TIN TỨC

Lược sử về văn học thế giới

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-08-11 00:49:54
mail facebook google pos stwis
251 lượt xem

Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World  literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.

 

Văn hào Goethe, người khởi xướng quan niệm “văn học thế giới” theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc. Tranh: Joseph Karl Stieler

 

Hơn 180 năm qua, vấn đề văn học thế giới liên tục được đào sâu nghiên cứu, bản thân khái niệm này cũng được cấp thêm nhiều lớp ý nghĩa mới. Điều này không chỉ có ý nghĩa đối với việc tăng cường ý thức về một nền văn học toàn cầu “nhất thể hóa”, nhấn mạnh vai trò của các kiệt tác văn chương của các nền văn học dân tộc trong việc kiến tạo nền văn học nhân loại và địa vị của các nền văn học trên bản đồ văn chương thế giới; mà còn có ảnh hưởng hết sức to lớn và rõ rệt đối với sự phát triển của khoa nghiên cứu văn học thế giới và văn học so sánh.

Goethe được xem là cha đẻ của thuật ngữ “Weltliteratur” - “văn học thế giới”, cũng là người đầu tiên đề cập đến phạm trù này một cách xác quyết. Hệ thống trước tác bàn về văn học thế giới của Goethe chủ yếu tập trung trong giai đoạn 1827-1830, đồng thời, có thể tổng hợp qua ba điểm chính: Thứ nhất, văn học thế giới là một diễn đàn đối thoại và giao lưu. Văn học các dân tộc có thể thông qua việc tham gia diễn đàn này để tiến hành giao lưu, trao đổi, qua đó học hỏi, bổ sung lẫn nhau và cùng có được lợi ích tương ứng. Thứ hai, văn học thế giới là một lí tưởng về chủ nghĩa thế giới, có thể giúp cho các nền văn học dân tộc dần phá vỡ trạng thái biệt lập, chia rẽ; đồng thời, qua sự ảnh hưởng, hòa hợp lẫn nhau mà dần hình thành một thể thống nhất hữu cơ. Thứ ba, văn học thế giới là nơi văn học các dân tộc khẳng định giá trị của nền văn học mình. Goethe đứng từ góc độ của văn học Đức để đánh giá, bình luận về văn học thế giới. Ông khát khao văn học dân tộc mình sẽ đóng vai trò “vinh quang” và “tốt đẹp” trong tiến trình thúc đẩy sự hình thành của văn học thế giới; nhưng ông đồng thời cũng khá nhạy cảm với ưu thế của các nền văn học dân tộc khác, như văn học Pháp chẳng hạn.

Khi Goethe còn tại thế, quan niệm về “văn học thế giới” của ông đã nhận được sự quan tâm khắp trong và ngoài nước. Kể từ sau những năm 30 của thế kỉ XIX, “văn học thế giới” đã trở thành một chủ đề chung ở châu Âu. Năm 1848, trong Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, Marx và Engels cũng bày tỏ sự tán đồng đối với quan niệm “văn học thế giới”. Các ông cho rằng, cùng với quá trình mở rộng xuất khẩu tư bản và sự phát triển của thị trường thế giới, sẽ không chỉ có việc thúc đẩy sản xuất vật chất, mà việc sản xuất tinh thần cũng sẽ dần mang thuộc tính thế giới, “tính phiến diện và cục bộ của dân tộc sẽ dần khó lòng tồn tại, thế là nhiều nền văn học dân tộc và địa phương sẽ dần hình thành một loại văn học thế giới”. Như thế, Marx và Engels đã xem “văn học thế giới” như là hệ quả của quá trình hình thành thị trường thế giới của chủ nghĩa tư bản; đồng thời cho rằng, sự liên hiệp phổ biến giữa các nền văn học dân tộc là một xu thế tất yếu.

Năm 1886, Hutchesin Macaulay Posnett đã xuất bản công trình Văn học so sánh, trong đó, dành một dung lượng lớn để bàn về văn học thế giới. Trong công trình này, ông đã nêu ra mấy kiến giải mới như sau: Một là, ông đề cập đề vấn đề nguồn gốc đa nguyên của văn học thế giới, đồng thời cho rằng văn học thế giới bắt nguồn từ bốn nền văn minh cổ đại, gồm: Hy Lạp - La Mã, Do Thái, Ấn Độ và Trung Hoa. Các nền văn minh này tồn tại và phát triển độc lập, không có ảnh hưởng qua lại. Thứ hai, ông xuất phát từ đặc điểm các nền văn học của bốn nền văn minh cổ đại trên, quy nạp tinh thần văn học thế giới của mỗi nền văn học, cho rằng “tinh thần văn học thế giới” này được hình thành trên cơ sở kết tinh đặc tính dân tộc, đồng thời có sự tương thông với “tinh thần văn học thế giới” của các nền văn học khác, song là sự tương thông chứ không phải đồng nhất. Thứ ba, ông cũng cho rằng, sự phát triển của văn học có sự đồng bộ với tiến hóa xã hội, đi từ đơn giản đến phức tạp, trải qua quá trình phát triển từ thành bang, đến quốc gia rồi đến thế giới. Quan niệm “văn học thế giới” của Posnett đã phá vỡ quan điểm văn học thế giới phát triển đơn nhất tồn tại trước đó, cũng chính là văn học thế giới chủ nghĩa châu Âu, đồng thời xem văn học phương Đông, bao gồm Ấn Độ và Trung Hoa, như một trong những khởi nguồn quan trọng của văn học thế giới; qua đó, mở rộng phạm vi của văn học thế giới. Đây là một quan điểm có tính đột phá đối với sự phát triển của văn học toàn cầu.

 

Truyện Kiều bản tiếng Anh, do Penguin Classics phát hành. 

 

(Penguin Classics là dòng sách chuyên xuất bản các tác phẩm văn học kinh điển, triết học và lịch sử vĩ đại của thế giới.)

Nổi danh qua công trình Trào lưu chủ yếu của văn học thế kỉ XIX, nhà phê bình người Đan Mạch Georg Brandes, vào năm 1899, đã công bố bài viết Văn học thế giới. Trong công trình này, xuất phát từ góc nhìn của các quốc gia nhỏ ở châu Âu, ông đã tập trung bàn thảo về những vấn đề tranh cãi trong thực tế từ khái niệm văn học thế giới. Là một nhà phê bình của một đất nước nhỏ ở Bắc Âu, ông trước hết đặt ra vấn đề bất bình đẳng khi một nền văn học nhỏ tham gia vào văn học thế giới. Ông chỉ ra rằng, không phải bất kì tác phẩm văn học của dân tộc nào cũng có thể bước vào điện vàng văn học thế giới. Và vì thế, văn học thế giới chỉ thuộc về một số ít kiệt tác văn chương. Trên phương diện này, các nước lớn như Anh, Pháp, Đức… có ưu thế rất lớn. Trong khi đó, nếu sáng tác bằng các ngôn ngữ nhỏ ở châu Âu, sẽ ngay lập tức cho thấy sự thất thế về mặt danh tiếng. Bởi lẽ, các tác phẩm viết bằng ngôn ngữ nhỏ, dường như khó có cơ hội được dịch ra ngôn ngữ chính của thế giới. Nhận thức về vai trò quan trọng của dịch thuật đối với tiến trình gia nhập văn học thế giới đã cho thấy tầm vóc trí tuệ và khả năng dự đoán của Brandes. Ngoài ra, từ việc phản cảm đối với sự bất bình đẳng của văn học thế giới, ông cũng chỉ ra rằng, các tác phẩm thông qua dịch thuật để tham gia vào diễn đàn văn học thế giới không chắc đã là kiệt tác. Bởi lẽ, bản thân việc dịch thuật ít nhiều sẽ làm tổn hại đến tính tư tưởng và giá trị nghệ thuật của tác phẩm. Brandes cũng phê phán một số nhà văn, để có thể tham gia vào văn học thế giới mà có ý sáng tác ra các tác phẩm mang hơi hướng “phong cách thế giới” mà đánh mất đi màu sắc quê hương và dân tộc mình.

Năm 1916, nhà  thơ nổi tiếng người Ấn Rabindranath Tagore đã công bố bài viết Văn học thế giới. Tagore đã xuất phát từ góc độ nhân tính phổ quát để lí giải về “văn học thế giới”. Ông cho rằng, chỉ khi thế giới tinh thần của nhà văn ý thức được về tư tưởng của nhân loại, đồng thời phơi bày nỗi thống khổ của nhân tính trong tác phẩm của mình, thì tác phẩm của anh ta mới được xem là văn học thế giới. Trong quan niệm của Tagore, văn học thế giới không có sự phân biệt về dân tộc, hay sự khác biệt về địa vị, cũng chẳng có đến trước đến sau, chỉ cần nhà văn có thể biểu đạt được cái vượt lên trên sinh mệnh cá thể, mang ý nghĩa và tầm vóc nhân loại, thì tác phẩm của anh ta chính là văn học thế giới. Ông so sánh ẩn dụ “văn học thế giới” như một ngôi miếu thần, mà mỗi nhà văn ở các thời đại và dân tộc khác nhau đều cống hiến kiệt tác của mình và góp phần vào việc xây dựng ngôi miếu ấy. Những tác phẩm còn tồn tại nhiều khiếm khuyết sẽ dần bị loại ra, chỉ còn đọng lại những gì đẹp đẽ và tinh túy nhất, phù hợp nhất với “thiết kế tổng thể” của miếu thần văn học ấy. Mà cái mà ngôi miếu ấy phụng thờ, không gì khác chính là nhân tính phổ quát.

Trịnh Chấn Đạc là học giả Trung Quốc có những luận giải mang tính hệ thống sớm nhất về văn học thế giới tại nước này. Năm 1922, ông công bố bài viết Thế giới quan thống nhất của văn học, trong đó xem văn học nhân loại như một hệ thống thống nhất, đồng thời cho rằng, đặc tính thống nhất này có nguồn gốc từ “thế giới quan đồng nhất về bản năng của con người”; có nguồn gốc từ việc văn học là “sự phản ánh đời sống tình cảm và thế giới tinh thần của toàn thể nhân loại”. Văn học mặc dù có sự khác biệt về khu vực, dân tộc, thời đại, trào lưu… song trên nền tảng của nhân tính phổ quát, văn học có tính thống nhất thế giới, đó chính là văn học thế giới. Đặc biệt, trong bài viết này, Trịnh Chấn Đạc còn nhấn mạnh tầm quan trọng và tính khả thi của việc nghiên cứu văn học thế giới. Ông cho rằng, nếu văn học nhân loại là một “chỉnh thể thống nhất”, thì việc nghiên cứu văn học nên xuất phát từ lập trường “văn học tổng thể”, phá vỡ các giới hạn về mặt quốc gia, dân tộc, khu vực, thời gian,… “Xem văn học như một chỉnh thể, một đối tượng nghiên cứu độc lập, có sự thống nhất về thời gian, nơi chốn, nhân vật và thể loại, từ đó tiến hành các nghiên cứu toàn diện một cách triệt để.” Ông còn thiết đặt nhiệm vụ cho kiểu nghiên cứu chỉnh thể này: “Tổng hợp văn học của toàn nhân loại, để có thể nghiên cứu nguyên nhân hình thành của nó, dấu vết của sự tiến hóa cũng như dấu vết của sự thay đổi về tâm tư, tình cảm của con người.” Sau đó 5 năm, vào năm 1927, Trịnh Chấn Đạc đã xuất bản công trình đầu tiên về văn học sử thế giới tại Trung Quốc - Đại cương văn học, qua đó, tìm ra con đường thích hợp cho việc nghiên cứu văn học nhân loại từ góc độ chỉnh thể toàn diện.

Ông cũng ý thức được khó khăn mà nghiên cứu văn học thế giới luôn phải đối diện, văn học phản ánh nhân tính phổ quát, song không có sự thống nhất về mặt ngôn ngữ. Một người kể cả có vạn năng đi chăng nữa, cũng khó lòng có thể đọc hết nguyên văn của toàn bộ văn học nhân loại, chứ nói gì đến việc nghiên cứu. Nhưng Trịnh Chấn Đạc cũng cho rằng: “Có thể thông qua bản dịch, bởi lẽ, văn học có thể được dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác…  Sách văn học nếu có thể được dịch tốt, thì có giá trị tương đương với nguyên văn, cũng không ảnh hưởng đến sự hưng vong của sách gốc.” Ngoài ra, ông còn bàn đến vấn đề xây dựng khoa nghiên cứu văn học thế giới trong nhà trường. Ông cho rằng, khoa nghiên cứu văn học so sánh đã tồn tại trong hệ thống các trường đại học có những giới hạn, “chỉ có thể chọn lựa một phiến, một nhát văn học để tiến hành nghiên cứu so sánh” mà không thể tiến hành nghiên cứu văn học thế giới một cách chỉnh thể.

Năm 1974, Etiemble đã công bố bài viết Nên chăng sửa lại khái niệm văn học thế giới. Trong công trình này, ông bày tỏ sự bất mãn đối với thực tiễn văn học thế giới ở phương Tây đương thời. Ông chỉ ra rằng, nhiều loại niên biểu văn học thế giới, thư mục  sách, tuyển chọn tác phẩm, tư liệu nghiên cứu,… mặc dù núp bóng “văn học thế giới”, nhưng lại đầy ắp thiên kiến của chủ nghĩa châu Âu, bao gồm cả việc cố tình coi nhẹ văn học phương Đông, sùng bái thần tượng văn học dân tộc… Etiemble cho rằng, quan niệm hẹp hòi của học giới châu Âu đương thời về “văn học thế giới” đã đi ngược với lí tưởng ban đầu của Goethe. Ông chủ trương mở rộng phạm vi của văn học thế giới bao hàm toàn bộ văn học phương Đông.

Vào những năm 70 của thế kỉ XX, thuyết hệ thống thế giới (World System Theory) nổi lên ở Mĩ và có ảnh hưởng to lớn đối với quan niệm “văn học thế giới”. Hình dung văn học thế giới của Fraco Moretti, Với tư cách văn học thế giới của Pascale Casanova, Hệ thống văn học thế giới của Emily Apter đều đã vận dùng mô hình lí thuyết của Wallerstein vào việc nghiên cứu các vấn đề mang tính cấu trúc và quy luật cốt lõi của phát triển văn học thế giới cận đại.

Casanova cho rằng có một thực thể văn học mở rộng đến quy mô toàn thế giới, hay còn gọi là không gian văn học thế giới. Nó không phải là sự cộng gộp tất cả các nền văn học dân tộc toàn cầu, mà là một kết cấu to lớn được hình thành trên cơ sở giao lưu, liên kết với nhau giữa các nền văn học. Không gian văn học thế giới này có ba đặc trưng chủ yếu: Thứ nhất, sự hình thành của không gian văn học thế giới là một quá trình lịch sử. Thứ hai, không gian văn học thế giới vừa dựa vào hệ thống kinh tế, chính trị thế giới, nhưng cũng có tính tự trị nhất định. Thứ ba, không gian văn học thế giới có sự bất bình đẳng, được phân biệt bởi trung tâm và ngoại diên. Cấu trúc căn bản của không gian văn học thế giới, gần như đều xoay quanh sự đối lập và cạnh tranh giữa hai cực trung tâm và ngoại diên, từ đó hình thành sự chiếm lĩnh và phân phối bất bình đẳng về tư bản văn học.

Công trình Hình dung văn học thế giới của giáo sư Franco Moretti được xuất bản năm 2000, thu hút sự tranh luận rộng rãi. Ấn tượng sâu sắc nhất mà Moretti để lại khi bàn luận về văn học thế giới chính là việc ông lấy “cái cây” và “con sóng” ẩn dụ cho hai quy luật vận động cơ bản của văn học thế giới. “Cái cây” được vay mượn từ cấu trúc cây của Darwin khi bàn luận về nguồn gốc và sự tiến hóa của các giống loài, nhằm chỉ, trong quá trình tiến hóa của sự vật, từ một đến nhiều, không ngừng sinh sôi, giao thoa, từ đó hình thành các hệ thống gia tộc. “Con sóng” lại vay mượn đặc tính bao trùm, bao phủ và chiếm đoạt, thôn tính của nước trong quá trình vận động. “Cái cây” ẩn dụ quá trình phát triển từ đơn nhất đến đa dạng hóa của sự vật, trong khi “con sóng” lại trái ngược, miêu tả sự vật trong tiến trình phát triển, không ngừng hấp thu tính đa dạng để đạt được tính thống nhất. Moretti cho rằng, cũng giống như sự phát triển của ngôn ngữ, văn hóa, kĩ thuật, sự phát triển của văn học thế giới cũng là quá trình vận động giao thoa của “cái cây” và “con sóng” mà hệ quả của nó, tất yếu phải là sự tổng hòa.

Năm 2010, Lawrence Veuti đã công bố bài viết Nghiên cứu dịch thuật và văn học thế giới. Trong công trình này, ông đã tập trung phác họa vai trò của dịch thuật trong tiến trình cấu trúc văn học thế giới. Ông cho rằng văn học thế giới được hình thành trên cơ sở dịch thuật và lưu hành các văn bản văn học xuyên quốc gia, không có dịch thuật thì liền không có văn học thế giới. Song Lawrence Veuti không hề xem văn bản dịch như một sự sao chép đối với văn bản gốc, mà xem đó như là một quá trình sáng tạo lại văn bản gốc. Văn bản dịch ấy có sự tham gia của giá trị quan, tôn giáo tín ngưỡng và quan niệm của môi trường văn hóa dịch, đồng thời, có sự độc lập tương đối đối với phiên bản gốc. Điều này cũng có nghĩa là, sự lưu hành của văn học thế giới, không chỉ đơn thuần là sự dịch chuyển về mặt danh tiếng và giá trị, hay quá trình thẩm thấu, cải tạo một hiện tượng văn học, mà còn là quá trình văn học “nguồn” được gia tăng giá trị và tái sáng tạo.

Năm 2003, học giả David Damrosch đã xuất bản công trình Thế nào là văn học thế giới. Trong cuốn  sách này, ông xem “văn học thế giới” là các tác phẩm văn học đã vượt ra khỏi nơi chúng được sáng tạo ra, vượt thời gian, không gian, dựa vào ngôn ngữ gốc hoặc thông qua dịch thuật mà được lưu hành phổ biến trên phạm vi thế giới. Định nghĩa này của ông, nhận được sự tán đồng rộng rãi của giới học thuật quốc tế. Ông cũng là người tích cực thúc đẩy sự mở rộng về cấu trúc và quy mô của văn học thế giới, nỗ lực khai thác tài nguyên văn học phương Đông của văn học thế giới cũng như bàn luận về phương pháp dạy học và đọc văn học thế giới. Năm 2006, ông tiếp tục công bố bài viết Văn học thế giới trong thời đại hậu kinh điển, siêu kinh điển, xác định rõ tính hằng định và quy luật thay đổi của văn học kinh điển thế giới trong thời đại toàn cầu hóa. Sau khi thống kê số lượng công bố nghiên cứu về các nhà văn khác nhau giai đoạn 1964-2023 trong Cơ sở dữ liệu thư mục học thuật do Hiệp hội Ngôn ngữ hiện đại Hoa Kỳ biên soạn và phát hành, David Damrosch phát hiện, mặc dù phạm vi của kinh điển đã được mở rộng, song vị thế của các nhà văn học kinh điển cũ không hề bị lung lay. Trên cơ sở đó, David Damrosch đã đề xuất Thuyết ba tầng - Siêu kinh điển (Hyper-canon), hậu kinh điển/phản kinh điển (Counter-canon), bóng kinh điển (Shadow-canon). Siêu kinh điển chỉ các “đại văn hào”, sau hàng chục năm vẫn duy trì được địa vị hoặc thậm chí địa vị ngày càng trở nên quan trọng. Phản kinh điển chỉ các nhà văn phi chủ lưu hoặc gây tranh cãi. Họ dùng ngôn ngữ phi chủ lưu để sáng tác, hoặc mặc dù sử dụng ngôn ngữ nước lớn chủ lưu để sáng tác song lại thuộc về truyền thống văn học phi chủ lưu. Bóng kinh điển chỉ các nhà văn nhỏ, bị che lấp bởi các nhà văn siêu kinh điển, họ ngày một ẩn dật và cuối cùng biến mất đằng sau chiếc bóng của các siêu kinh điển. Thống kê của Damrosch cho thấy, địa vị của các nhà văn siêu kinh điển như Shakespeare, Homer, Joyce,… là không thể lung lay. Các tác giả phản kinh điển có thể rất nổi trội trong một giai đoạn nhất định nào đó, song cùng với dòng chảy thời gian, cuối cùng dần nhạt nhòa trong tầm mắt của độc giả.

Ngô Viết Hoàn

Nguồn: Báo Văn Nghệ

Bài viết liên quan

Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Trần Hạ Vi và hành trình nỗi nhớ
Phiến hạ là tập thơ thứ 3 của Trần Hạ Vi. Là người quan tâm đến đời sống văn học, tác giả và tác phẩm, nên trong những người Việt sống và viết ở hải ngoại, tôi khá quan tâm đến các tác giả như Trương Anh Tú (Đức), Võ Thị Như Mai (Úc) và Trần Hạ Vi (Canada). Vì thế, tôi tìm đọc Phiến hạ.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm