- Lý luận - Phê bình
- Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
PHẠM VĂN HOANH
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.

Nhà thơ Bích Khê
Tỳ Bà
Nàng ơi! Tay đêm đang giăng mềm
Trăng đan qua cành muôn tay êm
Mây nhung pha màu thu trên trời
Sương lam phơi màu thu muôn nơi
Vàng sao nằm im trên hoa gầy
Tương tư người xưa thôi qua đây
Ôi! Nàng năm xưa quên lời thề
Hoa vừa đưa hương gây đê mê
Cây đàn yêu đương làm bằng thơ
Cây đàn yêu đương run trong mơ
Hồn về trên môi kêu: em ơi
Thuyền hồn không đi lên chơi vơi
Tôi qua tìm nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi
Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu
Sao tôi không màng kêu: em yêu
Trăng nay không nàng như trăng thiu
Đêm nay không nàng như đêm hiu
Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! Vàng rơi: Thu mênh mông.
Bích Khê
Trong mỗi chúng ta không ai mà không biết đến nhà thơ Bích Khê, một trong những nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1941). Ông tên thật là Lê Quang Lương, sinh ngày 24 tháng 3 năm 1916 tại quê ngoại Sơn Tịnh, Quảng Ngãi, lớn lên ở quê nội Thu Xà, Nghĩa Hòa, Quảng Ngãi. Ông bị bệnh phổi và mất vào ngày 17 tháng 1 năm 1946 tại Nghĩa Hoà, tỉnh Quảng Ngãi, khi tài năng đang nở rộ. Ông làm thơ từ năm 15 tuổi (1931), theo các thể thơ cổ điển như Đường luật, từ khúc, hát nói… Khoảng năm 1936, Bích Khê chuyển sang Thơ mới. Tập “Tinh huyết” (1939) là tập thơ duy nhất được in khi ông còn sống. Ông ra đi để lại cho cho nền thơ ca Việt Nam nhiều bài thơ hay như “Tiếng đàn mưa”, “Làng em”, “Tranh lõa thể”, “Tỳ bà”… “Tỳ bà” là một những bài thơ có “những câu thơ hay vào bực nhất trong thơ Việt Nam” (Hoài Thanh - Thi nhân Việt Nam). Nhân kỷ niệm 110 năm ngày sinh và 80 năm ngày mất của ông, chúng ta cùng đọc lại bài thơ này.
Theo các nhà nghiên cứu thì bài thơ “Tỳ bà” của Bích Khê mượn tinh thần “Tỳ bà hành” của Bạch Cư Dị, tức là tinh thần giao hòa âm nhạc và cảnh sắc, nhưng thay đổi toàn diện bối cảnh, kiến trúc âm nhạc và kiến trúc hình ảnh, để tạo ra một tác phẩm hiện đại. (Theo Thụy Khuê - Bích Khê (1916-1946), Bích Khê một trăm năm, Nhà xuất bản Hội Nhà văn 2016, tr 709).
Vâng, đọc bài thơ này, ta sẽ thấy rõ điều đó. Ngay từ những câu thơ đầu, Bích Khê đã khẽ buông những thanh âm để mở ra một bức tranh thu vừa hư vừa thực.
Nàng ơi! Tay đêm đang giăng mềm
Trăng đan qua cành muôn tay êm
Mây nhung pha màu thu trên trời
Sương lam phơi màu thu muôn nơi
Câu thơ mở đầu vang lên tha thiết, vừa như lời mời gọi, vừa như một lời chia sẻ. “Nàng” ở đây không chỉ là một con người cụ thể mà còn có thể là cái đẹp, là mùa thu… mà nhân vật trữ tình muốn chiêm ngưỡng. Cách xưng hô ấy tạo nên một không gian trữ tình riêng tư, khiến cảnh vật hiện lên thật đượm tình. “Đêm” vốn vô hình, nhưng qua cảm nhận của nhà thơ lại trở thành hữu hình. Hình ảnh nhân hoá này khiến đêm như một sinh thể dịu dàng, đang buông những dải lụa mềm mại xuống không gian. Trong không gian đó, ánh trăng không tĩnh tại mà “đan qua cành muôn tay êm”, tạo cảm giác như bức tranh thu đang chuyển động dịu nhẹ. Các gam màu “mây nhung”, “sương lam”, “màu thu” được pha trộn, khiến bức tranh thu đầy màu sắc và sống động, gợi lên trong lòng người đọc cảm giác yên bình và thư thái.
Từ bức tranh thu ấy, mạch cảm xúc của Bích Khê không dừng lại ở việc thưởng ngoạn cảnh sắc mà dần chuyển sang miền hoài niệm. Cảnh thu vẫn đó nhưng đã thấm đượm nỗi lòng, trở thành chiếc cầu nối đưa nhà thơ trở về với những kỷ niệm xưa cũ.
Vàng sao nằm im trên hoa gầy
Tương tư người xưa thôi qua đây
Ôi! Nàng năm xưa quên lời thề
Hoa vừa đưa hương gây đê mê
Bằng thủ pháp cắt dán, “sao” và “hoa” vốn thuộc hai không gian khác nhau lại được đặt chồng lên nhau trong trạng thái “nằm im”, “gầy”, khiến cảnh không còn là cảnh thuần túy mà đã trở thành một không gian tâm trạng, nơi nỗi tương tư, tiếc nuối và cả mê đắm hòa quyện. Nhờ thủ pháp này mà khổ thơ mang vẻ đẹp vừa huyền ảo, mơ hồ, vừa thấm đẫm chất nhạc và chất họa, thể hiện rõ bút pháp tượng trưng, siêu thực độc đáo của Bích Khê. Có thể nói rằng Bích Khê rất tài hoa trong việc áp dụng những thủ pháp rất mới của văn học phương Tây để sáng tác thơ trong một tinh thần rất phương Đông. Câu thơ “Tương tư người xưa thôi qua đây” như một lời tự nhủ muốn dứt bỏ nhưng lại không thể dứt. Đến câu “Ôi! Nàng năm xưa quên lời thề” thì cảm xúc bỗng bật lên thành tiếng kêu xót xa. Thán từ “Ôi!” như một nhát cắt vào dòng hồi ức, làm lộ ra vết thương tình yêu chưa lành. Và đến “Hoa vừa đưa hương gây đê mê”, thì hương sắc của hiện tại lại khơi dậy cơn say, nhưng đó không phải là niềm vui mà là sự mê đắm trong nỗi nhớ.
Nỗi nhớ này đã hóa thành âm thanh, thành nhịp rung mơ hồ trong cõi vô thức. “Cây đàn yêu đương làm bằng thơ/ Cây đàn yêu đương run trong mơ”. Hai câu thơ này mở ra một thế giới nội tâm đầy huyền ảo, nơi tình yêu không còn tồn tại như cảm xúc thông thường mà đã hóa thành nghệ thuật và âm thanh. Hình ảnh “Cây đàn yêu đương làm bằng thơ” là một hình ảnh ẩn dụ độc đáo: thơ ca trở thành chất liệu tạo nên nhạc cụ, còn tình yêu chính là giai điệu ngân vang trong đó. Điệp ngữ “cây đàn yêu đương” kết hợp với trạng thái “run trong mơ” gợi lên những rung động mong manh, mơ hồ, nửa thực nửa ảo. Đọc đến câu thơ “Hồn về trên môi kêu: em ơi” ta thấy cảm xúc được đẩy lên thành tiếng gọi tha thiết, như bật ra từ tiềm thức, vừa gần gũi vừa xa vắng. Nhưng ngay sau đó, “Thuyền hồn không đi lên chơi vơi” lại tạo ra một nghịch lí: con thuyền đáng lẽ phải có hướng đi thì lại lơ lửng, mất phương hướng. Đó là tâm trạng bơ vơ, chênh vênh giữa miền ký ức và hiện tại, giữa khát vọng yêu thương và thực tại chia lìa.
Không dừng lại ở nỗi bơ vơ, nhân vật trữ tình bắt đầu hành trình kiếm tìm trong cõi mộng của tình yêu. “Tôi qua tìm nàng vay du dương”. Câu thơ này gợi một hành trình vừa thực vừa ảo: “tìm” không chỉ là gặp gỡ mà còn là vay mượn âm thanh, vay mượn dư vang của tình yêu để nuôi dưỡng tâm hồn. Câu thơ “Tôi mang lên lầu lên cung Thương” đậm màu sắc âm nhạc cổ điển, đưa cảm xúc vào một không gian cao vút, tinh tế. “Cung Thương” không chỉ là bậc âm mà còn là cung bậc tâm trạng buồn, da diết. Câu thơ “Tôi không bao giờ thôi yêu nàng” như một lời thề tuyệt đối, nhưng không nặng nề mà ngân lên trong trạng thái mơ hồ, say đắm. Đặc biệt câu thơ “Tình tang tôi nghe như tình lang” tạo nên một sự hòa điệu giữa âm thanh và cảm xúc, giữa cái nghe và cái yêu, khiến tình yêu trở thành một giai điệu ngân vang trong tâm thức. Có thể đó là đau đớn buồn bã, hoặc là sự thất vọng khi tình yêu không được đáp lại.
Tiếng nhạc yêu đương ấy không dừng lại mà tiếp tục lan sâu vào cõi lòng, nơi tình yêu không chỉ là âm thanh mà đã trở thành một niềm say đắm trọn vẹn, chiếm lĩnh cả tâm hồn lẫn hình hài. “Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi/ Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi”. Điệp ngữ “Yêu nàng bao nhiêu” không nhằm đo đếm mà để nhấn mạnh độ sâu không thể đong đếm của tình yêu, khiến lời thơ vừa tha thiết vừa say đắm, đã gợi lên trong lòng người đọc về cái tình xưa của nhà thơ. Cái tình xưa ấy cứ ám gợi để rồi nhà thơ đi tìm kiếm trong mộng tưởng. Nhưng rồi nhà thơ dần nhận ra điểm quy tụ của mọi khát vọng yêu thương, nơi cái đẹp và hạnh phúc không ở đâu xa mà hiện hữu ngay trong chính người mình yêu. “Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi/ Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi”. Hai câu này thể hiện sự lý tưởng hóa người yêu, đồng thời cho thấy tình yêu đã đạt đến độ thăng hoa, khi cái đẹp tuyệt đối được tìm thấy trong chính con người cụ thể.
Niềm hạnh phúc tưởng như trọn vẹn ấy không kéo dài, mà dần nhường chỗ cho một khoảng lặng cô đơn khi vắng bóng hình “nàng”. “Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu”. Câu thơ này gợi một không gian đẹp, nhẹ, đầy chất mộng, nhưng chính trong cái “phiêu diêu” ấy lại ẩn chứa sự xa vắng, lạc lõng của tâm hồn. Câu hỏi “Sao tôi không màng kêu: em yêu” không phải để hỏi mà là một lời tự vấn, cho thấy cảm xúc đã trở nên tê cứng, không còn thiết tha bộc lộ. Đặc biệt hình ảnh so sánh trong hai câu “Trăng nay không nàng như trăng thiu/ Đêm nay không nàng như đêm hiu” làm nổi bật cảm giác trống vắng, buồn bã của nhân vật trữ tình. Đồng thời, phép so sánh này kết hợp với điệp ngữ “không nàng” còn chuyển hóa ngoại cảnh thành tâm cảnh. Cảnh không còn là cảnh khách quan mà đã nhuốm màu cảm xúc: nỗi cô đơn, nhớ thương lan ra cả không gian, khiến trăng cũng buồn, đêm cũng lạnh. Giờ đây nỗi buồn cũng không còn đứng yên mà bắt đầu chuyển động, len lỏi qua từng cảnh vật, như muốn tìm một nơi trú ngụ. Chính sự lan tỏa ấy đã khiến cảm xúc hóa thành một hành trình, trải dài qua không gian và thời gian, để rồi kết tụ thành một bức tranh thu nhuốm đầy tâm trạng.
Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! Vàng rơi: Thu mênh mông.
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh. Đặc biệt, câu thơ “Ô hay buồn vương cây ngô đồng” vừa như một lời ngạc nhiên, vừa như một tiếng thở dài nhận ra nỗi buồn đã neo đậu. Hai tiếng kêu “Vàng rơi! Vàng rơi:” ở câu cuối tạo nhịp gấp, gợi những chiếc lá thu rơi liên tiếp, đồng thời làm bật lên âm thanh của sự tàn phai. Và rồi Bích Khê đã khép lại bài thơ bằng một không gian rộng lớn “Thu mênh mông” nhưng trống vắng, nơi nỗi buồn đã hòa tan vào cảnh sắc.
Có thể nói bài thơ “Tỳ bà” của Bích Khê không chỉ là một bức tranh giao hòa giữa âm nhạc và thơ ca, mà còn là minh chứng cho sức sáng tạo táo bạo của Thơ mới. Với nghệ thuật cắt dán giàu tính tượng trưng, siêu thực, hệ thống hình ảnh huyền ảo, và đặc biệt là việc sử dụng toàn vần bằng, “Tỳ bà” đã tạo nên một âm hưởng êm dịu, miên man như tiếng đàn tỳ bà ngân dài trong đêm vắng. Chính sự dìu dặt ấy đã khiến nỗi nhớ, nỗi buồn và khát vọng giao cảm trở nên tinh tế, sâu lắng hơn. Vượt lên giới hạn của một thi phẩm mang dấu ấn cá nhân, “Tỳ bà” vẫn giữ nguyên sức hấp dẫn qua thời gian, như một bản đàn không tắt, càng ngân lên càng thấm sâu vào lòng người đọc nhiều thế hệ.
P.V.H