TIN TỨC

Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-05-11 02:06:44
mail facebook google pos stwis
269 lượt xem

PHẠM VĂN HOANH

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh. 

 

Nhà thơ Bích Khê

 

Tỳ Bà

Nàng ơi! Tay đêm đang giăng mềm

Trăng đan qua cành muôn tay êm

Mây nhung pha màu thu trên trời

Sương lam phơi màu thu muôn nơi

 

Vàng sao nằm im trên hoa gầy

Tương tư người xưa thôi qua đây

Ôi! Nàng năm xưa quên lời thề

Hoa vừa đưa hương gây đê mê


Cây đàn yêu đương làm bằng thơ

Cây đàn yêu đương run trong mơ

Hồn về trên môi kêu: em ơi

Thuyền hồn không đi lên chơi vơi


Tôi qua tìm nàng vay du dương

Tôi mang lên lầu lên cung Thương

Tôi không bao giờ thôi yêu nàng

Tình tang tôi nghe như tình lang


Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi

Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi

Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi

Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi


Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu

Sao tôi không màng kêu: em yêu

Trăng nay không nàng như trăng thiu

Đêm nay không nàng như đêm hiu


Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân

Buồn sang cây tùng thăm đông quân

Ô hay buồn vương cây ngô đồng

Vàng rơi! Vàng rơi: Thu mênh mông.

                                            Bích Khê

Trong mỗi chúng ta không ai mà không biết đến nhà thơ Bích Khê, một trong những nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1941). Ông tên thật là Lê Quang Lương, sinh ngày 24 tháng 3 năm 1916 tại quê ngoại Sơn Tịnh, Quảng Ngãi, lớn lên ở quê nội Thu Xà, Nghĩa Hòa, Quảng Ngãi. Ông bị bệnh phổi và mất vào ngày 17 tháng 1 năm 1946 tại Nghĩa Hoà, tỉnh Quảng Ngãi, khi tài năng đang nở rộ. Ông làm thơ từ năm 15 tuổi (1931), theo các thể thơ cổ điển như Đường luật, từ khúc, hát nói… Khoảng năm 1936, Bích Khê chuyển sang Thơ mới. Tập “Tinh huyết” (1939) là tập thơ duy nhất được in khi ông còn sống. Ông ra đi để lại cho cho nền thơ ca Việt Nam nhiều bài thơ hay như “Tiếng đàn mưa”, “Làng em”, “Tranh lõa thể”, “Tỳ bà”… “Tỳ bà” là một những bài thơ có “những câu thơ hay vào bực nhất trong thơ Việt Nam” (Hoài Thanh - Thi nhân Việt Nam). Nhân kỷ niệm 110 năm ngày sinh và 80 năm ngày mất của ông, chúng ta cùng đọc lại bài thơ này.

Theo các nhà nghiên cứu thì bài thơ “Tỳ bà” của Bích Khê mượn tinh thần “Tỳ bà hành” của Bạch Cư Dị, tức là tinh thần giao hòa âm nhạc và cảnh sắc, nhưng thay đổi toàn diện bối cảnh, kiến trúc âm nhạc và kiến trúc hình ảnh, để tạo ra một tác phẩm hiện đại. (Theo Thụy Khuê - Bích Khê (1916-1946), Bích Khê một trăm năm, Nhà xuất bản Hội Nhà văn 2016, tr 709).

Vâng, đọc bài thơ này, ta sẽ thấy rõ điều đó. Ngay từ những câu thơ đầu, Bích Khê đã khẽ buông những thanh âm để mở ra một bức tranh thu vừa hư vừa thực.

Nàng ơi! Tay đêm đang giăng mềm

Trăng đan qua cành muôn tay êm

Mây nhung pha màu thu trên trời

Sương lam phơi màu thu muôn nơi

Câu thơ mở đầu vang lên tha thiết, vừa như lời mời gọi, vừa như một lời chia sẻ. “Nàng” ở đây không chỉ là một con người cụ thể mà còn có thể là cái đẹp, là mùa thu… mà nhân vật trữ tình muốn chiêm ngưỡng. Cách xưng hô ấy tạo nên một không gian trữ tình riêng tư, khiến cảnh vật hiện lên thật đượm tình. “Đêm” vốn vô hình, nhưng qua cảm nhận của nhà thơ lại trở thành hữu hình. Hình ảnh nhân hoá này khiến đêm như một sinh thể dịu dàng, đang buông những dải lụa mềm mại xuống không gian. Trong không gian đó, ánh trăng không tĩnh tại mà “đan qua cành muôn tay êm”, tạo cảm giác như bức tranh thu đang chuyển động dịu nhẹ. Các gam màu “mây nhung”, “sương lam”, “màu thu” được pha trộn, khiến bức tranh thu đầy màu sắc và sống động, gợi lên trong lòng người đọc cảm giác yên bình và thư thái.

Từ bức tranh thu ấy, mạch cảm xúc của Bích Khê không dừng lại ở việc thưởng ngoạn cảnh sắc mà dần chuyển sang miền hoài niệm. Cảnh thu vẫn đó nhưng đã thấm đượm nỗi lòng, trở thành chiếc cầu nối đưa nhà thơ trở về với những kỷ niệm xưa cũ.

Vàng sao nằm im trên hoa gầy

Tương tư người xưa thôi qua đây

Ôi! Nàng năm xưa quên lời thề

Hoa vừa đưa hương gây đê mê

Bằng thủ pháp cắt dán, “sao” và “hoa” vốn thuộc hai không gian khác nhau lại được đặt chồng lên nhau trong trạng thái “nằm im”, “gầy”, khiến cảnh không còn là cảnh thuần túy mà đã trở thành một không gian tâm trạng, nơi nỗi tương tư, tiếc nuối và cả mê đắm hòa quyện. Nhờ thủ pháp này mà khổ thơ mang vẻ đẹp vừa huyền ảo, mơ hồ, vừa thấm đẫm chất nhạc và chất họa, thể hiện rõ bút pháp tượng trưng, siêu thực độc đáo của Bích Khê. Có thể nói rằng Bích Khê rất tài hoa trong việc áp dụng những thủ pháp rất mới của văn học phương Tây để sáng tác thơ trong một tinh thần rất phương Đông. Câu thơ “Tương tư người xưa thôi qua đây” như một lời tự nhủ muốn dứt bỏ nhưng lại không thể dứt. Đến câu “Ôi! Nàng năm xưa quên lời thề” thì cảm xúc bỗng bật lên thành tiếng kêu xót xa. Thán từ “Ôi!” như một nhát cắt vào dòng hồi ức, làm lộ ra vết thương tình yêu chưa lành. Và đến “Hoa vừa đưa hương gây đê mê”, thì hương sắc của hiện tại lại khơi dậy cơn say, nhưng đó không phải là niềm vui mà là sự mê đắm trong nỗi nhớ.

Nỗi nhớ này đã hóa thành âm thanh, thành nhịp rung mơ hồ trong cõi vô thức. “Cây đàn yêu đương làm bằng thơ/ Cây đàn yêu đương run trong mơ”. Hai câu thơ này mở ra một thế giới nội tâm đầy huyền ảo, nơi tình yêu không còn tồn tại như cảm xúc thông thường mà đã hóa thành nghệ thuật và âm thanh. Hình ảnh “Cây đàn yêu đương làm bằng thơ” là một hình ảnh ẩn dụ độc đáo: thơ ca trở thành chất liệu tạo nên nhạc cụ, còn tình yêu chính là giai điệu ngân vang trong đó. Điệp ngữ “cây đàn yêu đương” kết hợp với trạng thái “run trong mơ” gợi lên những rung động mong manh, mơ hồ, nửa thực nửa ảo. Đọc đến câu thơ “Hồn về trên môi kêu: em ơi” ta thấy cảm xúc được đẩy lên thành tiếng gọi tha thiết, như bật ra từ tiềm thức, vừa gần gũi vừa xa vắng. Nhưng ngay sau đó, “Thuyền hồn không đi lên chơi vơi” lại tạo ra một nghịch lí: con thuyền đáng lẽ phải có hướng đi thì lại lơ lửng, mất phương hướng. Đó là tâm trạng bơ vơ, chênh vênh giữa miền ký ức và hiện tại, giữa khát vọng yêu thương và thực tại chia lìa.

Không dừng lại ở nỗi bơ vơ, nhân vật trữ tình bắt đầu hành trình kiếm tìm trong cõi mộng của tình yêu. “Tôi qua tìm nàng vay du dương”. Câu thơ này gợi một hành trình vừa thực vừa ảo: “tìm” không chỉ là gặp gỡ mà còn là vay mượn âm thanh, vay mượn dư vang của tình yêu để nuôi dưỡng tâm hồn. Câu thơ “Tôi mang lên lầu lên cung Thương” đậm màu sắc âm nhạc cổ điển, đưa cảm xúc vào một không gian cao vút, tinh tế. “Cung Thương” không chỉ là bậc âm mà còn là cung bậc tâm trạng buồn, da diết. Câu thơ “Tôi không bao giờ thôi yêu nàng” như một lời thề tuyệt đối, nhưng không nặng nề mà ngân lên trong trạng thái mơ hồ, say đắm. Đặc biệt câu thơ “Tình tang tôi nghe như tình lang” tạo nên một sự hòa điệu giữa âm thanh và cảm xúc, giữa cái nghe và cái yêu, khiến tình yêu trở thành một giai điệu ngân vang trong tâm thức. Có thể đó là đau đớn buồn bã, hoặc là sự thất vọng khi tình yêu không được đáp lại.

Tiếng nhạc yêu đương ấy không dừng lại mà tiếp tục lan sâu vào cõi lòng, nơi tình yêu không chỉ là âm thanh mà đã trở thành một niềm say đắm trọn vẹn, chiếm lĩnh cả tâm hồn lẫn hình hài. “Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi/ Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi”. Điệp ngữ “Yêu nàng bao nhiêu” không nhằm đo đếm mà để nhấn mạnh độ sâu không thể đong đếm của tình yêu, khiến lời thơ vừa tha thiết vừa say đắm, đã gợi lên trong lòng người đọc về cái tình xưa của nhà thơ. Cái tình xưa ấy cứ ám gợi để rồi nhà thơ đi tìm kiếm trong mộng tưởng. Nhưng rồi nhà thơ dần nhận ra điểm quy tụ của mọi khát vọng yêu thương, nơi cái đẹp và hạnh phúc không ở đâu xa mà hiện hữu ngay trong chính người mình yêu. “Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi/ Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi”. Hai câu này thể hiện sự lý tưởng hóa người yêu, đồng thời cho thấy tình yêu đã đạt đến độ thăng hoa, khi cái đẹp tuyệt đối được tìm thấy trong chính con người cụ thể.

Niềm hạnh phúc tưởng như trọn vẹn ấy không kéo dài, mà dần nhường chỗ cho một khoảng lặng cô đơn khi vắng bóng hình “nàng”. “Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu”. Câu thơ này gợi một không gian đẹp, nhẹ, đầy chất mộng, nhưng chính trong cái “phiêu diêu” ấy lại ẩn chứa sự xa vắng, lạc lõng của tâm hồn. Câu hỏi “Sao tôi không màng kêu: em yêu” không phải để hỏi mà là một lời tự vấn, cho thấy cảm xúc đã trở nên tê cứng, không còn thiết tha bộc lộ. Đặc biệt hình ảnh so sánh trong hai câu “Trăng nay không nàng như trăng thiu/ Đêm nay không nàng như đêm hiu” làm nổi bật cảm giác trống vắng, buồn bã của nhân vật trữ tình. Đồng thời, phép so sánh này kết hợp với điệp ngữ “không nàng” còn chuyển hóa ngoại cảnh thành tâm cảnh. Cảnh không còn là cảnh khách quan mà đã nhuốm màu cảm xúc: nỗi cô đơn, nhớ thương lan ra cả không gian, khiến trăng cũng buồn, đêm cũng lạnh. Giờ đây nỗi buồn cũng không còn đứng yên mà bắt đầu chuyển động, len lỏi qua từng cảnh vật, như muốn tìm một nơi trú ngụ. Chính sự lan tỏa ấy đã khiến cảm xúc hóa thành một hành trình, trải dài qua không gian và thời gian, để rồi kết tụ thành một bức tranh thu nhuốm đầy tâm trạng.

Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân

Buồn sang cây tùng thăm đông quân

Ô hay buồn vương cây ngô đồng

Vàng rơi! Vàng rơi: Thu mênh mông.

Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh. Đặc biệt, câu thơ “Ô hay buồn vương cây ngô đồng” vừa như một lời ngạc nhiên, vừa như một tiếng thở dài nhận ra nỗi buồn đã neo đậu. Hai tiếng kêu “Vàng rơi! Vàng rơi:” ở câu cuối tạo nhịp gấp, gợi những chiếc lá thu rơi liên tiếp, đồng thời làm bật lên âm thanh của sự tàn phai. Và rồi Bích Khê đã khép lại bài thơ bằng một không gian rộng lớn “Thu mênh mông” nhưng trống vắng, nơi nỗi buồn đã hòa tan vào cảnh sắc.

Có thể nói bài thơ “Tỳ bà” của Bích Khê không chỉ là một bức tranh giao hòa giữa âm nhạc và thơ ca, mà còn là minh chứng cho sức sáng tạo táo bạo của Thơ mới. Với nghệ thuật cắt dán giàu tính tượng trưng, siêu thực, hệ thống hình ảnh huyền ảo, và đặc biệt là việc sử dụng toàn vần bằng, “Tỳ bà” đã tạo nên một âm hưởng êm dịu, miên man như tiếng đàn tỳ bà ngân dài trong đêm vắng. Chính sự dìu dặt ấy đã khiến nỗi nhớ, nỗi buồn và khát vọng giao cảm trở nên tinh tế, sâu lắng hơn. Vượt lên giới hạn của một thi phẩm mang dấu ấn cá nhân, “Tỳ bà” vẫn giữ nguyên sức hấp dẫn qua thời gian, như một bản đàn không tắt, càng ngân lên càng thấm sâu vào lòng người đọc nhiều thế hệ.                                                                                 

P.V.H

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm