TIN TỨC

Nhãn tự, linh hồn của thi ca

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-08-18 22:09:31
mail facebook google pos stwis
280 lượt xem

Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.

 

"Nhãn tự", linh hồn của thi ca. Minh họa: Phùng Minh

 

“Nhãn” là mắt. “Nhãn tự” là con mắt của bài thơ. Đó là chữ làm sáng cả bài thơ, làm bừng lên tư tưởng, cảm xúc và thần thái của thi phẩm. Nếu ví bài thơ như một gương mặt thì “nhãn tự” chính là đôi mắt, nơi thần sắc hội tụ. Một bài thơ mà thiếu “nhãn tự” thì chưa thực sự có hồn.

Trong mỗi lĩnh vực đời sống xã hội, chữ có các vai trò khác nhau. Trong văn xuôi, chữ dùng để kể, để tả, để lập luận... Trong báo chí, chữ để truyền đạt thông tin. Trong khoa học, chữ dùng để định nghĩa và chứng minh. Nhưng ở thơ, chữ có một đời sống khác. Nó vừa mang nghĩa trong từ điển vừa mang theo ký ức, âm thanh, nhịp điệu, màu sắc và những tầng liên tưởng vượt ra ngoài giới hạn của chính nó.

Thế nên có người đã mạnh dạn khẳng định, thơ là nghệ thuật của ngôn từ. Nhưng nghiên cứu kỹ thì thấy khái quát ấy vẫn chưa thật đầy đủ bởi thơ đã giải phóng con chữ khỏi chức năng thông thường. Một chữ trong thơ còn giúp người đọc có thể nghe, để nhìn, để cảm, để nghĩ và để nhớ.

Ví dụ, ca dao có hai câu rất quen thuộc: “Trời mưa ướt bụi, ướt bờ/ Ướt cây, ướt lá, ai ngờ ướt em”.

14 chữ, toàn những từ rất bình dân, nhưng cái đẹp của câu ca không nằm ở 10 chữ đầu mà bừng sáng ở 4 chữ cuối: “Ai ngờ ướt em”.

Nếu nhìn bằng logic, câu thơ ấy gần như vô lý. Mưa đã làm ướt bụi, ướt bờ, ướt cây, ướt lá thì người đi trong mưa bị ướt là điều hiển nhiên. Nhưng ở đây “ai ngờ” không phải là sự ngạc nhiên của lý trí mà là sự xót xa của người đang yêu. Trong khoảnh khắc ấy, cả cơn mưa rộng lớn chỉ còn lại một người con gái. 4 chữ cuối không chỉ kết thúc câu ca mà còn mở ra toàn bộ chiều sâu cảm xúc. Có thể nói, “ngờ” chính là nhãn tự của bài ca dao. Chỉ một chữ ấy đã chuyển hiện thực sang thi ca, chuyển sự việc thành tâm trạng.

Nguyễn Du viết: “Cỏ non xanh tận chân trời/ Cành lê trắng điểm một vài bông hoa ("Truyện Kiều").

Biết bao đời nay, người đọc vẫn nhắc đến chữ “điểm”. Nếu thay bằng “nở”, “có”, “mọc” hay “chen”, bức tranh mùa xuân sẽ lập tức mất đi thần thái. Chữ “điểm” làm cho vài bông lê trắng không còn là một chi tiết thực vật học mà trở thành nét chấm phá của một bức thủy mặc phương Đông. Chỉ một chữ mà cả mùa xuân bừng sáng.

Quang Dũng đưa chữ “đong đưa” vào bài thơ nổi tiếng "Tây Tiến" trong đoạn tả về sông Mã hung dữ: “Có nhớ dáng người trên độc mộc/ Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”. Ở đây, chữ “đong đưa” làm mềm cả dòng nước lũ, khiến thiên nhiên dữ dội vẫn phảng phất vẻ duyên dáng, mơ hồ của miền sơn cước. Đó là vẻ đẹp rất Quang Dũng, vừa dữ dội vừa lãng mạn, tài hoa.

Lê Đạt thì đi xa hơn khi không tìm một nhãn tự mà sáng tạo cả một nhãn ngữ: “Chia xa rồi anh mới thấy em/ Như một thời thơ thiếu nhỏ/ Em về trắng đầy cong khung nhớ/ Mưa mấy mùa/ mây mấy độ thu” ("Bóng chữ").

“Khung nhớ” trong câu thơ trên khiến nỗi nhớ như có hình khối, có biên giới, có thể nhìn thấy và chạm tới. Lúc này ngôn ngữ không còn là công cụ diễn đạt đơn thuần mà đã vượt lên trở thành một sáng tạo nghệ thuật.

Đến đây, có thể nói rằng, lao động của nhà thơ trước hết là lao động với con chữ. Nhưng lao động ấy không phải để tìm chữ lạ, chữ hiếm hay chữ cầu kỳ. Điều khó nhất là tìm được “nhãn tự”, con chữ có thể gánh được linh hồn của cả bài thơ. Người xưa gọi đó là “thi nhãn”, là nơi trái tim của bài thơ cất tiếng.

Người ta thường nói đến lao động nghệ thuật của nhà thơ bằng những cụm từ như “đúc chữ”, “luyện chữ”, “chọn chữ”. Điều đó đúng, nhưng vẫn chưa nói hết bản chất của công việc làm thơ. Nhà thơ không chỉ chọn một từ cho đúng nghĩa mà còn chọn một từ đúng với nhịp đập của trái tim mình. Mỗi lần thay một chữ là thay đổi trạng thái cảm xúc, chuyển đổi ký ức của chính mình.

Có người mất hàng tháng chỉ để tìm một chữ. Có người sửa đi sửa lại một bài thơ hàng chục lần nhưng vẫn chưa yên lòng vì thơ không cho phép sự dễ dãi. Một chữ đặt sai chỗ có thể làm nhạt cả bài thơ; một chữ đặt đúng chỗ có thể làm sáng cả một đời thơ. Người đọc thường chỉ nhìn thấy bài thơ đã hoàn chỉnh, nhưng không nhìn thấy hàng chục, thậm chí hàng trăm con chữ đã bị tác giả lặng lẽ loại bỏ.

Một chữ trong thơ không chỉ là một đơn vị ngôn ngữ. Nó là nơi gặp nhau của 3 tầng giá trị: Nghĩa của từ, kinh nghiệm sống của tác giả và kinh nghiệm tiếp nhận của người đọc. Khi 3 tầng ấy cộng hưởng, con chữ không còn chỉ để gọi tên sự vật mà bắt đầu phát sáng như một biểu tượng. Đó là lúc ngôn ngữ vượt khỏi chức năng thông báo để bước vào địa hạt nghệ thuật.

Trong "Truyện Kiều", Nguyễn Du viết: “Ngổn ngang trăm mối bên lòng/ Nên câu tuyệt mệnh ngụ trong tính tình”.

Đằng sau mỗi câu thơ hay luôn là một quá trình tích lũy của tri thức, của trải nghiệm và của những dằn vặt nội tâm. Con chữ chỉ xuất hiện ở phút cuối cùng, nhưng trước đó là cả một hành trình sống. Bởi vậy, thơ không được làm nên bằng vốn từ nhiều hay ít mà bằng độ sâu của tâm hồn. Người viết càng sống sâu con chữ càng có sức nặng; càng trải nghiệm nhiều, ngôn ngữ càng có khả năng lay động.

Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của công nghệ và trí tuệ nhân tạo (AI), việc tạo ra một bài thơ có vần điệu đã trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết. Chỉ cần vài dòng gợi ý, máy tính có thể tạo ra hàng chục, thậm chí hàng trăm bài thơ với hình thức khá chỉn chu. Điều đó đặt ra một câu hỏi thú vị: Nếu máy cũng biết gieo vần, biết sử dụng hình ảnh, biết mô phỏng phong cách của các thi sĩ, vậy điều gì còn làm nên giá trị riêng của thơ?

Câu trả lời có lẽ vẫn nằm ở con chữ.

Máy có thể lựa chọn những từ xác suất cao nhất để ghép thành câu. Nhưng “nhãn tự” không phải là kết quả của xác suất. Nó là kết quả của một trải nghiệm sống không thể lặp lại. Một chữ làm rung động lòng người vì nó đứng đúng vị trí trong câu thơ; vì phía sau nó là một đời sống, một số phận, một ký ức và một trái tim đã từng yêu, từng đau, từng hy vọng.

Không có thuật toán nào tính được độ day dứt của chữ “thương” trong ca dao. Không có mô hình ngôn ngữ nào đo được sức nặng của chữ “đợi” trong thơ Nguyễn Bính hay chữ “nhớ” trong thơ Quang Dũng. Những con chữ ấy vượt ra ngoài nghĩa từ điển. Chúng mang theo hơi thở của đời sống và vì thế mới có khả năng đánh thức những rung động của người đọc.

Lịch sử thi ca Việt Nam cho thấy, mỗi giai đoạn đều có những cách tân về hình thức. Từ thơ Đường luật đến thơ mới, từ lục bát truyền thống đến thơ tự do, từ thơ tượng trưng đến thơ hậu hiện đại, ngôn ngữ thơ luôn vận động. Nhưng có một điều chưa bao giờ thay đổi: Mọi cách tân chỉ thực sự có ý nghĩa khi làm giàu thêm sức sống của con chữ.

Điều người đọc tìm kiếm trong một bài thơ không phải là những cấu trúc kỳ lạ hay những tổ hợp ngôn ngữ gây choáng ngợp. Điều họ tìm kiếm là một câu thơ có thể đi cùng mình qua năm tháng; một con chữ có thể soi sáng một ký ức, an ủi một nỗi buồn, đánh thức một niềm tin hoặc mở ra một cách nhìn mới về cuộc sống.

Bởi vậy, trách nhiệm lớn nhất của người làm thơ hôm nay không phải là chạy theo cái mới bằng mọi giá mà là gìn giữ phẩm giá của con chữ. Mỗi chữ viết ra cần được cân nhắc bằng lương tri, được nuôi dưỡng bằng tri thức và được sưởi ấm bằng cảm xúc chân thành. Chỉ khi đó, thơ mới không trở thành trò chơi ngôn ngữ, luôn giữ được thiên chức cao đẹp: Làm cho con người sống nhân ái hơn, sâu sắc hơn và giàu lòng trắc ẩn hơn.

Suy cho cùng, thơ được làm từ con chữ nhưng sống bằng linh hồn gửi trong con chữ. Mỗi bài thơ có thể có hàng trăm câu, hàng nghìn chữ, nhưng chỉ cần một "nhãn tự" đủ sức kết tinh cảm xúc và tư tưởng thì cũng có thể vượt qua giới hạn của thời gian. Bởi vậy, lao động của người làm thơ trước hết là lao động với chính cuộc đời mình, để mỗi con chữ khi cất lên vừa đẹp về ngôn từ, sáng lên bởi trải nghiệm, nhân cách và tình yêu con người.

Đó cũng là phẩm giá bền vững nhất của thi ca.

Trương Huyền

Nguồn: Báo Quân Đội Nhân Dân

Bài viết liên quan

Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Trần Hạ Vi và hành trình nỗi nhớ
Phiến hạ là tập thơ thứ 3 của Trần Hạ Vi. Là người quan tâm đến đời sống văn học, tác giả và tác phẩm, nên trong những người Việt sống và viết ở hải ngoại, tôi khá quan tâm đến các tác giả như Trương Anh Tú (Đức), Võ Thị Như Mai (Úc) và Trần Hạ Vi (Canada). Vì thế, tôi tìm đọc Phiến hạ.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm