TIN TỨC

Nhãn tự, linh hồn của thi ca

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-08-18 22:09:31
mail facebook google pos stwis
386 lượt xem

Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.

 

"Nhãn tự", linh hồn của thi ca. Minh họa: Phùng Minh

 

“Nhãn” là mắt. “Nhãn tự” là con mắt của bài thơ. Đó là chữ làm sáng cả bài thơ, làm bừng lên tư tưởng, cảm xúc và thần thái của thi phẩm. Nếu ví bài thơ như một gương mặt thì “nhãn tự” chính là đôi mắt, nơi thần sắc hội tụ. Một bài thơ mà thiếu “nhãn tự” thì chưa thực sự có hồn.

Trong mỗi lĩnh vực đời sống xã hội, chữ có các vai trò khác nhau. Trong văn xuôi, chữ dùng để kể, để tả, để lập luận... Trong báo chí, chữ để truyền đạt thông tin. Trong khoa học, chữ dùng để định nghĩa và chứng minh. Nhưng ở thơ, chữ có một đời sống khác. Nó vừa mang nghĩa trong từ điển vừa mang theo ký ức, âm thanh, nhịp điệu, màu sắc và những tầng liên tưởng vượt ra ngoài giới hạn của chính nó.

Thế nên có người đã mạnh dạn khẳng định, thơ là nghệ thuật của ngôn từ. Nhưng nghiên cứu kỹ thì thấy khái quát ấy vẫn chưa thật đầy đủ bởi thơ đã giải phóng con chữ khỏi chức năng thông thường. Một chữ trong thơ còn giúp người đọc có thể nghe, để nhìn, để cảm, để nghĩ và để nhớ.

Ví dụ, ca dao có hai câu rất quen thuộc: “Trời mưa ướt bụi, ướt bờ/ Ướt cây, ướt lá, ai ngờ ướt em”.

14 chữ, toàn những từ rất bình dân, nhưng cái đẹp của câu ca không nằm ở 10 chữ đầu mà bừng sáng ở 4 chữ cuối: “Ai ngờ ướt em”.

Nếu nhìn bằng logic, câu thơ ấy gần như vô lý. Mưa đã làm ướt bụi, ướt bờ, ướt cây, ướt lá thì người đi trong mưa bị ướt là điều hiển nhiên. Nhưng ở đây “ai ngờ” không phải là sự ngạc nhiên của lý trí mà là sự xót xa của người đang yêu. Trong khoảnh khắc ấy, cả cơn mưa rộng lớn chỉ còn lại một người con gái. 4 chữ cuối không chỉ kết thúc câu ca mà còn mở ra toàn bộ chiều sâu cảm xúc. Có thể nói, “ngờ” chính là nhãn tự của bài ca dao. Chỉ một chữ ấy đã chuyển hiện thực sang thi ca, chuyển sự việc thành tâm trạng.

Nguyễn Du viết: “Cỏ non xanh tận chân trời/ Cành lê trắng điểm một vài bông hoa ("Truyện Kiều").

Biết bao đời nay, người đọc vẫn nhắc đến chữ “điểm”. Nếu thay bằng “nở”, “có”, “mọc” hay “chen”, bức tranh mùa xuân sẽ lập tức mất đi thần thái. Chữ “điểm” làm cho vài bông lê trắng không còn là một chi tiết thực vật học mà trở thành nét chấm phá của một bức thủy mặc phương Đông. Chỉ một chữ mà cả mùa xuân bừng sáng.

Quang Dũng đưa chữ “đong đưa” vào bài thơ nổi tiếng "Tây Tiến" trong đoạn tả về sông Mã hung dữ: “Có nhớ dáng người trên độc mộc/ Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”. Ở đây, chữ “đong đưa” làm mềm cả dòng nước lũ, khiến thiên nhiên dữ dội vẫn phảng phất vẻ duyên dáng, mơ hồ của miền sơn cước. Đó là vẻ đẹp rất Quang Dũng, vừa dữ dội vừa lãng mạn, tài hoa.

Lê Đạt thì đi xa hơn khi không tìm một nhãn tự mà sáng tạo cả một nhãn ngữ: “Chia xa rồi anh mới thấy em/ Như một thời thơ thiếu nhỏ/ Em về trắng đầy cong khung nhớ/ Mưa mấy mùa/ mây mấy độ thu” ("Bóng chữ").

“Khung nhớ” trong câu thơ trên khiến nỗi nhớ như có hình khối, có biên giới, có thể nhìn thấy và chạm tới. Lúc này ngôn ngữ không còn là công cụ diễn đạt đơn thuần mà đã vượt lên trở thành một sáng tạo nghệ thuật.

Đến đây, có thể nói rằng, lao động của nhà thơ trước hết là lao động với con chữ. Nhưng lao động ấy không phải để tìm chữ lạ, chữ hiếm hay chữ cầu kỳ. Điều khó nhất là tìm được “nhãn tự”, con chữ có thể gánh được linh hồn của cả bài thơ. Người xưa gọi đó là “thi nhãn”, là nơi trái tim của bài thơ cất tiếng.

Người ta thường nói đến lao động nghệ thuật của nhà thơ bằng những cụm từ như “đúc chữ”, “luyện chữ”, “chọn chữ”. Điều đó đúng, nhưng vẫn chưa nói hết bản chất của công việc làm thơ. Nhà thơ không chỉ chọn một từ cho đúng nghĩa mà còn chọn một từ đúng với nhịp đập của trái tim mình. Mỗi lần thay một chữ là thay đổi trạng thái cảm xúc, chuyển đổi ký ức của chính mình.

Có người mất hàng tháng chỉ để tìm một chữ. Có người sửa đi sửa lại một bài thơ hàng chục lần nhưng vẫn chưa yên lòng vì thơ không cho phép sự dễ dãi. Một chữ đặt sai chỗ có thể làm nhạt cả bài thơ; một chữ đặt đúng chỗ có thể làm sáng cả một đời thơ. Người đọc thường chỉ nhìn thấy bài thơ đã hoàn chỉnh, nhưng không nhìn thấy hàng chục, thậm chí hàng trăm con chữ đã bị tác giả lặng lẽ loại bỏ.

Một chữ trong thơ không chỉ là một đơn vị ngôn ngữ. Nó là nơi gặp nhau của 3 tầng giá trị: Nghĩa của từ, kinh nghiệm sống của tác giả và kinh nghiệm tiếp nhận của người đọc. Khi 3 tầng ấy cộng hưởng, con chữ không còn chỉ để gọi tên sự vật mà bắt đầu phát sáng như một biểu tượng. Đó là lúc ngôn ngữ vượt khỏi chức năng thông báo để bước vào địa hạt nghệ thuật.

Trong "Truyện Kiều", Nguyễn Du viết: “Ngổn ngang trăm mối bên lòng/ Nên câu tuyệt mệnh ngụ trong tính tình”.

Đằng sau mỗi câu thơ hay luôn là một quá trình tích lũy của tri thức, của trải nghiệm và của những dằn vặt nội tâm. Con chữ chỉ xuất hiện ở phút cuối cùng, nhưng trước đó là cả một hành trình sống. Bởi vậy, thơ không được làm nên bằng vốn từ nhiều hay ít mà bằng độ sâu của tâm hồn. Người viết càng sống sâu con chữ càng có sức nặng; càng trải nghiệm nhiều, ngôn ngữ càng có khả năng lay động.

Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của công nghệ và trí tuệ nhân tạo (AI), việc tạo ra một bài thơ có vần điệu đã trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết. Chỉ cần vài dòng gợi ý, máy tính có thể tạo ra hàng chục, thậm chí hàng trăm bài thơ với hình thức khá chỉn chu. Điều đó đặt ra một câu hỏi thú vị: Nếu máy cũng biết gieo vần, biết sử dụng hình ảnh, biết mô phỏng phong cách của các thi sĩ, vậy điều gì còn làm nên giá trị riêng của thơ?

Câu trả lời có lẽ vẫn nằm ở con chữ.

Máy có thể lựa chọn những từ xác suất cao nhất để ghép thành câu. Nhưng “nhãn tự” không phải là kết quả của xác suất. Nó là kết quả của một trải nghiệm sống không thể lặp lại. Một chữ làm rung động lòng người vì nó đứng đúng vị trí trong câu thơ; vì phía sau nó là một đời sống, một số phận, một ký ức và một trái tim đã từng yêu, từng đau, từng hy vọng.

Không có thuật toán nào tính được độ day dứt của chữ “thương” trong ca dao. Không có mô hình ngôn ngữ nào đo được sức nặng của chữ “đợi” trong thơ Nguyễn Bính hay chữ “nhớ” trong thơ Quang Dũng. Những con chữ ấy vượt ra ngoài nghĩa từ điển. Chúng mang theo hơi thở của đời sống và vì thế mới có khả năng đánh thức những rung động của người đọc.

Lịch sử thi ca Việt Nam cho thấy, mỗi giai đoạn đều có những cách tân về hình thức. Từ thơ Đường luật đến thơ mới, từ lục bát truyền thống đến thơ tự do, từ thơ tượng trưng đến thơ hậu hiện đại, ngôn ngữ thơ luôn vận động. Nhưng có một điều chưa bao giờ thay đổi: Mọi cách tân chỉ thực sự có ý nghĩa khi làm giàu thêm sức sống của con chữ.

Điều người đọc tìm kiếm trong một bài thơ không phải là những cấu trúc kỳ lạ hay những tổ hợp ngôn ngữ gây choáng ngợp. Điều họ tìm kiếm là một câu thơ có thể đi cùng mình qua năm tháng; một con chữ có thể soi sáng một ký ức, an ủi một nỗi buồn, đánh thức một niềm tin hoặc mở ra một cách nhìn mới về cuộc sống.

Bởi vậy, trách nhiệm lớn nhất của người làm thơ hôm nay không phải là chạy theo cái mới bằng mọi giá mà là gìn giữ phẩm giá của con chữ. Mỗi chữ viết ra cần được cân nhắc bằng lương tri, được nuôi dưỡng bằng tri thức và được sưởi ấm bằng cảm xúc chân thành. Chỉ khi đó, thơ mới không trở thành trò chơi ngôn ngữ, luôn giữ được thiên chức cao đẹp: Làm cho con người sống nhân ái hơn, sâu sắc hơn và giàu lòng trắc ẩn hơn.

Suy cho cùng, thơ được làm từ con chữ nhưng sống bằng linh hồn gửi trong con chữ. Mỗi bài thơ có thể có hàng trăm câu, hàng nghìn chữ, nhưng chỉ cần một "nhãn tự" đủ sức kết tinh cảm xúc và tư tưởng thì cũng có thể vượt qua giới hạn của thời gian. Bởi vậy, lao động của người làm thơ trước hết là lao động với chính cuộc đời mình, để mỗi con chữ khi cất lên vừa đẹp về ngôn từ, sáng lên bởi trải nghiệm, nhân cách và tình yêu con người.

Đó cũng là phẩm giá bền vững nhất của thi ca.

Trương Huyền

Nguồn: Báo Quân Đội Nhân Dân

Bài viết liên quan

Xem thêm
Người sống với văn chương cùng thời
PGS-TS Hồ Thế Hà đọc Thi pháp truyện ngắn hiện đại của Bùi Việt Thắng, Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 2020
Xem thêm
Đời vẫn xanh, tình vẫn xanh và thơ…
Bài đăng tạp chí Sông Hương, tháng 9/2026
Xem thêm
Đi qua “nham thạch”, đón mùi “lụa hương”
Có những bài thơ, vừa đọc qua, đã cảm thấy độ nóng bỏng như lửa, nhưng ngẫm kỹ, lại thấy bên trong ấy, chứa đầy một thế giới rất mềm mại, dịu êm. Cũng có những bài thơ chỉ thoảng qua như một mùi hương, tưởng nhẹ tênh mà lại đủ sức níu lấy cả một miền ký ức.
Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm