TIN TỨC

Chàng lãng tử và nhà thơ thiền

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-05-11 01:58:46
mail facebook google pos stwis
426 lượt xem

TRƯƠNG VĂN DÂN

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.

 

Lê Viết Yên và nhà thơ Phạm Thiên Thư

 

Đó là câu chuyện về hai người bạn có tính cách và số phận rất đỗi khác nhau. Trong khi Narcissus là một thanh niên duy lý, coi trọng tri thức, sống trong tu viện và có ít quan hệ với đời thường nên ít hiểu ý nghĩa thực của cuộc sống; Còn Goldmund thì được người cha gà trống nuôi con muốn nó phải hiến dâng cuộc đời cho Chúa để bù đắp tội lỗi của người mẹ Di-gan hoang đàng. Hai nhân vật là đôi bạn nhưng có hai lối sống trái ngược và bổ sung nhau như hai phần đen trắng trong một con người. Một bên nghiêm túc, kỷ luật, bên còn lại buông thả, lãng mạn đậm chất nghệ sĩ.

Chính Narcissus đã giúp Goldmund nhận ra rằng cuộc sống của nhà tu không phải dành cho anh và sau đó Goldmund trốn khỏi tu viện.

Nhớ và tự nhiên liên tưởng đến tác phẩm của Hesse vậy thôi chứ hai người đi trên xe máy này không ai khổ hạnh và cũng chẳng lang thang. Vì, nếu nói cho đúng thì có lẽ đây là một gã lãng tử, và nhà thơ thiền, một nhà tu hoàn tục. Gã lãng tử hỡ cứ vác ba lô lên vai là đi, một mẫu “Típ-phờ-nờ”[1] đã từng làm biết bao nhiêu trái tim loạn nhịp còn nhà thơ thì cũng một thời đa đoan.

Hai người đó là Lê Viết Yên và Phạm Thiên Thư.

Hình như định mệnh chỉ vận vào Lê Viết Yên có một nửa: trong tên anh có chữ “Viết”, nhưng tính thích rày đây mai đó, khoái… “”.. la, nên không thể ngồi “Yên”: “Viết” là phải kiên nhẫn ngồi hằng giờ trước trang giấy thế mà đôi chân cứ ngọ nguậy, hễ nghe tiếng máy xe gầm gừ cám dỗ thì chữ nghĩa khó mà tuôn chảy.

Thế nên định mệnh chỉ vận vào anh theo một hệ luỵ gián tiếp: đó là sách. Có thể nói hiếm người yêu sách như Lê Viết Yên. Trong chiếc ba lô cuả anh, ngoài bộ ấm trà lúc nào cũng có sách, sách để cho, ba lô để nhận.  

Anh được rất nhiều bạn bè tặng sách, mà đáp lại anh cũng thường mua sách mới in của bạn bè để giới thiệu hay phát hành giúp. Ai trả tiền thì lấy, “quên” cũng chẳng sao. Hễ nhìn thấy sách quý hiếm là anh hỏi “xin”, không thì mượn, Photocopy lại, cưng như của quý nhưng ít khi giữ  được lâu, ai hỏi cũng lắc đầu “em chả, em chả” nhưng phụ nữ hỏi xin, mủi lòng, cho tuốt.

Lê Viết Yên quảng giao, thích kết nối bạn bè trong Nam ngoài Bắc, vùng thấp miền cao, tạo cơ duyên gặp gỡ để mọi người quen nhau, nối vòng tay lớn. Trên mạng xã hội anh vô tư chia sẻ các bài viết hay, từ văn học nghệ thuật đến triết học tôn giáo, nhưng đề tài yêu thích vẫn là… “tdh”[2].  

Bản tính ham vui, thích chọc trời khuấy nước để… vui là chính nên có bạn khắp các vùng miền, và hễ bình xăng đầy mà bạn rủ, là đi. Hết lòng bênh vực và không bỏ rơi bạn trong những lúc khó khăn. Tính cương trực, không ưa thì nói thẳng, tuy vậy khi không vừa ý thì rất… dễ hờn, mà giận buổi sáng, chiều hôm đã cười xoà!

Những năm gần đây… số phận của chàng lãng tử Lê Viết Yên hình như gắn liền với nhà thơ Phạm Thiên Thư. Có nhiều chuyện không vui trong cõi trọ trần gian, sức khoẻ kém, lại bị mất ngôn ngữ nên nhà thơ hoàn toàn bị cô lập. Mỗi sáng ngồi dưới quán cà phê, ngậm ống điếu nhìn người qua kẻ lại với ánh mắt sâu hun hút… Chàng lãng tử, dù ở rất xa, vẫn chạy xe, băng từ đầu này qua đầu kia thành phố để ngồi với nhà thơ, để ông bớt cô đơn. Có khi đi một mình, có khi chàng nhắn tin hay gọi điện mời thêm nhiều bạn bè cho đông đủ.

Những khi trong thành phố có sự kiện văn nghệ  chàng lãng tử chạy lên chở nhà thơ đến, xong lại đưa về. Tiêu pha nhiều thời gian và tiền bạc: chỉ để giúp nhà thơ bớt cô độc giữa cõi đời.

Bảy tám năm trước tôi và Elena cũng được hội ngộ lần đầu với nhà thơ Phạm Thiên Thư, cũng qua sự kết nối của Lê Viết Yên. Giới thiệu xong, ông như đang bận theo đuổi một ý nghĩ nào đó, lơ đãng quay nhìn vào khoảng không trước mặt. Tôi còn đang lúng túng thì bất ngờ thấy ông quay lại nhìn với nụ cười thật hiền và nói: "Tớ mất ngôn ngữ... nên cậu thông cảm... đừng buồn nhé !"

Sau những phút ngắm cõi hư không qua những vòng khói, nhà thơ bảo người nhà đem ra mấy tập thơ, bảo tôi viết tên lên một tờ giấy để ông chép lại cho đúng rồi ký tặng. Ngoài mấy tập thơ, ông còn tặng cho tôi các bài báo viết về ông như nhà văn hoá Unesco, về kỷ lục gia hay nói về trường sinh học, nhân điện và  sách viết về các phương thuốc trị bệnh.

Những lần sau đến thăm tôi vẫn thấy nhà thơ ngồi bình dị như một nông dân, phì phèo ống píp, ngắm mây trời, bên cạnh lúc nào cũng có một chiếc túi vải màu nâu mà các nhà sư thường dùng, trong đó đựng sách, các tập thơ, thuốc xắt và các thứ linh tinh.      

Tuy nhà thơ không nói chuyện nhiều nhưng ông rất thân tình, dễ mến. Đặc biệt là đôi mắt và nụ cười thật hiền. Những lần không gặp ông đều hỏi tin tức về vợ chồng tôi và nhờ Lê Viết Yên chuyển lời thăm.

Nhà thơ tự cho mình có khả năng ngoại cảm, có khi gặp ai, anh nheo mắt nhìn và phán một câu kèm một nụ cười bí hiểm: "Anh (chị).. hai, ba... ngày nữa sẽ có tiền.." hay “sẽ có tin vui…”

Tôi thường ngồi nghe và không khi nào kiểm chứng, nhưng câu phán về nhà thơ Đoàn Văn Khánh lúc còn độc thân thì tin vui xảy ra thiệt: hết cô đơn và có được vợ hiền Carol Kim chăm sóc!

Khi ngồi với nhau thân tình hơn, những lúc cao hứng, ông nói về sự tương đồng của ông với Nguyễn Du: Cùng sống qua hai chế độ, mỗi người có 4 người con, nhưng trọng tâm vẫn là “ Tớ có ba bà vợ, cụ Nguyễn Tiên Điền cũng chỉ có vậy, không hơn!..” Nói xong ông gõ gõ ống pip lên bàn, cười tít mắt làm ai nghe cũng phải bật cười.

Ông thích so sánh thế vì có lẽ là nhà thơ hậu bối dám viết “Đoạn trường vô thanh” một tác phẩm xem như hậu Truyện Kiều..

Khi các em tôi Đạo, Nguyệt từ Australia về, vì Đạo thường hát “Anh theo Nguyệt về…” nên tôi đưa hai em đến thăm ông, sau có bạn mang guitar đến nên mọi người  ca hát rất vui.

Từ quán cà phê vang vang lên giai điệu mượt mà: “Em tan trường về, đường mưa nho nhỏ, anh theo Ngọ về…” làm mọi người như đang nhìn thấy một con đường trải nắng có cậu học trò si tình lẽo đẽo theo sau cô nữ sinh mặc áo dài trắng, tay ôm cặp, tóc xoã ngang vai… và đêm về chàng viết lại những vần thơ lung linh như thấm vào lòng nhiều thế hệ:

“…Em tan trường về

Cuối đường mây đỏ

Anh tìm theo Ngọ

Dấu lau lách buồn…

…Em tan trường về

Đường mưa nho nhỏ

Trao vội chùm hoa

Ép vào cuối vở…”

Có thể nói rằng, vào những năm của thập kỷ 70, bài thơ “Ngày xưa Hoàng Thị..” nhờ nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc nên được nhiều người biết và yêu thích.

Ca hát xong chúng tôi cùng nhà thơ Tâm Nhiên đi đến quán cơm chay, nói tiếp chuyện thơ ca.

Mỗi lần “gặp nhau bên động hoa vàng” ngoài nhà thơ và Lê Viết Yên, thường có các bạn văn như Hoàng Kim Oanh, Nguyên Tâm, Tuệ Lãng, vợ chồng Đặng Châu Long, vợ chồng Nguyên Cẩn… bạn bè nói cười rôm rả… vẫn biết Phạm Thiên Thư như một hiền sĩ ngồi bên lề của đời sống ta bà, nhưng khi chia tay thường để lại trong lòng tôi một nỗi buồn man mác.

Nhà thơ Phạm Thiên Thư sinh trong một gia đình bố mẹ làm nghề bốc thuốc nhưng từ nhỏ rất thích thơ văn.  Lớn lên ông đi tu, làm thơ, hoàn tục và sống trong cội quán café Hoa Vàng.  

Có người kể là năm 1964, nhà thơ đã xuống tóc, đi tu với Pháp danh là Thích Tuệ Không. Trong 9 năm tu hành (1964 -1973), ông đã chứng kiến một cuộc tình giữa chú tiểu và một cô bé Phật tử. Chú tiểu và nàng đều rất trẻ và tình yêu của họ chớm nở tự nhiên như những bông hoa sau sân chùa. Trong những lời khấn nguyện, cô gái thường cầu xin cho hai người được bên nhau mãi mãi…

Chiến tranh loạn lạc, cô bé chết trong lúc chạy tránh đạn bom trên đường di tản. Trong mưa bay và gió lạnh, chú tiểu gạt nước mắt đưa tiễn người đi trong một ngày thật buồn: Gia đình đưa xác cô an táng sau chùa, nơi có những cụm hoa đang nở. Mỗi buổi chiều, chú tiểu đến bên mộ, thắp hương và ngồi mãi cho đến khi hoàng hôn buông xuống… 

Nhà thơ Phạm Thiên Thư xúc động và sáng tác bài thơ nổi tiếng: “Thoáng hương qua”. Sau này,  nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành nhạc phẩm “Em lễ chùa này” và ca khúc đã đi vào lòng người cho mãi đến giờ.

Có người nói là Phạm Thiên Thư chứng kiến, nhưng cũng có ý cho rằng chú tiểu đa tình ấy chính là ông[3], không biết thực hư thế nào, hay chỉ là một giai thoại được dựng lên như nhiều chuyện viết trên báo mà không chính xác?

Tuy vậy bài thơ được phổ nhạc… là có thật:

Em vừa nằm xuống đất này

Vườn trong có bông đào nở

Con bướm chập chờn hương bay

Quơ sợi râu vàng bỡ ngỡ

Nắm đất nào vừa lấp mộ

Có con chim hót đầu cành

Tiếng tan trên giòng suối xanh

Nước ơi sao buồn nức nở.

Về câu chuyện “gã từ quan” coi thường danh lợi, chán ghét những tranh giành trong cõi đời để tìm về với thiên nhiên, nhà thơ đưa ta đến không gian siêu thực tựa cõi tiên của động hoa vàng. Bài thơ được sáng tác vào đầu thập niên 1970 trong giai đoạn quê hương đầy khói lửa nên xuất hiện như một giấc mơ thoát tục để hướng về một thuở thanh bình. Câu chuyện hoà quyện giữa Đời và Đạo “tu là cội phúc tình là dây oan” nhưng gã từ quan cứ vương vấn, chơi vơi giữa tình yêu và đạo pháp nên làm sao thoát khỏi nghiệp chướng đoạn trường:

Thì thôi tóc ấy phù vân

Thì thôi lệ ấy còn ngần dáng sương

Thì thôi mù phố xe đường

Thì thôi thôi nhé đoạn trường thế thôi”

Thơ Phạm Thiên Thư nặng tính tâm linh nên thường làm cho độc giả lãng đãng và ngẩn ngơ. Ông viết về tình yêu bằng ngôn từ thánh thiện, kín đáo, nhẹ nhàng trong một cõi thi ca trữ tình độc đáo.

Nhà thơ Phạm Thiên Thư còn được biết đến như người đã thi hóa Kinh Phật, ông xuất hiện trong làng thơ như một người tu sĩ, rao giảng Phật Pháp bằng thi ca như Kinh Ngọc, Kinh Hiền, Kinh Thơ, Chiêu Hồn Ca, Đoạn Trường Vô Thanh,.. ông sáng tác những thi phẩm hay và đẹp thuộc diện hiếm trong văn học Việt Nam... Thơ của ông được nhiều người có tên tuổi trong giới và rất nhiều bạn đọc mến mộ...

 

Nhà thơ Phạm Thiên Thư và Trương Văn Dân

 

Thế nhưng cũng có người cho rằng Phạm Thiên Thư đi tu mà lòng vẫn hướng về cõi tục. Ông đáp lại bằng một nụ cười: "Tôi tu theo cách của mình, tu để sống cuộc đời của mình, nuôi dưỡng lối tư duy và trí tuệ của mình" rồi ông viết chính con vạc cũng ghẹo  tôi nữa là:

“Hỏi con vạc đậu bờ kinh

Cớ sao lận đận cái hình không hư

Vạc rằng: Thưa bác Thiên Thư

Khoác chi cái áo thầy tu ỡm ờ”

                  **

 

Trước 1975, Phạm Thiên Thư đã rất nổi tiếng nhờ những bài thơ của ông được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc, ngoài ra tác phẩm “Đoạn trường vô thanh” của ông còn được giải nhất văn chương toàn quốc.

Với một người nổi danh như thế thì khó mà có được một cuộc sống an lành: ganh ghét và đố kỵ, mượn danh và lợi dụng tất cả những sỏi đá đó thường vung vãi trên con đường ông đi, mang theo hệ luỵ là vinh quang và cay đắng.

Nếu có những người yêu thơ, tìm nhà tài trợ để tổ chức các đêm: Thơ Phạm Thiên Thư - Nhạc Phạm Duy, để gây quỹ từ thiện, có giới làm sách báo & phát hành những ấn phẩm của Phạm Thiên Thư… thì cũng có những bài báo kiểu Phạm Thiên Thư trả lời phỏng vấn, với lời lẽ tung hô, kỷ lục, phô trương… trong khi ông đang bị mất ngôn ngữ, mấy năm trước còn bị tai biến, phải vào chùa rồi rời xa  quán Hoa Vàng… hiện chỉ nói được những câu ngăn ngắn; Có người còn dùng tên tuổi Phạm Thiên Thư như một nhà tiên tri, thầy thuốc trị được bá bệnh… bao chuyện hư hư thực thực…

Có lẽ cái nghiệp của Phạm Thiên Thư là vậy. Chàng lãng tử Lê Viết Yên cho hay là khi có chuyện không vui ông chỉ cười trừ hay một đôi lần bộc bạch: “Hãy tha thứ! Tha thứ cho những người đã làm điều sai trái, tha thứ cho cả những người đã gây khổ đau cho mình”. rồi ông đọc:

“Phật - Tôi nào khác chi nhiều

Một người đã ngộ ra điều sắc không

Một kẻ còn đang lông bông

Nhưng rồi sớm muộn cũng mong trở về.”

 Mấy năm trước cũng chính chàng lãng tử Lê Viết Yên đã đề nghị tập san Quán Văn làm một số chân dung văn học cho Phạm Thiên Thư, và hôm ra mắt sách, bạn bè, người hâm mộ, bạn bè đến chung vui, hát ca đông vui nhất.

 Tuy không “viết” nhưng Lê Viết giúp tập san Quán Văn phát hành, không chỉ vài ba số mà có khi trọn bộ 30, 40 số.

Cũng chính Lê Viết Yên, theo mong muốn của nhà thơ Phạm Thiên Thư, đề nghị nhà thơ Nguyên Cẩn và vợ chồng tôi trích dịch Huyền Ngôn Xanh ra tiếng Anh, tiếng Ý và tiếng Pháp để in với số lượng hạn chế  để giới thiệu với các bạn yêu thơ.

Rồi hôm nay cũng chính chàng lãng tử Lê Viết Yên đứng ra kêu gọi bạn bè góp bài và tiền bút mực, để in một tập sách bạn bè viết về Phạm Thiên Thư, lấy tên là “Gặp nhau bên Động Hoa Vàng” nơi mà nhiều bè bạn quây quần bên ông để thăm hỏi, cùng về một nơi để trầm tư, thanh lọc tâm hồn sau những mệt mỏi về  cuộc sống đầy bon chen, bụi bặm.

Chàng lãng tử Lê Viết Yên nói một câu làm tôi xúc động: “Phải làm sớm, ông Phạm Thiên Thư gần 80, yếu lắm rồi, trễ nữa là không kịp!”

Thời gian, và tấm lòng!

Dù vẫn biết, làm được hay không, đối với thiền thi Phạm Thiên Thư thì đâu có chi mà quan trọng!

 

Nhờ bản tánh hiền lành, khiêm tốn và dễ hòa đồng cho nên Phạm Thiên Thư được nhiều bạn bè và anh em văn nghệ sĩ  mến thương.

Mỗi lần nhớ đến Phạm Thiên Thư, tôi thường hình dung đến những buổi sáng tinh mơ ông ra ngồi một mình dưới quán cafe Hoa Vàng mong chờ bạn đến. Ông mỉm cười khi thấy các bạn đến ngồi quanh, nheo mắt nhìn mọi người, gỡ ống píp khom khom gõ nhẹ xuống bàn, dáng dấp cong cong như con rùa mắc cạn đang mừng vui vì con nước tới:

Có con rùa nhỏ ngoài khe,

Từ lâu đợi suối trở về, nằm đây.

Ẩn mình dưới chiếc mai dày,

Ngó bờ rêu lục tưởng ngày xa xưa…

Những lúc ấy tuy chẳng nói nhưng tôi biết ông vui, lạ một cái là ánh mắt đang chiếu sáng niềm vui thì bất chợt khép lại, trầm tư: có thể là ông đang hồi tưởng lại thời con người biết mơ mộng, theo  chân cô Ngọ, sống bình dị cùng thiên nhiên… hay thuở đi tu, hoàn tục, theo chân Từ Thức… đã trôi qua, không bao giờ trở lại. Một phản diện tích tắc đầy bí ẩn bên trong tâm thức một con người kỳ lạ: rất… Phạm Thiên Thư.                                     

                                    T.V.D

Mùa dịch Covid.19

Milano 10-2020

 

Ghi chú:

[1] TYPN - Tôi Yêu Phụ Nữ

[2] Tình dục học

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm