TIN TỨC

Chàng lãng tử và nhà thơ thiền

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-05-11 01:58:46
mail facebook google pos stwis
234 lượt xem

TRƯƠNG VĂN DÂN

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.

 

Lê Viết Yên và nhà thơ Phạm Thiên Thư

 

Đó là câu chuyện về hai người bạn có tính cách và số phận rất đỗi khác nhau. Trong khi Narcissus là một thanh niên duy lý, coi trọng tri thức, sống trong tu viện và có ít quan hệ với đời thường nên ít hiểu ý nghĩa thực của cuộc sống; Còn Goldmund thì được người cha gà trống nuôi con muốn nó phải hiến dâng cuộc đời cho Chúa để bù đắp tội lỗi của người mẹ Di-gan hoang đàng. Hai nhân vật là đôi bạn nhưng có hai lối sống trái ngược và bổ sung nhau như hai phần đen trắng trong một con người. Một bên nghiêm túc, kỷ luật, bên còn lại buông thả, lãng mạn đậm chất nghệ sĩ.

Chính Narcissus đã giúp Goldmund nhận ra rằng cuộc sống của nhà tu không phải dành cho anh và sau đó Goldmund trốn khỏi tu viện.

Nhớ và tự nhiên liên tưởng đến tác phẩm của Hesse vậy thôi chứ hai người đi trên xe máy này không ai khổ hạnh và cũng chẳng lang thang. Vì, nếu nói cho đúng thì có lẽ đây là một gã lãng tử, và nhà thơ thiền, một nhà tu hoàn tục. Gã lãng tử hỡ cứ vác ba lô lên vai là đi, một mẫu “Típ-phờ-nờ”[1] đã từng làm biết bao nhiêu trái tim loạn nhịp còn nhà thơ thì cũng một thời đa đoan.

Hai người đó là Lê Viết Yên và Phạm Thiên Thư.

Hình như định mệnh chỉ vận vào Lê Viết Yên có một nửa: trong tên anh có chữ “Viết”, nhưng tính thích rày đây mai đó, khoái… “”.. la, nên không thể ngồi “Yên”: “Viết” là phải kiên nhẫn ngồi hằng giờ trước trang giấy thế mà đôi chân cứ ngọ nguậy, hễ nghe tiếng máy xe gầm gừ cám dỗ thì chữ nghĩa khó mà tuôn chảy.

Thế nên định mệnh chỉ vận vào anh theo một hệ luỵ gián tiếp: đó là sách. Có thể nói hiếm người yêu sách như Lê Viết Yên. Trong chiếc ba lô cuả anh, ngoài bộ ấm trà lúc nào cũng có sách, sách để cho, ba lô để nhận.  

Anh được rất nhiều bạn bè tặng sách, mà đáp lại anh cũng thường mua sách mới in của bạn bè để giới thiệu hay phát hành giúp. Ai trả tiền thì lấy, “quên” cũng chẳng sao. Hễ nhìn thấy sách quý hiếm là anh hỏi “xin”, không thì mượn, Photocopy lại, cưng như của quý nhưng ít khi giữ  được lâu, ai hỏi cũng lắc đầu “em chả, em chả” nhưng phụ nữ hỏi xin, mủi lòng, cho tuốt.

Lê Viết Yên quảng giao, thích kết nối bạn bè trong Nam ngoài Bắc, vùng thấp miền cao, tạo cơ duyên gặp gỡ để mọi người quen nhau, nối vòng tay lớn. Trên mạng xã hội anh vô tư chia sẻ các bài viết hay, từ văn học nghệ thuật đến triết học tôn giáo, nhưng đề tài yêu thích vẫn là… “tdh”[2].  

Bản tính ham vui, thích chọc trời khuấy nước để… vui là chính nên có bạn khắp các vùng miền, và hễ bình xăng đầy mà bạn rủ, là đi. Hết lòng bênh vực và không bỏ rơi bạn trong những lúc khó khăn. Tính cương trực, không ưa thì nói thẳng, tuy vậy khi không vừa ý thì rất… dễ hờn, mà giận buổi sáng, chiều hôm đã cười xoà!

Những năm gần đây… số phận của chàng lãng tử Lê Viết Yên hình như gắn liền với nhà thơ Phạm Thiên Thư. Có nhiều chuyện không vui trong cõi trọ trần gian, sức khoẻ kém, lại bị mất ngôn ngữ nên nhà thơ hoàn toàn bị cô lập. Mỗi sáng ngồi dưới quán cà phê, ngậm ống điếu nhìn người qua kẻ lại với ánh mắt sâu hun hút… Chàng lãng tử, dù ở rất xa, vẫn chạy xe, băng từ đầu này qua đầu kia thành phố để ngồi với nhà thơ, để ông bớt cô đơn. Có khi đi một mình, có khi chàng nhắn tin hay gọi điện mời thêm nhiều bạn bè cho đông đủ.

Những khi trong thành phố có sự kiện văn nghệ  chàng lãng tử chạy lên chở nhà thơ đến, xong lại đưa về. Tiêu pha nhiều thời gian và tiền bạc: chỉ để giúp nhà thơ bớt cô độc giữa cõi đời.

Bảy tám năm trước tôi và Elena cũng được hội ngộ lần đầu với nhà thơ Phạm Thiên Thư, cũng qua sự kết nối của Lê Viết Yên. Giới thiệu xong, ông như đang bận theo đuổi một ý nghĩ nào đó, lơ đãng quay nhìn vào khoảng không trước mặt. Tôi còn đang lúng túng thì bất ngờ thấy ông quay lại nhìn với nụ cười thật hiền và nói: "Tớ mất ngôn ngữ... nên cậu thông cảm... đừng buồn nhé !"

Sau những phút ngắm cõi hư không qua những vòng khói, nhà thơ bảo người nhà đem ra mấy tập thơ, bảo tôi viết tên lên một tờ giấy để ông chép lại cho đúng rồi ký tặng. Ngoài mấy tập thơ, ông còn tặng cho tôi các bài báo viết về ông như nhà văn hoá Unesco, về kỷ lục gia hay nói về trường sinh học, nhân điện và  sách viết về các phương thuốc trị bệnh.

Những lần sau đến thăm tôi vẫn thấy nhà thơ ngồi bình dị như một nông dân, phì phèo ống píp, ngắm mây trời, bên cạnh lúc nào cũng có một chiếc túi vải màu nâu mà các nhà sư thường dùng, trong đó đựng sách, các tập thơ, thuốc xắt và các thứ linh tinh.      

Tuy nhà thơ không nói chuyện nhiều nhưng ông rất thân tình, dễ mến. Đặc biệt là đôi mắt và nụ cười thật hiền. Những lần không gặp ông đều hỏi tin tức về vợ chồng tôi và nhờ Lê Viết Yên chuyển lời thăm.

Nhà thơ tự cho mình có khả năng ngoại cảm, có khi gặp ai, anh nheo mắt nhìn và phán một câu kèm một nụ cười bí hiểm: "Anh (chị).. hai, ba... ngày nữa sẽ có tiền.." hay “sẽ có tin vui…”

Tôi thường ngồi nghe và không khi nào kiểm chứng, nhưng câu phán về nhà thơ Đoàn Văn Khánh lúc còn độc thân thì tin vui xảy ra thiệt: hết cô đơn và có được vợ hiền Carol Kim chăm sóc!

Khi ngồi với nhau thân tình hơn, những lúc cao hứng, ông nói về sự tương đồng của ông với Nguyễn Du: Cùng sống qua hai chế độ, mỗi người có 4 người con, nhưng trọng tâm vẫn là “ Tớ có ba bà vợ, cụ Nguyễn Tiên Điền cũng chỉ có vậy, không hơn!..” Nói xong ông gõ gõ ống pip lên bàn, cười tít mắt làm ai nghe cũng phải bật cười.

Ông thích so sánh thế vì có lẽ là nhà thơ hậu bối dám viết “Đoạn trường vô thanh” một tác phẩm xem như hậu Truyện Kiều..

Khi các em tôi Đạo, Nguyệt từ Australia về, vì Đạo thường hát “Anh theo Nguyệt về…” nên tôi đưa hai em đến thăm ông, sau có bạn mang guitar đến nên mọi người  ca hát rất vui.

Từ quán cà phê vang vang lên giai điệu mượt mà: “Em tan trường về, đường mưa nho nhỏ, anh theo Ngọ về…” làm mọi người như đang nhìn thấy một con đường trải nắng có cậu học trò si tình lẽo đẽo theo sau cô nữ sinh mặc áo dài trắng, tay ôm cặp, tóc xoã ngang vai… và đêm về chàng viết lại những vần thơ lung linh như thấm vào lòng nhiều thế hệ:

“…Em tan trường về

Cuối đường mây đỏ

Anh tìm theo Ngọ

Dấu lau lách buồn…

…Em tan trường về

Đường mưa nho nhỏ

Trao vội chùm hoa

Ép vào cuối vở…”

Có thể nói rằng, vào những năm của thập kỷ 70, bài thơ “Ngày xưa Hoàng Thị..” nhờ nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc nên được nhiều người biết và yêu thích.

Ca hát xong chúng tôi cùng nhà thơ Tâm Nhiên đi đến quán cơm chay, nói tiếp chuyện thơ ca.

Mỗi lần “gặp nhau bên động hoa vàng” ngoài nhà thơ và Lê Viết Yên, thường có các bạn văn như Hoàng Kim Oanh, Nguyên Tâm, Tuệ Lãng, vợ chồng Đặng Châu Long, vợ chồng Nguyên Cẩn… bạn bè nói cười rôm rả… vẫn biết Phạm Thiên Thư như một hiền sĩ ngồi bên lề của đời sống ta bà, nhưng khi chia tay thường để lại trong lòng tôi một nỗi buồn man mác.

Nhà thơ Phạm Thiên Thư sinh trong một gia đình bố mẹ làm nghề bốc thuốc nhưng từ nhỏ rất thích thơ văn.  Lớn lên ông đi tu, làm thơ, hoàn tục và sống trong cội quán café Hoa Vàng.  

Có người kể là năm 1964, nhà thơ đã xuống tóc, đi tu với Pháp danh là Thích Tuệ Không. Trong 9 năm tu hành (1964 -1973), ông đã chứng kiến một cuộc tình giữa chú tiểu và một cô bé Phật tử. Chú tiểu và nàng đều rất trẻ và tình yêu của họ chớm nở tự nhiên như những bông hoa sau sân chùa. Trong những lời khấn nguyện, cô gái thường cầu xin cho hai người được bên nhau mãi mãi…

Chiến tranh loạn lạc, cô bé chết trong lúc chạy tránh đạn bom trên đường di tản. Trong mưa bay và gió lạnh, chú tiểu gạt nước mắt đưa tiễn người đi trong một ngày thật buồn: Gia đình đưa xác cô an táng sau chùa, nơi có những cụm hoa đang nở. Mỗi buổi chiều, chú tiểu đến bên mộ, thắp hương và ngồi mãi cho đến khi hoàng hôn buông xuống… 

Nhà thơ Phạm Thiên Thư xúc động và sáng tác bài thơ nổi tiếng: “Thoáng hương qua”. Sau này,  nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành nhạc phẩm “Em lễ chùa này” và ca khúc đã đi vào lòng người cho mãi đến giờ.

Có người nói là Phạm Thiên Thư chứng kiến, nhưng cũng có ý cho rằng chú tiểu đa tình ấy chính là ông[3], không biết thực hư thế nào, hay chỉ là một giai thoại được dựng lên như nhiều chuyện viết trên báo mà không chính xác?

Tuy vậy bài thơ được phổ nhạc… là có thật:

Em vừa nằm xuống đất này

Vườn trong có bông đào nở

Con bướm chập chờn hương bay

Quơ sợi râu vàng bỡ ngỡ

Nắm đất nào vừa lấp mộ

Có con chim hót đầu cành

Tiếng tan trên giòng suối xanh

Nước ơi sao buồn nức nở.

Về câu chuyện “gã từ quan” coi thường danh lợi, chán ghét những tranh giành trong cõi đời để tìm về với thiên nhiên, nhà thơ đưa ta đến không gian siêu thực tựa cõi tiên của động hoa vàng. Bài thơ được sáng tác vào đầu thập niên 1970 trong giai đoạn quê hương đầy khói lửa nên xuất hiện như một giấc mơ thoát tục để hướng về một thuở thanh bình. Câu chuyện hoà quyện giữa Đời và Đạo “tu là cội phúc tình là dây oan” nhưng gã từ quan cứ vương vấn, chơi vơi giữa tình yêu và đạo pháp nên làm sao thoát khỏi nghiệp chướng đoạn trường:

Thì thôi tóc ấy phù vân

Thì thôi lệ ấy còn ngần dáng sương

Thì thôi mù phố xe đường

Thì thôi thôi nhé đoạn trường thế thôi”

Thơ Phạm Thiên Thư nặng tính tâm linh nên thường làm cho độc giả lãng đãng và ngẩn ngơ. Ông viết về tình yêu bằng ngôn từ thánh thiện, kín đáo, nhẹ nhàng trong một cõi thi ca trữ tình độc đáo.

Nhà thơ Phạm Thiên Thư còn được biết đến như người đã thi hóa Kinh Phật, ông xuất hiện trong làng thơ như một người tu sĩ, rao giảng Phật Pháp bằng thi ca như Kinh Ngọc, Kinh Hiền, Kinh Thơ, Chiêu Hồn Ca, Đoạn Trường Vô Thanh,.. ông sáng tác những thi phẩm hay và đẹp thuộc diện hiếm trong văn học Việt Nam... Thơ của ông được nhiều người có tên tuổi trong giới và rất nhiều bạn đọc mến mộ...

 

Nhà thơ Phạm Thiên Thư và Trương Văn Dân

 

Thế nhưng cũng có người cho rằng Phạm Thiên Thư đi tu mà lòng vẫn hướng về cõi tục. Ông đáp lại bằng một nụ cười: "Tôi tu theo cách của mình, tu để sống cuộc đời của mình, nuôi dưỡng lối tư duy và trí tuệ của mình" rồi ông viết chính con vạc cũng ghẹo  tôi nữa là:

“Hỏi con vạc đậu bờ kinh

Cớ sao lận đận cái hình không hư

Vạc rằng: Thưa bác Thiên Thư

Khoác chi cái áo thầy tu ỡm ờ”

                  **

 

Trước 1975, Phạm Thiên Thư đã rất nổi tiếng nhờ những bài thơ của ông được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc, ngoài ra tác phẩm “Đoạn trường vô thanh” của ông còn được giải nhất văn chương toàn quốc.

Với một người nổi danh như thế thì khó mà có được một cuộc sống an lành: ganh ghét và đố kỵ, mượn danh và lợi dụng tất cả những sỏi đá đó thường vung vãi trên con đường ông đi, mang theo hệ luỵ là vinh quang và cay đắng.

Nếu có những người yêu thơ, tìm nhà tài trợ để tổ chức các đêm: Thơ Phạm Thiên Thư - Nhạc Phạm Duy, để gây quỹ từ thiện, có giới làm sách báo & phát hành những ấn phẩm của Phạm Thiên Thư… thì cũng có những bài báo kiểu Phạm Thiên Thư trả lời phỏng vấn, với lời lẽ tung hô, kỷ lục, phô trương… trong khi ông đang bị mất ngôn ngữ, mấy năm trước còn bị tai biến, phải vào chùa rồi rời xa  quán Hoa Vàng… hiện chỉ nói được những câu ngăn ngắn; Có người còn dùng tên tuổi Phạm Thiên Thư như một nhà tiên tri, thầy thuốc trị được bá bệnh… bao chuyện hư hư thực thực…

Có lẽ cái nghiệp của Phạm Thiên Thư là vậy. Chàng lãng tử Lê Viết Yên cho hay là khi có chuyện không vui ông chỉ cười trừ hay một đôi lần bộc bạch: “Hãy tha thứ! Tha thứ cho những người đã làm điều sai trái, tha thứ cho cả những người đã gây khổ đau cho mình”. rồi ông đọc:

“Phật - Tôi nào khác chi nhiều

Một người đã ngộ ra điều sắc không

Một kẻ còn đang lông bông

Nhưng rồi sớm muộn cũng mong trở về.”

 Mấy năm trước cũng chính chàng lãng tử Lê Viết Yên đã đề nghị tập san Quán Văn làm một số chân dung văn học cho Phạm Thiên Thư, và hôm ra mắt sách, bạn bè, người hâm mộ, bạn bè đến chung vui, hát ca đông vui nhất.

 Tuy không “viết” nhưng Lê Viết giúp tập san Quán Văn phát hành, không chỉ vài ba số mà có khi trọn bộ 30, 40 số.

Cũng chính Lê Viết Yên, theo mong muốn của nhà thơ Phạm Thiên Thư, đề nghị nhà thơ Nguyên Cẩn và vợ chồng tôi trích dịch Huyền Ngôn Xanh ra tiếng Anh, tiếng Ý và tiếng Pháp để in với số lượng hạn chế  để giới thiệu với các bạn yêu thơ.

Rồi hôm nay cũng chính chàng lãng tử Lê Viết Yên đứng ra kêu gọi bạn bè góp bài và tiền bút mực, để in một tập sách bạn bè viết về Phạm Thiên Thư, lấy tên là “Gặp nhau bên Động Hoa Vàng” nơi mà nhiều bè bạn quây quần bên ông để thăm hỏi, cùng về một nơi để trầm tư, thanh lọc tâm hồn sau những mệt mỏi về  cuộc sống đầy bon chen, bụi bặm.

Chàng lãng tử Lê Viết Yên nói một câu làm tôi xúc động: “Phải làm sớm, ông Phạm Thiên Thư gần 80, yếu lắm rồi, trễ nữa là không kịp!”

Thời gian, và tấm lòng!

Dù vẫn biết, làm được hay không, đối với thiền thi Phạm Thiên Thư thì đâu có chi mà quan trọng!

 

Nhờ bản tánh hiền lành, khiêm tốn và dễ hòa đồng cho nên Phạm Thiên Thư được nhiều bạn bè và anh em văn nghệ sĩ  mến thương.

Mỗi lần nhớ đến Phạm Thiên Thư, tôi thường hình dung đến những buổi sáng tinh mơ ông ra ngồi một mình dưới quán cafe Hoa Vàng mong chờ bạn đến. Ông mỉm cười khi thấy các bạn đến ngồi quanh, nheo mắt nhìn mọi người, gỡ ống píp khom khom gõ nhẹ xuống bàn, dáng dấp cong cong như con rùa mắc cạn đang mừng vui vì con nước tới:

Có con rùa nhỏ ngoài khe,

Từ lâu đợi suối trở về, nằm đây.

Ẩn mình dưới chiếc mai dày,

Ngó bờ rêu lục tưởng ngày xa xưa…

Những lúc ấy tuy chẳng nói nhưng tôi biết ông vui, lạ một cái là ánh mắt đang chiếu sáng niềm vui thì bất chợt khép lại, trầm tư: có thể là ông đang hồi tưởng lại thời con người biết mơ mộng, theo  chân cô Ngọ, sống bình dị cùng thiên nhiên… hay thuở đi tu, hoàn tục, theo chân Từ Thức… đã trôi qua, không bao giờ trở lại. Một phản diện tích tắc đầy bí ẩn bên trong tâm thức một con người kỳ lạ: rất… Phạm Thiên Thư.                                     

                                    T.V.D

Mùa dịch Covid.19

Milano 10-2020

 

Ghi chú:

[1] TYPN - Tôi Yêu Phụ Nữ

[2] Tình dục học

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm