TIN TỨC

Chàng lãng tử và nhà thơ thiền

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-05-11 01:58:46
mail facebook google pos stwis
723 lượt xem

TRƯƠNG VĂN DÂN

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.

 

Lê Viết Yên và nhà thơ Phạm Thiên Thư

 

Đó là câu chuyện về hai người bạn có tính cách và số phận rất đỗi khác nhau. Trong khi Narcissus là một thanh niên duy lý, coi trọng tri thức, sống trong tu viện và có ít quan hệ với đời thường nên ít hiểu ý nghĩa thực của cuộc sống; Còn Goldmund thì được người cha gà trống nuôi con muốn nó phải hiến dâng cuộc đời cho Chúa để bù đắp tội lỗi của người mẹ Di-gan hoang đàng. Hai nhân vật là đôi bạn nhưng có hai lối sống trái ngược và bổ sung nhau như hai phần đen trắng trong một con người. Một bên nghiêm túc, kỷ luật, bên còn lại buông thả, lãng mạn đậm chất nghệ sĩ.

Chính Narcissus đã giúp Goldmund nhận ra rằng cuộc sống của nhà tu không phải dành cho anh và sau đó Goldmund trốn khỏi tu viện.

Nhớ và tự nhiên liên tưởng đến tác phẩm của Hesse vậy thôi chứ hai người đi trên xe máy này không ai khổ hạnh và cũng chẳng lang thang. Vì, nếu nói cho đúng thì có lẽ đây là một gã lãng tử, và nhà thơ thiền, một nhà tu hoàn tục. Gã lãng tử hỡ cứ vác ba lô lên vai là đi, một mẫu “Típ-phờ-nờ”[1] đã từng làm biết bao nhiêu trái tim loạn nhịp còn nhà thơ thì cũng một thời đa đoan.

Hai người đó là Lê Viết Yên và Phạm Thiên Thư.

Hình như định mệnh chỉ vận vào Lê Viết Yên có một nửa: trong tên anh có chữ “Viết”, nhưng tính thích rày đây mai đó, khoái… “Lê”.. la, nên không thể ngồi “Yên”: “Viết” là phải kiên nhẫn ngồi hằng giờ trước trang giấy thế mà đôi chân cứ ngọ nguậy, hễ nghe tiếng máy xe gầm gừ cám dỗ thì chữ nghĩa khó mà tuôn chảy.

Thế nên định mệnh chỉ vận vào anh theo một hệ luỵ gián tiếp: đó là sách. Có thể nói hiếm người yêu sách như Lê Viết Yên. Trong chiếc ba lô cuả anh, ngoài bộ ấm trà lúc nào cũng có sách, sách để cho, ba lô để nhận.  

Anh được rất nhiều bạn bè tặng sách, mà đáp lại anh cũng thường mua sách mới in của bạn bè để giới thiệu hay phát hành giúp. Ai trả tiền thì lấy, “quên” cũng chẳng sao. Hễ nhìn thấy sách quý hiếm là anh hỏi “xin”, không thì mượn, Photocopy lại, cưng như của quý nhưng ít khi giữ  được lâu, ai hỏi cũng lắc đầu “em chả, em chả” nhưng phụ nữ hỏi xin, mủi lòng, cho tuốt.

Lê Viết Yên quảng giao, thích kết nối bạn bè trong Nam ngoài Bắc, vùng thấp miền cao, tạo cơ duyên gặp gỡ để mọi người quen nhau, nối vòng tay lớn. Trên mạng xã hội anh vô tư chia sẻ các bài viết hay, từ văn học nghệ thuật đến triết học tôn giáo, nhưng đề tài yêu thích vẫn là… “tdh”[2].  

Bản tính ham vui, thích chọc trời khuấy nước để… vui là chính nên có bạn khắp các vùng miền, và hễ bình xăng đầy mà bạn rủ, là đi. Hết lòng bênh vực và không bỏ rơi bạn trong những lúc khó khăn. Tính cương trực, không ưa thì nói thẳng, tuy vậy khi không vừa ý thì rất… dễ hờn, mà giận buổi sáng, chiều hôm đã cười xoà!

Những năm gần đây… số phận của chàng lãng tử Lê Viết Yên hình như gắn liền với nhà thơ Phạm Thiên Thư. Có nhiều chuyện không vui trong cõi trọ trần gian, sức khoẻ kém, lại bị mất ngôn ngữ nên nhà thơ hoàn toàn bị cô lập. Mỗi sáng ngồi dưới quán cà phê, ngậm ống điếu nhìn người qua kẻ lại với ánh mắt sâu hun hút… Chàng lãng tử, dù ở rất xa, vẫn chạy xe, băng từ đầu này qua đầu kia thành phố để ngồi với nhà thơ, để ông bớt cô đơn. Có khi đi một mình, có khi chàng nhắn tin hay gọi điện mời thêm nhiều bạn bè cho đông đủ.

Những khi trong thành phố có sự kiện văn nghệ  chàng lãng tử chạy lên chở nhà thơ đến, xong lại đưa về. Tiêu pha nhiều thời gian và tiền bạc: chỉ để giúp nhà thơ bớt cô độc giữa cõi đời.

Bảy tám năm trước tôi và Elena cũng được hội ngộ lần đầu với nhà thơ Phạm Thiên Thư, cũng qua sự kết nối của Lê Viết Yên. Giới thiệu xong, ông như đang bận theo đuổi một ý nghĩ nào đó, lơ đãng quay nhìn vào khoảng không trước mặt. Tôi còn đang lúng túng thì bất ngờ thấy ông quay lại nhìn với nụ cười thật hiền và nói: "Tớ mất ngôn ngữ... nên cậu thông cảm... đừng buồn nhé !"

Sau những phút ngắm cõi hư không qua những vòng khói, nhà thơ bảo người nhà đem ra mấy tập thơ, bảo tôi viết tên lên một tờ giấy để ông chép lại cho đúng rồi ký tặng. Ngoài mấy tập thơ, ông còn tặng cho tôi các bài báo viết về ông như nhà văn hoá Unesco, về kỷ lục gia hay nói về trường sinh học, nhân điện và  sách viết về các phương thuốc trị bệnh.

Những lần sau đến thăm tôi vẫn thấy nhà thơ ngồi bình dị như một nông dân, phì phèo ống píp, ngắm mây trời, bên cạnh lúc nào cũng có một chiếc túi vải màu nâu mà các nhà sư thường dùng, trong đó đựng sách, các tập thơ, thuốc xắt và các thứ linh tinh.      

Tuy nhà thơ không nói chuyện nhiều nhưng ông rất thân tình, dễ mến. Đặc biệt là đôi mắt và nụ cười thật hiền. Những lần không gặp ông đều hỏi tin tức về vợ chồng tôi và nhờ Lê Viết Yên chuyển lời thăm.

Nhà thơ tự cho mình có khả năng ngoại cảm, có khi gặp ai, anh nheo mắt nhìn và phán một câu kèm một nụ cười bí hiểm: "Anh (chị).. hai, ba... ngày nữa sẽ có tiền.." hay “sẽ có tin vui…”

Tôi thường ngồi nghe và không khi nào kiểm chứng, nhưng câu phán về nhà thơ Đoàn Văn Khánh lúc còn độc thân thì tin vui xảy ra thiệt: hết cô đơn và có được vợ hiền Carol Kim chăm sóc!

Khi ngồi với nhau thân tình hơn, những lúc cao hứng, ông nói về sự tương đồng của ông với Nguyễn Du: Cùng sống qua hai chế độ, mỗi người có 4 người con, nhưng trọng tâm vẫn là “ Tớ có ba bà vợ, cụ Nguyễn Tiên Điền cũng chỉ có vậy, không hơn!..” Nói xong ông gõ gõ ống pip lên bàn, cười tít mắt làm ai nghe cũng phải bật cười.

Ông thích so sánh thế vì có lẽ là nhà thơ hậu bối dám viết “Đoạn trường vô thanh” một tác phẩm xem như hậu Truyện Kiều..

Khi các em tôi Đạo, Nguyệt từ Australia về, vì Đạo thường hát “Anh theo Nguyệt về…” nên tôi đưa hai em đến thăm ông, sau có bạn mang guitar đến nên mọi người  ca hát rất vui.

Từ quán cà phê vang vang lên giai điệu mượt mà: “Em tan trường về, đường mưa nho nhỏ, anh theo Ngọ về…” làm mọi người như đang nhìn thấy một con đường trải nắng có cậu học trò si tình lẽo đẽo theo sau cô nữ sinh mặc áo dài trắng, tay ôm cặp, tóc xoã ngang vai… và đêm về chàng viết lại những vần thơ lung linh như thấm vào lòng nhiều thế hệ:

“…Em tan trường về

Cuối đường mây đỏ

Anh tìm theo Ngọ

Dấu lau lách buồn…

…Em tan trường về

Đường mưa nho nhỏ

Trao vội chùm hoa

Ép vào cuối vở…”

Có thể nói rằng, vào những năm của thập kỷ 70, bài thơ “Ngày xưa Hoàng Thị..” nhờ nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc nên được nhiều người biết và yêu thích.

Ca hát xong chúng tôi cùng nhà thơ Tâm Nhiên đi đến quán cơm chay, nói tiếp chuyện thơ ca.

Mỗi lần “gặp nhau bên động hoa vàng” ngoài nhà thơ và Lê Viết Yên, thường có các bạn văn như Hoàng Kim Oanh, Nguyên Tâm, Tuệ Lãng, vợ chồng Đặng Châu Long, vợ chồng Nguyên Cẩn… bạn bè nói cười rôm rả… vẫn biết Phạm Thiên Thư như một hiền sĩ ngồi bên lề của đời sống ta bà, nhưng khi chia tay thường để lại trong lòng tôi một nỗi buồn man mác.

Nhà thơ Phạm Thiên Thư sinh trong một gia đình bố mẹ làm nghề bốc thuốc nhưng từ nhỏ rất thích thơ văn.  Lớn lên ông đi tu, làm thơ, hoàn tục và sống trong cội quán café Hoa Vàng.  

Có người kể là năm 1964, nhà thơ đã xuống tóc, đi tu với Pháp danh là Thích Tuệ Không. Trong 9 năm tu hành (1964 -1973), ông đã chứng kiến một cuộc tình giữa chú tiểu và một cô bé Phật tử. Chú tiểu và nàng đều rất trẻ và tình yêu của họ chớm nở tự nhiên như những bông hoa sau sân chùa. Trong những lời khấn nguyện, cô gái thường cầu xin cho hai người được bên nhau mãi mãi…

Chiến tranh loạn lạc, cô bé chết trong lúc chạy tránh đạn bom trên đường di tản. Trong mưa bay và gió lạnh, chú tiểu gạt nước mắt đưa tiễn người đi trong một ngày thật buồn: Gia đình đưa xác cô an táng sau chùa, nơi có những cụm hoa đang nở. Mỗi buổi chiều, chú tiểu đến bên mộ, thắp hương và ngồi mãi cho đến khi hoàng hôn buông xuống… 

Nhà thơ Phạm Thiên Thư xúc động và sáng tác bài thơ nổi tiếng: “Thoáng hương qua”. Sau này,  nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành nhạc phẩm “Em lễ chùa này” và ca khúc đã đi vào lòng người cho mãi đến giờ.

Có người nói là Phạm Thiên Thư chứng kiến, nhưng cũng có ý cho rằng chú tiểu đa tình ấy chính là ông[3], không biết thực hư thế nào, hay chỉ là một giai thoại được dựng lên như nhiều chuyện viết trên báo mà không chính xác?

Tuy vậy bài thơ được phổ nhạc… là có thật:

Em vừa nằm xuống đất này

Vườn trong có bông đào nở

Con bướm chập chờn hương bay

Quơ sợi râu vàng bỡ ngỡ

Nắm đất nào vừa lấp mộ

Có con chim hót đầu cành

Tiếng tan trên giòng suối xanh

Nước ơi sao buồn nức nở.

Về câu chuyện “gã từ quan” coi thường danh lợi, chán ghét những tranh giành trong cõi đời để tìm về với thiên nhiên, nhà thơ đưa ta đến không gian siêu thực tựa cõi tiên của động hoa vàng. Bài thơ được sáng tác vào đầu thập niên 1970 trong giai đoạn quê hương đầy khói lửa nên xuất hiện như một giấc mơ thoát tục để hướng về một thuở thanh bình. Câu chuyện hoà quyện giữa Đời và Đạo “tu là cội phúc tình là dây oan” nhưng gã từ quan cứ vương vấn, chơi vơi giữa tình yêu và đạo pháp nên làm sao thoát khỏi nghiệp chướng đoạn trường:

Thì thôi tóc ấy phù vân

Thì thôi lệ ấy còn ngần dáng sương

Thì thôi mù phố xe đường

Thì thôi thôi nhé đoạn trường thế thôi”

Thơ Phạm Thiên Thư nặng tính tâm linh nên thường làm cho độc giả lãng đãng và ngẩn ngơ. Ông viết về tình yêu bằng ngôn từ thánh thiện, kín đáo, nhẹ nhàng trong một cõi thi ca trữ tình độc đáo.

Nhà thơ Phạm Thiên Thư còn được biết đến như người đã thi hóa Kinh Phật, ông xuất hiện trong làng thơ như một người tu sĩ, rao giảng Phật Pháp bằng thi ca như Kinh Ngọc, Kinh Hiền, Kinh Thơ, Chiêu Hồn Ca, Đoạn Trường Vô Thanh,.. ông sáng tác những thi phẩm hay và đẹp thuộc diện hiếm trong văn học Việt Nam... Thơ của ông được nhiều người có tên tuổi trong giới và rất nhiều bạn đọc mến mộ...

 

Nhà thơ Phạm Thiên Thư và Trương Văn Dân

 

Thế nhưng cũng có người cho rằng Phạm Thiên Thư đi tu mà lòng vẫn hướng về cõi tục. Ông đáp lại bằng một nụ cười: "Tôi tu theo cách của mình, tu để sống cuộc đời của mình, nuôi dưỡng lối tư duy và trí tuệ của mình" rồi ông viết chính con vạc cũng ghẹo  tôi nữa là:

“Hỏi con vạc đậu bờ kinh

Cớ sao lận đận cái hình không hư

Vạc rằng: Thưa bác Thiên Thư

Khoác chi cái áo thầy tu ỡm ờ”

                  **

 

Trước 1975, Phạm Thiên Thư đã rất nổi tiếng nhờ những bài thơ của ông được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc, ngoài ra tác phẩm “Đoạn trường vô thanh” của ông còn được giải nhất văn chương toàn quốc.

Với một người nổi danh như thế thì khó mà có được một cuộc sống an lành: ganh ghét và đố kỵ, mượn danh và lợi dụng tất cả những sỏi đá đó thường vung vãi trên con đường ông đi, mang theo hệ luỵ là vinh quang và cay đắng.

Nếu có những người yêu thơ, tìm nhà tài trợ để tổ chức các đêm: Thơ Phạm Thiên Thư - Nhạc Phạm Duy, để gây quỹ từ thiện, có giới làm sách báo & phát hành những ấn phẩm của Phạm Thiên Thư… thì cũng có những bài báo kiểu Phạm Thiên Thư trả lời phỏng vấn, với lời lẽ tung hô, kỷ lục, phô trương… trong khi ông đang bị mất ngôn ngữ, mấy năm trước còn bị tai biến, phải vào chùa rồi rời xa  quán Hoa Vàng… hiện chỉ nói được những câu ngăn ngắn; Có người còn dùng tên tuổi Phạm Thiên Thư như một nhà tiên tri, thầy thuốc trị được bá bệnh… bao chuyện hư hư thực thực…

Có lẽ cái nghiệp của Phạm Thiên Thư là vậy. Chàng lãng tử Lê Viết Yên cho hay là khi có chuyện không vui ông chỉ cười trừ hay một đôi lần bộc bạch: “Hãy tha thứ! Tha thứ cho những người đã làm điều sai trái, tha thứ cho cả những người đã gây khổ đau cho mình”. rồi ông đọc:

“Phật - Tôi nào khác chi nhiều

Một người đã ngộ ra điều sắc không

Một kẻ còn đang lông bông

Nhưng rồi sớm muộn cũng mong trở về.”

 Mấy năm trước cũng chính chàng lãng tử Lê Viết Yên đã đề nghị tập san Quán Văn làm một số chân dung văn học cho Phạm Thiên Thư, và hôm ra mắt sách, bạn bè, người hâm mộ, bạn bè đến chung vui, hát ca đông vui nhất.

 Tuy không “viết” nhưng Lê Viết giúp tập san Quán Văn phát hành, không chỉ vài ba số mà có khi trọn bộ 30, 40 số.

Cũng chính Lê Viết Yên, theo mong muốn của nhà thơ Phạm Thiên Thư, đề nghị nhà thơ Nguyên Cẩn và vợ chồng tôi trích dịch Huyền Ngôn Xanh ra tiếng Anh, tiếng Ý và tiếng Pháp để in với số lượng hạn chế  để giới thiệu với các bạn yêu thơ.

Rồi hôm nay cũng chính chàng lãng tử Lê Viết Yên đứng ra kêu gọi bạn bè góp bài và tiền bút mực, để in một tập sách bạn bè viết về Phạm Thiên Thư, lấy tên là “Gặp nhau bên Động Hoa Vàng” nơi mà nhiều bè bạn quây quần bên ông để thăm hỏi, cùng về một nơi để trầm tư, thanh lọc tâm hồn sau những mệt mỏi về  cuộc sống đầy bon chen, bụi bặm.

Chàng lãng tử Lê Viết Yên nói một câu làm tôi xúc động: “Phải làm sớm, ông Phạm Thiên Thư gần 80, yếu lắm rồi, trễ nữa là không kịp!”

Thời gian, và tấm lòng!

Dù vẫn biết, làm được hay không, đối với thiền thi Phạm Thiên Thư thì đâu có chi mà quan trọng!

 

Nhờ bản tánh hiền lành, khiêm tốn và dễ hòa đồng cho nên Phạm Thiên Thư được nhiều bạn bè và anh em văn nghệ sĩ  mến thương.

Mỗi lần nhớ đến Phạm Thiên Thư, tôi thường hình dung đến những buổi sáng tinh mơ ông ra ngồi một mình dưới quán cafe Hoa Vàng mong chờ bạn đến. Ông mỉm cười khi thấy các bạn đến ngồi quanh, nheo mắt nhìn mọi người, gỡ ống píp khom khom gõ nhẹ xuống bàn, dáng dấp cong cong như con rùa mắc cạn đang mừng vui vì con nước tới:

Có con rùa nhỏ ngoài khe,

Từ lâu đợi suối trở về, nằm đây.

Ẩn mình dưới chiếc mai dày,

Ngó bờ rêu lục tưởng ngày xa xưa…

Những lúc ấy tuy chẳng nói nhưng tôi biết ông vui, lạ một cái là ánh mắt đang chiếu sáng niềm vui thì bất chợt khép lại, trầm tư: có thể là ông đang hồi tưởng lại thời con người biết mơ mộng, theo  chân cô Ngọ, sống bình dị cùng thiên nhiên… hay thuở đi tu, hoàn tục, theo chân Từ Thức… đã trôi qua, không bao giờ trở lại. Một phản diện tích tắc đầy bí ẩn bên trong tâm thức một con người kỳ lạ: rất… Phạm Thiên Thư.                                     

                                    T.V.D

Mùa dịch Covid.19

Milano 10-2020

 

Ghi chú:

[1] TYPN - Tôi Yêu Phụ Nữ

[2] Tình dục học

Bài viết liên quan

Xem thêm
Sức sáng tạo của văn chương
Đời thừa là một trong những tác phẩm xuất sắc và tiêu biểu của Nam Cao về để tài người trí thức tiểu tư sản trước Cách mạng tháng Tám. Đó là câu chuyện về sự giằng xé đến bị kịch của một nhà văn giàu khát vọng nhưng đồng thời cũng là một tuyên ngôn nghệ thuật có giá trị. Qua nhân vật Hộ - nhân vật nhà văn trong tác phẩm – Nam Cao đã gởi gắm những suy tư và những quan niệm sâu sắc của mình về nghề văn và sứ mạng của người cầm bút chân chính. Ông viết “Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp được những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những gì chưa có”.
Xem thêm
Văn hóa Việt trong tâm thức những người con xa xứ qua tuyển thơ “Về cùng nước Việt của ta”
Ngày 7/11/2026, tại Đại sứ quán Việt Nam ở Liên bang Nga, tuyển thơ “Về cùng nước Việt của ta” của 10 tác giả thuộc Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam tại Liên bang Nga sẽ chính thức ra mắt.
Xem thêm
​Nhân vật văn học của Đặng Hoàng Thám, những thông điệp sâu sắc
Với hai mươi ba truyện ngắn, cùng đa dạng nhân vật ở mọi ngành nghề, tầng lớp, “Lửa và trái tim” đã thuyết phục người đọc về tính khách quan cho sự phản ánh đời sống-xã hội và cả tâm tư con người bằng sự khéo léo và linh hoạt của điểm nhìn ở ngôi kể thứ ba. Từ “Trăng phía sau đình”, “Về từ cõi khác”, “Mua văn bán chữ”, “Trên đồi cỏ tranh” hay “Mưa trái mùa”... mỗi câu chuyện là một lát cắt sinh động của đời sống, nơi mỗi người đều có số phận và lý tưởng của riêng mình. Và điều đáng nói, họ đều hướng về cộng đồng, hướng về sự phát triển bản thân trên nền tảng của đạo đức và sự cống hiến, điểm mà tôi trân trọng ở ngòi bút này.
Xem thêm
Tìm về lời rạ rơm – Bến trú ngụ của những bão giông đời người
Bài thơ khép lại trong một dư âm ngân vang, ngọt ngào và kết tinh thành một triết lý sống sâu sắc: “Bồng bềnh cánh võng thơ ngây / Ngân nga lời mẹ tháng ngày con vin”. Hình ảnh “cánh võng bồng bềnh” và tiếng “ngân nga” của lời ru đưa con người trở về trọn vẹn với những năm tháng tuổi thơ êm đềm. Đặc biệt, từ “vin” được xem là một nhãn tự, một nốt nhấn xuất sắc của toàn bài. Con không chỉ vin vào tay mẹ, vin vào vành võng để tập đi trong quá khứ, mà ở hiện tại và tương lai, con đang “vin” vào lời mẹ, vin vào những giá trị đạo đức, vào cái nôi văn hóa quê hương để đứng vững trước những cạm bẫy, sóng gió của cuộc đời.Thể thơ lục bát ở hai câu cuối này đạt đến độ chín muồi của cảm xúc, uyển chuyển như một dòng sữa mát lành tưới mát tâm hồn người đọc.
Xem thêm
Thơ Lê Quang Vui – Sự giăng mắc giữa đời và đạo
hời thế giới phẳng, giữa thời đại tiêu dùng, con người đang chạy theo việc đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ và sở hữu những giá trị vật chất, thơ đang bị xem như thứ xa xỉ chỉ dành cho những người có tâm hồn mộng mơ và thi vị. Đối với công việc làm thơ, một số người làm thơ chỉ để tìm kiếm chút danh lợi hoặc để mua vui cho chính bản thân mình. Thế nhưng, trên thi đàn thơ Việt Nam đương đại vẫn còn những nhà thơ xem công việc sáng tạo thơ như một thiên chức mang vẻ đẹp thuần khiết và thiêng liêng. Ở đây, tôi muốn nói đến nhà thơ Lê Quang Vui, hội viên Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Đồng Tháp, một người đeo đuổi công việc sáng tác thơ đã hơn 40 năm. Nhà thơ Lê Quang Vui được một số văn nghệ sĩ đánh giá rằng ông đang giữ kỷ lục về số lượng tác phẩm với hơn 15.000 bài thơ đã sáng tác và 15 tập thơ đã xuất bản.
Xem thêm
Nhà thơ Vương Trọng – Cá tính thơ trong con người xứ Nghệ
Đối với cánh văn chương 7x chúng tôi ở Văn nghệ Quân đội, nhà thơ Vương Trọng không chỉ rất gần gũi mà ông còn là tấm gương về sáng tác, công tác và các ứng xử trong cuộc sống đời thường. Ông là điển hình cho phẩm chất của người xứ Nghệ: mạnh mẽ, kiên cường, có chính kiến rõ ràng và rất quyết liệt trong bảo vệ chính kiến đó, nhất quán từ lời nói đến hành động, rất biết nặng nhẹ trong đời sống và càng biết thật giả trong văn chương. Được tiếp nối các ông trong khu vực công tác và sáng tác ở Văn nghệ Quân đội là may mắn với chúng tôi. Chúng tôi luôn kính trọng thế hệ nhà văn chống Mỹ trong đó có Vương Trọng và lấy làm tấm gương để soi chiếu chính mình. Càng đọc các bài thơ đã thuộc làu từ tấm bé, nhiều khi còn quên mất tên tác giả Vương Trọng chúng tôi càng hiểu rằng, giá trị trước hết và lâu bền của thơ ca chính là thơ ca luôn trực tiếp phục vụ đời sống con người, ở những khúc quanh bước ngoặt, ở những thân phận thua thiệt đã hằn lên từ nghìn năm lịch sử đến hôm nay. Những câu chuyện như thế khi vào thơ Vương Trọng đã được đẩy lên ở một tầng mức thẳm sâu, đớn đau tột cùng mà cũng tận cùng vẻ đẹp của sự hi sinh của con người Việt Nam đã đi vào thơ ca sử sách.
Xem thêm
Bích Thu - Người đồng hành cùng tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Bích Thu là một trong rất ít những nhà phê bình văn học nữ hiện còn miệt mài với những trang viết về văn chương Việt cho đến ngày nay. Thơ và văn xuôi là hai thể loại mà chị theo dõi và luôn đồng hành cho đến những thập niên đầu của thế kỷ XXI để nhận diện thi pháp tác phẩm và tác giả tiêu biểu, sau đó là tổng kết, chỉ ra diện mạo, đặc điểm chung cho cả phong trào qua các giai đoạn, nhất là giai đoạn từ Đổi mới đến nay.
Xem thêm
Thơ Lê Văn Sự - Tiếng thơ của vùng ký ức
Lê Văn Sự, nguyên là giáo viên dạy toán, nhưng tâm hồn thơ dào dạt, làm nên những vẻ đẹp “phi logic” của ngôn ngữ thơ. Không “đại ngôn”, nhưng phải nói rằng, anh là một nhà thơ “toàn tòng”. Cho đến nay, Lê Văn Sự đã xuất bản 11 tập thơ, trong số 12 tác phẩm đã công bố của anh. Anh là tiếng thơ cất lên từ làng bước ra xa lộ, nâng niu, đắm đuối ký ức.
Xem thêm
Thơ Trương Trọng Nghĩa từ góc nhìn phê bình sinh thái
Hành trình sáng tạo tuy chưa dài và còn nhiều dự cảm, nhưng Trương Trọng Nghĩa đã tự khẳng định tâm thế và tâm cảm của mình để hình thành chất thơ và thi pháp cá nhân. Thơ anh nặng sâu tình người, tình quê hương, xứ sở. Và trong quá trình đô thị hóa của xã hội Việt Nam thời hiện đại, nó giúp nhà thơ và giúp người đọc tìm về nguồn cội để được sống lại trong không - thời gian sinh thái thiên nhiên và sinh thái nhân văn trong sáng, thanh bình cho mỗi phận người và mỗi kinh nghiệm quan hệ người
Xem thêm
Trương Nam Hương – Thi sĩ tuổi Mèo với những câu thơ đẹp như nỗi buồn
Thơ Trương Nam Hương tài hoa mà đằm thắm, đau đáu với mẹ cha, quê nhà và những ân tình không thể nguôi quên. Nhân sinh nhật lần thứ 63 của nhà thơ (23/10/1963 – 23/10/2026), Văn chương TP.HCM trân trọng giới thiệu bài viết của Lê Huy Hòa như một món quà thân tình gửi đến anh – người thi sĩ vẫn bền bỉ gìn giữ những miền xanh trong trẻo của tâm hồn.
Xem thêm
Ấm áp những nụ cười trong tập thơ “Có phải cô là nắng” của Phan Thanh Tâm
Có phải Cô là nắng là tác phẩm thứ 9 và Tuyển tập thơ thứ 2 viết cho thiếu nhi của Nhà văn Phan Thanh Tâm. Tập thơ có 50 bài thơ đề cập đến nhiều chủ đề với cái nhìn dễ thương của trẻ thơ.
Xem thêm
Thơ ca và những tấm lòng đồng điệu trong buổi ra mắt sách của Phan Thanh Tâm
Bởi suy cho cùng, những hạt nắng đẹp nhất trong thơ thiếu nhi chính là những hạt nắng được gieo vào tâm hồn trẻ nhỏ.
Xem thêm
Tôi gọi Hoa của nước là hoa chữ trường ca
Tôi gọi Hoa của nước của nữ nhà văn Trầm Hương là “Hoa chữ trường ca”. Đây không phải sự tung hô tùy hứng, càng không phải lời khen dành cho tác phẩm của nhà văn đương đại tại TP.HCM. Hoa của nước đẹp nhưng không phải do tô điểm thành nên!
Xem thêm
Từ biểu tượng trong thơ đến việc tìm hiểu đặc trưng của thơ cổ điển, siêu thực
Khi tìm hiểu đặc trưng của các trào lưu (phong cách, trường phái) văn học, có thể bắt đầu từ các khái niệm gần gũi như hình tượng, biểu tượng... Bài viết này dùng các khái niệm này để lần lượt mở cánh cửa đi vào thế giới thơ cổ điển và thơ siêu thực.
Xem thêm
Ký ức trần thuật trong tiểu thuyết Trước bình minh của Trần Thị Hảo
Tiểu thuyết Trước bình minh của Trần Thị Hảo mở ra một thế giới ký ức, nơi những biến động của lịch sử, chiến tranh và đời sống hậu chiến được soi chiếu qua số phận một con người.
Xem thêm
Con khiếu rất linh
Nguyễn Linh Khiếu đã làm cho chính sử, một thứ đại lịch sử/đại tự sự, vỡ ra thành nhiều lịch sử, nhiều tiểu tự sự. Như dòng sông Hồng được tiếp nước từ các chi lưu lại chia nước cho các phân lưu để tạo thành một mạng lưới thủy văn. Mỗi dòng sông con đều bắt đầu câu chuyện của riêng nó. Một lịch sử đời thường với những cảm quan phồn sinh sâu sắc, đồng thời là một tư duy phản biện lịch sử...
Xem thêm
Người sống với văn chương cùng thời
PGS-TS Hồ Thế Hà đọc Thi pháp truyện ngắn hiện đại của Bùi Việt Thắng, Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 2020
Xem thêm
Đời vẫn xanh, tình vẫn xanh và thơ…
Bài đăng tạp chí Sông Hương, tháng 9/2026
Xem thêm
Đi qua “nham thạch”, đón mùi “lụa hương”
Có những bài thơ, vừa đọc qua, đã cảm thấy độ nóng bỏng như lửa, nhưng ngẫm kỹ, lại thấy bên trong ấy, chứa đầy một thế giới rất mềm mại, dịu êm. Cũng có những bài thơ chỉ thoảng qua như một mùi hương, tưởng nhẹ tênh mà lại đủ sức níu lấy cả một miền ký ức.
Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm