TIN TỨC

Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-05-11 02:06:44
mail facebook google pos stwis
13 lượt xem

PHẠM VĂN HOANH

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh. 

 

Nhà thơ Bích Khê

 

Tỳ Bà

Nàng ơi! Tay đêm đang giăng mềm

Trăng đan qua cành muôn tay êm

Mây nhung pha màu thu trên trời

Sương lam phơi màu thu muôn nơi

 

Vàng sao nằm im trên hoa gầy

Tương tư người xưa thôi qua đây

Ôi! Nàng năm xưa quên lời thề

Hoa vừa đưa hương gây đê mê


Cây đàn yêu đương làm bằng thơ

Cây đàn yêu đương run trong mơ

Hồn về trên môi kêu: em ơi

Thuyền hồn không đi lên chơi vơi


Tôi qua tìm nàng vay du dương

Tôi mang lên lầu lên cung Thương

Tôi không bao giờ thôi yêu nàng

Tình tang tôi nghe như tình lang


Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi

Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi

Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi

Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi


Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu

Sao tôi không màng kêu: em yêu

Trăng nay không nàng như trăng thiu

Đêm nay không nàng như đêm hiu


Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân

Buồn sang cây tùng thăm đông quân

Ô hay buồn vương cây ngô đồng

Vàng rơi! Vàng rơi: Thu mênh mông.

                                            Bích Khê

Trong mỗi chúng ta không ai mà không biết đến nhà thơ Bích Khê, một trong những nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1941). Ông tên thật là Lê Quang Lương, sinh ngày 24 tháng 3 năm 1916 tại quê ngoại Sơn Tịnh, Quảng Ngãi, lớn lên ở quê nội Thu Xà, Nghĩa Hòa, Quảng Ngãi. Ông bị bệnh phổi và mất vào ngày 17 tháng 1 năm 1946 tại Nghĩa Hoà, tỉnh Quảng Ngãi, khi tài năng đang nở rộ. Ông làm thơ từ năm 15 tuổi (1931), theo các thể thơ cổ điển như Đường luật, từ khúc, hát nói… Khoảng năm 1936, Bích Khê chuyển sang Thơ mới. Tập “Tinh huyết” (1939) là tập thơ duy nhất được in khi ông còn sống. Ông ra đi để lại cho cho nền thơ ca Việt Nam nhiều bài thơ hay như “Tiếng đàn mưa”, “Làng em”, “Tranh lõa thể”, “Tỳ bà”… “Tỳ bà” là một những bài thơ có “những câu thơ hay vào bực nhất trong thơ Việt Nam” (Hoài Thanh - Thi nhân Việt Nam). Nhân kỷ niệm 110 năm ngày sinh và 80 năm ngày mất của ông, chúng ta cùng đọc lại bài thơ này.

Theo các nhà nghiên cứu thì bài thơ “Tỳ bà” của Bích Khê mượn tinh thần “Tỳ bà hành” của Bạch Cư Dị, tức là tinh thần giao hòa âm nhạc và cảnh sắc, nhưng thay đổi toàn diện bối cảnh, kiến trúc âm nhạc và kiến trúc hình ảnh, để tạo ra một tác phẩm hiện đại. (Theo Thụy Khuê - Bích Khê (1916-1946), Bích Khê một trăm năm, Nhà xuất bản Hội Nhà văn 2016, tr 709).

Vâng, đọc bài thơ này, ta sẽ thấy rõ điều đó. Ngay từ những câu thơ đầu, Bích Khê đã khẽ buông những thanh âm để mở ra một bức tranh thu vừa hư vừa thực.

Nàng ơi! Tay đêm đang giăng mềm

Trăng đan qua cành muôn tay êm

Mây nhung pha màu thu trên trời

Sương lam phơi màu thu muôn nơi

Câu thơ mở đầu vang lên tha thiết, vừa như lời mời gọi, vừa như một lời chia sẻ. “Nàng” ở đây không chỉ là một con người cụ thể mà còn có thể là cái đẹp, là mùa thu… mà nhân vật trữ tình muốn chiêm ngưỡng. Cách xưng hô ấy tạo nên một không gian trữ tình riêng tư, khiến cảnh vật hiện lên thật đượm tình. “Đêm” vốn vô hình, nhưng qua cảm nhận của nhà thơ lại trở thành hữu hình. Hình ảnh nhân hoá này khiến đêm như một sinh thể dịu dàng, đang buông những dải lụa mềm mại xuống không gian. Trong không gian đó, ánh trăng không tĩnh tại mà “đan qua cành muôn tay êm”, tạo cảm giác như bức tranh thu đang chuyển động dịu nhẹ. Các gam màu “mây nhung”, “sương lam”, “màu thu” được pha trộn, khiến bức tranh thu đầy màu sắc và sống động, gợi lên trong lòng người đọc cảm giác yên bình và thư thái.

Từ bức tranh thu ấy, mạch cảm xúc của Bích Khê không dừng lại ở việc thưởng ngoạn cảnh sắc mà dần chuyển sang miền hoài niệm. Cảnh thu vẫn đó nhưng đã thấm đượm nỗi lòng, trở thành chiếc cầu nối đưa nhà thơ trở về với những kỷ niệm xưa cũ.

Vàng sao nằm im trên hoa gầy

Tương tư người xưa thôi qua đây

Ôi! Nàng năm xưa quên lời thề

Hoa vừa đưa hương gây đê mê

Bằng thủ pháp cắt dán, “sao” và “hoa” vốn thuộc hai không gian khác nhau lại được đặt chồng lên nhau trong trạng thái “nằm im”, “gầy”, khiến cảnh không còn là cảnh thuần túy mà đã trở thành một không gian tâm trạng, nơi nỗi tương tư, tiếc nuối và cả mê đắm hòa quyện. Nhờ thủ pháp này mà khổ thơ mang vẻ đẹp vừa huyền ảo, mơ hồ, vừa thấm đẫm chất nhạc và chất họa, thể hiện rõ bút pháp tượng trưng, siêu thực độc đáo của Bích Khê. Có thể nói rằng Bích Khê rất tài hoa trong việc áp dụng những thủ pháp rất mới của văn học phương Tây để sáng tác thơ trong một tinh thần rất phương Đông. Câu thơ “Tương tư người xưa thôi qua đây” như một lời tự nhủ muốn dứt bỏ nhưng lại không thể dứt. Đến câu “Ôi! Nàng năm xưa quên lời thề” thì cảm xúc bỗng bật lên thành tiếng kêu xót xa. Thán từ “Ôi!” như một nhát cắt vào dòng hồi ức, làm lộ ra vết thương tình yêu chưa lành. Và đến “Hoa vừa đưa hương gây đê mê”, thì hương sắc của hiện tại lại khơi dậy cơn say, nhưng đó không phải là niềm vui mà là sự mê đắm trong nỗi nhớ.

Nỗi nhớ này đã hóa thành âm thanh, thành nhịp rung mơ hồ trong cõi vô thức. “Cây đàn yêu đương làm bằng thơ/ Cây đàn yêu đương run trong mơ”. Hai câu thơ này mở ra một thế giới nội tâm đầy huyền ảo, nơi tình yêu không còn tồn tại như cảm xúc thông thường mà đã hóa thành nghệ thuật và âm thanh. Hình ảnh “Cây đàn yêu đương làm bằng thơ” là một hình ảnh ẩn dụ độc đáo: thơ ca trở thành chất liệu tạo nên nhạc cụ, còn tình yêu chính là giai điệu ngân vang trong đó. Điệp ngữ “cây đàn yêu đương” kết hợp với trạng thái “run trong mơ” gợi lên những rung động mong manh, mơ hồ, nửa thực nửa ảo. Đọc đến câu thơ “Hồn về trên môi kêu: em ơi” ta thấy cảm xúc được đẩy lên thành tiếng gọi tha thiết, như bật ra từ tiềm thức, vừa gần gũi vừa xa vắng. Nhưng ngay sau đó, “Thuyền hồn không đi lên chơi vơi” lại tạo ra một nghịch lí: con thuyền đáng lẽ phải có hướng đi thì lại lơ lửng, mất phương hướng. Đó là tâm trạng bơ vơ, chênh vênh giữa miền ký ức và hiện tại, giữa khát vọng yêu thương và thực tại chia lìa.

Không dừng lại ở nỗi bơ vơ, nhân vật trữ tình bắt đầu hành trình kiếm tìm trong cõi mộng của tình yêu. “Tôi qua tìm nàng vay du dương”. Câu thơ này gợi một hành trình vừa thực vừa ảo: “tìm” không chỉ là gặp gỡ mà còn là vay mượn âm thanh, vay mượn dư vang của tình yêu để nuôi dưỡng tâm hồn. Câu thơ “Tôi mang lên lầu lên cung Thương” đậm màu sắc âm nhạc cổ điển, đưa cảm xúc vào một không gian cao vút, tinh tế. “Cung Thương” không chỉ là bậc âm mà còn là cung bậc tâm trạng buồn, da diết. Câu thơ “Tôi không bao giờ thôi yêu nàng” như một lời thề tuyệt đối, nhưng không nặng nề mà ngân lên trong trạng thái mơ hồ, say đắm. Đặc biệt câu thơ “Tình tang tôi nghe như tình lang” tạo nên một sự hòa điệu giữa âm thanh và cảm xúc, giữa cái nghe và cái yêu, khiến tình yêu trở thành một giai điệu ngân vang trong tâm thức. Có thể đó là đau đớn buồn bã, hoặc là sự thất vọng khi tình yêu không được đáp lại.

Tiếng nhạc yêu đương ấy không dừng lại mà tiếp tục lan sâu vào cõi lòng, nơi tình yêu không chỉ là âm thanh mà đã trở thành một niềm say đắm trọn vẹn, chiếm lĩnh cả tâm hồn lẫn hình hài. “Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi/ Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi”. Điệp ngữ “Yêu nàng bao nhiêu” không nhằm đo đếm mà để nhấn mạnh độ sâu không thể đong đếm của tình yêu, khiến lời thơ vừa tha thiết vừa say đắm, đã gợi lên trong lòng người đọc về cái tình xưa của nhà thơ. Cái tình xưa ấy cứ ám gợi để rồi nhà thơ đi tìm kiếm trong mộng tưởng. Nhưng rồi nhà thơ dần nhận ra điểm quy tụ của mọi khát vọng yêu thương, nơi cái đẹp và hạnh phúc không ở đâu xa mà hiện hữu ngay trong chính người mình yêu. “Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi/ Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi”. Hai câu này thể hiện sự lý tưởng hóa người yêu, đồng thời cho thấy tình yêu đã đạt đến độ thăng hoa, khi cái đẹp tuyệt đối được tìm thấy trong chính con người cụ thể.

Niềm hạnh phúc tưởng như trọn vẹn ấy không kéo dài, mà dần nhường chỗ cho một khoảng lặng cô đơn khi vắng bóng hình “nàng”. “Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu”. Câu thơ này gợi một không gian đẹp, nhẹ, đầy chất mộng, nhưng chính trong cái “phiêu diêu” ấy lại ẩn chứa sự xa vắng, lạc lõng của tâm hồn. Câu hỏi “Sao tôi không màng kêu: em yêu” không phải để hỏi mà là một lời tự vấn, cho thấy cảm xúc đã trở nên tê cứng, không còn thiết tha bộc lộ. Đặc biệt hình ảnh so sánh trong hai câu “Trăng nay không nàng như trăng thiu/ Đêm nay không nàng như đêm hiu” làm nổi bật cảm giác trống vắng, buồn bã của nhân vật trữ tình. Đồng thời, phép so sánh này kết hợp với điệp ngữ “không nàng” còn chuyển hóa ngoại cảnh thành tâm cảnh. Cảnh không còn là cảnh khách quan mà đã nhuốm màu cảm xúc: nỗi cô đơn, nhớ thương lan ra cả không gian, khiến trăng cũng buồn, đêm cũng lạnh. Giờ đây nỗi buồn cũng không còn đứng yên mà bắt đầu chuyển động, len lỏi qua từng cảnh vật, như muốn tìm một nơi trú ngụ. Chính sự lan tỏa ấy đã khiến cảm xúc hóa thành một hành trình, trải dài qua không gian và thời gian, để rồi kết tụ thành một bức tranh thu nhuốm đầy tâm trạng.

Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân

Buồn sang cây tùng thăm đông quân

Ô hay buồn vương cây ngô đồng

Vàng rơi! Vàng rơi: Thu mênh mông.

Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh. Đặc biệt, câu thơ “Ô hay buồn vương cây ngô đồng” vừa như một lời ngạc nhiên, vừa như một tiếng thở dài nhận ra nỗi buồn đã neo đậu. Hai tiếng kêu “Vàng rơi! Vàng rơi:” ở câu cuối tạo nhịp gấp, gợi những chiếc lá thu rơi liên tiếp, đồng thời làm bật lên âm thanh của sự tàn phai. Và rồi Bích Khê đã khép lại bài thơ bằng một không gian rộng lớn “Thu mênh mông” nhưng trống vắng, nơi nỗi buồn đã hòa tan vào cảnh sắc.

Có thể nói bài thơ “Tỳ bà” của Bích Khê không chỉ là một bức tranh giao hòa giữa âm nhạc và thơ ca, mà còn là minh chứng cho sức sáng tạo táo bạo của Thơ mới. Với nghệ thuật cắt dán giàu tính tượng trưng, siêu thực, hệ thống hình ảnh huyền ảo, và đặc biệt là việc sử dụng toàn vần bằng, “Tỳ bà” đã tạo nên một âm hưởng êm dịu, miên man như tiếng đàn tỳ bà ngân dài trong đêm vắng. Chính sự dìu dặt ấy đã khiến nỗi nhớ, nỗi buồn và khát vọng giao cảm trở nên tinh tế, sâu lắng hơn. Vượt lên giới hạn của một thi phẩm mang dấu ấn cá nhân, “Tỳ bà” vẫn giữ nguyên sức hấp dẫn qua thời gian, như một bản đàn không tắt, càng ngân lên càng thấm sâu vào lòng người đọc nhiều thế hệ.                                                                                 

P.V.H

Bài viết liên quan

Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm