều qua.
Xem thêm
Nắng chiều còn chảy – Truyện ngắn Đỗ Thanh Tuân
Trời xứ núi chuyển giông lúc nào cũng dữ dội như đón bão. Gió ầm ào. Cây rừng nghiêng ngả. Lá bay tứ tán. Mây ùn ùn về sắp đầy đầu núi, đen kịt.Chiếc xe máy chở Lan vừa chạy vừa nhảy cà tưng qua mấy ổ gà, những mỏm đá nhô cao của con đường núi thiên thẹo. Nước lùa ra đường đầy rều rác, cây bụi. Nhìn lên một bên là vách cheo leo, nhìn xuống bên kia là vực trong mưa chiều, trong cái sâu hun hút. Xa dưới kia, thác nước ào ào dội. Chốc chốc, chiếc xe dẹo mình cót két. Vậy mà bà chủ tiệm tạp hóa cứ đinh ninh là sẽ bắt cho cô chiếc xe thồ xịn nhất để vào nóc. Đúng xe núi hẳn hoi. Thiệt núi. Bà cười cố ý nhấn mạnh chữ “núi”. Xe cô, cứ để đó, khi mô trở ra thì lấy về. Dù chuẩn bị tâm lí trước nhưng Lan vẫn ngẩn người. Ở đây người ta sống bằng niềm tin. Lời nói ra xác tín như rìu chặt vào cây. Bà đưa Lan cái choàng mưa, tiện tay dúi thêm cái bao bóng lớn, nói ngó trời trong rứa chứ chút nữa thể nào cũng mưa, bỏ ba lô vào bọc ni lông cho khỏi ướt. Nhìn mớ đồ lỉnh kỉnh trong hành trang của Lan, bà cười. “Mong cái nóc Tu Mơ Rông giữ chân cô được.”
Xem thêm
Cô gái đứng trước biển Nhật Lệ - Truyện ngắn Vũ Khắc Tĩnh
Cô gái đã từng có nhiều ước mộng trong đời. Ngoài những giờ học ở trường, những lúc rảnh rỗi cô gái thích đi biển, thích đứng một mình trước biển hằng giờ ở đó, nhìn biển bình minh, mặt trời tròn vành vạnh đỏ rực lung linh, nhìn những con chim hải âu tung cánh bay dật dờ, chao nghiêng trên biển. Một buổi sáng bình minh trên biển rất đẹp, lung linh, lung linh, những đợt sóng vỗ tung toé trắng xoá. Lúc này biển đông người tắm, biển xao động tiếng cười nói của mọi người đánh tan sự im lặng, họ đùa giỡn với sóng nhấp nhô. Ai làm gì mặc kệ, cô gái vẫn đứng bất động một mình trước biển, trong đầu suy nghĩ gì không biết. Làm sao mà biết được. Tắm biển thì không bao giờ tắm. Một cô gái lạ lùng, tôi chưa từng thấy, từng gặp trường hợp này bao giờ. Đến biển, cô gái đứng nhìn biển trong tích tắc bình minh rồi về.
Xem thêm
Đoạn chi ma cước - Truyện ngắn của Châu Đăng Khoa
“Đoạn chi ma cước” dẫn người đọc vào cõi thiền – kiếm huyền bí của Edo, nơi một Ronin tật nguyền đối diện cái chết, ký ức và bản thể. Với bút pháp giàu hình ảnh và triết lý, Châu Đăng Khoa đã tạo nên một truyện ngắn độc đáo, đẹp và ám ảnh như một đường kiếm xé tuyết.
Xem thêm
Bất ngờ - Truyện ngắn của Lê Thúy Hà
Nhìn theo cô giáo trẻ lễ phép, thân thiện gửi xe chỗ ông, rồi bước đi hướng về căn phòng của lão trưởng phòng giáo dục thành phố, lòng ông Thái bỗng dấy lên nỗi bất an, “sao bây giờ vẫn còn có người đẹp tự nhiên, hương sắc mộc mạc thế, khéo lại là món mồi ngon tiếp theo của hắn rồi”. Nhưng ông đang mong muốn cơ hội này xuất hiện từng ngày, mà sao khả năng cao là đang đến, ông lại thấy lo lắng, bất an? Có phải sự mộc mạc, nhân hậu toát ra từ ánh mắt, giọng nói, con người cô giáo trẻ ấy khiến ông thấy bứt rứt.
Xem thêm
Người giữ mùa gió – Truyện Chu Phương Thảo
Con đường làng mùa hạ vẫn bụi mờ và khét nắng như thuở nào. Giữa cánh đồng khô cháy, một cậu bé gầy gò đang lom khom mò cá trong mương nước đục. Chiếc quần vá, đôi chân trần rớm máu vì gai cỏ nhưng ánh mắt sáng, kiên cường như muốn nuốt trọn cả chân trời nắng gắt.“Vũ ơi, về đi con, trưa rồi! Mẹ nấu cơm xong hết rồi đó!” Tiếng người phụ nữ gầy yếu gọi vọng từ xa, lạc giữa gió Lào bỏng rát. Cậu bé quay lại, cười toe toét:“Con bắt thêm con cá nữa thôi mẹ ơi! Tối nay mình có canh cá ăn nha!”
Xem thêm
“Quyền năng của người lớn” – Truyện ngắn Nguyễn Bình An
Giấc ngủ trưa của tôi bị phá tan bằng một thứ âm thanh làm tôi giật thót mình - tiếng mẹ chửi con.Mày đi khỏi nhà tao! Tại sao mày uống ca cà phê mà không dẹp? Đợi tao dẹp ha gì? Tao là mẹ mày hay ở đợ cho mày? Nội dung câu chửi cũng không đến mức khủng khiếp. Nhưng cái giọng chửi thì đáng kinh. Nó the thé, hoằm hoặm. Đó là tiếng chửi mà Bích trút xuống đứa con trai mới tám tuổi của mình - thằng Long. Long ngồi thu mình lại sát góc nhà. Hai tay như đang cố bịt tai. Hai chân dạng, lưng ngả ra sau tìm điểm tựa nơi vách nhà. Mắt mở thao láo, vô hồn. Dù cây cần nước để sống. Nhưng Long như một cây non quằn quại dưới làn nước mạnh liên tục dội tạt vào. Nó oặt mình đi. Bà mẹ trẻ đang dạy con hay đang trút hằn học trong người? Dũng - chồng Bích - đi làm gần hai tháng nay chưa thấy gửi tiền về. Những cuộc điện thoại của Bích gọi đi trong nước mắt nhưng Dũng luôn đáp lại bằng sự hững hờ.
Xem thêm