TIN TỨC

Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-08-18 17:49:03
mail facebook google pos stwis
320 lượt xem

XUÂN TRƯỜNG

Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.

Là một người lính trở về từ chiến trường sau cuộc trường chinh vệ quốc của dân tộc, anh đã nhanh chóng hòa nhập vào cuộc sống mới trong thời bình. Anh chọn cho mình thái độ sống tích cực, nhập cuộc xây dựng đất nước, đóng góp sức mình với xã hội bằng một doanh nghiệp sản xuất nhỏ. Từ đó, anh cũng đã phát hiện ra nhiều nỗi khắc nghiệt trong thương trường, chẳng khác nào những gian truân dữ dội của chiến trường xưa. Chính những cảm xúc từ chiến trường và thương trường đã dẫn anh đến những chiêm nghiệm về nhân sinh. Anh hoài niệm chiến trường, giữ niềm tin nơi thương trường và nhìn đời bằng đôi mắt bao dung, luôn vì người, vì mình. Anh đến với thơ bằng một tâm thế riêng, điều ấy đã rõ trong tập thơ đầu tay “Truyền thuyết cánh cò” và trong tập “Lời ru bão giông” lần này, anh đã quan tâm nhiều hơn đến thân phận con người, từng mảnh đời, từng số phận đang tồn tại trong thời đại hôm nay. Đấy là cái quý của người làm thơ: không chỉ nhớ về quá khứ hào hùng, mà còn hướng đến nỗi đau nghèo khó thường trực của tha nhân trong cuộc đời này.

Nhà thơ Trần Hóa và tập thơ "Lời ru bão giông".

Phát hiện những tồn tại xã hội rất bình thường mà ít ai để ý qua cái nhịp bước khẩn trương của cuộc sống:

“À ơi tiếng mẹ ru con
Chưa thành câu giọng vẫn còn trẻ thơ
Bẫy ai giăng mắc – dại khờ
Vị thành niên đã phút giờ lệ rơi
Lời ru vọng cả đất trời
Mẹ đơn thân sớm chịu lời đa đoan
...
Bà Ngoại trăm nỗi ưu phiền
Ôm con ôm cháu tủi riêng phận mình
Lời ru Ngoại thấm ân tình
Nhịp đâu ai oán thình lình bão giông
Thôi con nín lại trong lòng
Bật ra nội lực đi trong cuộc đời”
(Trong bài “Lời ru bão giông”)

Chuyện tưởng như nhỏ thế mà có sức lan tỏa và cảnh tỉnh cuộc đời ghê gớm. Về với đời thường là vậy, còn trở lại chiến trường thì sao? Đây, các bạn hãy nghe Trần Hóa:

“Còn mãi trong tôi một nỗi niềm sâu thẳm
Chỗ khúc sông nào... năm ấy bạn ơi
Xin những con thuyền qua đó nhẹ tay bơi”

Trần Hóa luôn nhớ thương da diết đồng đội của mình bằng những vần thơ lặng lẽ, nhẹ nhàng mà sâu thẳm (trong bài “Chỗ bạn tôi nằm”). Phải chăng triết lý nhân sinh muốn xuất hiện trong thơ Trần Hóa:

“Quán trọ trần gian muôn khách đến
Ai người gặp gỡ chẳng chia phôi
Cát bụi sẽ quay về cát bụi
Dẫu trăm năm cũng hữu hạn một đời”
(Trong bài “Tôi muốn”)

Nhà thơ đã nhận biết tính khắc nghiệt của thời gian tác động lên con người bằng những câu thơ nhẹ nhàng mà trong trẻo:

“Giật mình mái tóc hôm nay
Dài ra tuổi tác ngắn ngày thanh xuân”
(Trong bài “Thiếu phụ soi gương”)

Trần Hóa luôn thương về quê hương và miền Trung thân yêu, nơi thường xuyên có mùa mưa bão gây nhiều đau thương, khổ cực với những câu thơ ấn tượng:

“Bão cuốn tất cả đi qua còn nỗi đau ở lại
Cửa nhà tan hoang ruộng đồng phờ phạt”
(Trong bài “Cơn bão dữ số ba”)

Nhà thơ cũng bị ám ảnh bởi đại dịch Covid-19, và cảm phục những tinh thần vì nhau của giống nòi dân tộc:

“Cái chết cứ đầy lên trong trái tim yêu thương
Cay mắt rưng rưng trên ngọn rau thiện nguyện
Máu cứ hồng lên từ hạt cơm không đồng”
(Trong bài “Thành phố tôi yêu”)

Thơ đã len vào những cuộc sống cơ hàn giữa hôm nay:

“Thấy đứa em ngồi yên thằng anh mới an lòng
Tìm tương lai trong đống rác để đem về bán, phụ mẹ nuôi em”

Hai câu thơ ngắn mà đầy sức lay gợi cho sự hồi hướng tâm hồn (trong bài “Hai đứa bé”). Lại tìm đồng đội:

“Linh thiêng bạn hãy dùng giằng
Níu chân mình lại tỏ rằng bạn đây
Tháng năm thao thức hao gầy
Tìm chưa được bạn một ngày chưa yên”
(Trong bài “Tìm bạn 2”)

Trong mảng thơ tình, Trần Hóa như trẻ ra với sự hồn nhiên, với cái ban đầu ấy, trong cái lãng mạn trữ tình:

“Nầy cô em gái Bến Tre
Bà ba nở ngực nón che nghiêng đầu
Xuôi dòng Vọng cổ nông sâu
Lúm đồng tiền gửi về đâu chưa mình”
(Trong bài “Gẹo đò”)

Câu thơ “Bà ba nở ngực nón che nghiêng đầu” gợi hình đam mê và xao xuyến quá, khiến tôi nhớ đến một cảm xúc của nhà thơ tài hoa Nguyễn Bính: “Áo cài khuy bấm em làm khổ tôi”. Có lẽ đây là câu thơ để đời của Trần Hóa. Xa rồi, quên rồi, bị bỏ rơi rồi nhưng không hờn giận:

“Trước người mới xin hỏi em chân thật
Có thương em nhiều nhất như anh
Mỗi khi buồn có cuống quýt dỗ dành
Có nhường nhịn cả khi em vô lý”
(Trong bài “Chỉ cần em hạnh phúc”)

Yêu như vậy thì đâu có hệ lụy gì. Đó là tình yêu của thơ và thơ của Trần Hóa, còn cảm nhận tùy người. Sự hiến dâng đến kỳ lạ đối với người đã xa ta rồi, bỏ ta đi mà không hề ai oán, hận thù:

“Như em đã cắt ta mà vết xưa cứ sâu dần
Những lúc trở trời ta lại nhớ em
Bởi trong yêu thương ta không giành khôn dại”
(Trong bài “Xót xa”)

Thơ tình như thế cũng là thượng thừa rồi.

Trần Hóa luôn hướng về quê hương nguồn cội trong những bài thơ viết về mẹ, dòng sông, bến nước, con đò. Đó cũng là thông điệp nhắc nhở cho thơ hôm nay. Trong tập này, thơ anh đa dạng về đề tài, sử dụng nhiều thể loại, nhiều cách thể hiện. Anh đã sở hữu những câu thơ tự do đầy sức lay gợi và những câu thơ lục bát ấn tượng để đời. Trong tập này có những câu thơ mang chất triết lý và tư tưởng rõ nét. Có những bài thơ anh đã giản lược chủ từ để rồi ai đọc cũng thấy đó là của mình. Thủ pháp này đã làm cho bài thơ thêm nhiều chủ thể.

Đôi lời mở cửa vào tập thơ mới của Trần Hóa, không thể nào cùng một lúc đi hết những gì anh đã viết. Xin nhường sự cảm nhận và chia sẻ cho quý bạn đọc. Khép lại trang viết, tôi xin chúc Trần Hóa giàu nghị lực sáng tạo trên bước đường thơ ca, khi cuộc đời còn nhiều nỗi niềm cơm áo, đa đoan. Chúc nhà thơ an lành.

Gò Vấp, 15 tháng 5 năm 2025

Bài viết liên quan

Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Trần Hạ Vi và hành trình nỗi nhớ
Phiến hạ là tập thơ thứ 3 của Trần Hạ Vi. Là người quan tâm đến đời sống văn học, tác giả và tác phẩm, nên trong những người Việt sống và viết ở hải ngoại, tôi khá quan tâm đến các tác giả như Trương Anh Tú (Đức), Võ Thị Như Mai (Úc) và Trần Hạ Vi (Canada). Vì thế, tôi tìm đọc Phiến hạ.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm