TIN TỨC

Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-05-11 02:06:44
mail facebook google pos stwis
3109 lượt xem

PHẠM VĂN HOANH

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh. 

 

Nhà thơ Bích Khê

 

Tỳ Bà

Nàng ơi! Tay đêm đang giăng mềm

Trăng đan qua cành muôn tay êm

Mây nhung pha màu thu trên trời

Sương lam phơi màu thu muôn nơi

 

Vàng sao nằm im trên hoa gầy

Tương tư người xưa thôi qua đây

Ôi! Nàng năm xưa quên lời thề

Hoa vừa đưa hương gây đê mê


Cây đàn yêu đương làm bằng thơ

Cây đàn yêu đương run trong mơ

Hồn về trên môi kêu: em ơi

Thuyền hồn không đi lên chơi vơi


Tôi qua tìm nàng vay du dương

Tôi mang lên lầu lên cung Thương

Tôi không bao giờ thôi yêu nàng

Tình tang tôi nghe như tình lang


Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi

Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi

Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi

Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi


Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu

Sao tôi không màng kêu: em yêu

Trăng nay không nàng như trăng thiu

Đêm nay không nàng như đêm hiu


Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân

Buồn sang cây tùng thăm đông quân

Ô hay buồn vương cây ngô đồng

Vàng rơi! Vàng rơi: Thu mênh mông.

                                            Bích Khê

Trong mỗi chúng ta không ai mà không biết đến nhà thơ Bích Khê, một trong những nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1941). Ông tên thật là Lê Quang Lương, sinh ngày 24 tháng 3 năm 1916 tại quê ngoại Sơn Tịnh, Quảng Ngãi, lớn lên ở quê nội Thu Xà, Nghĩa Hòa, Quảng Ngãi. Ông bị bệnh phổi và mất vào ngày 17 tháng 1 năm 1946 tại Nghĩa Hoà, tỉnh Quảng Ngãi, khi tài năng đang nở rộ. Ông làm thơ từ năm 15 tuổi (1931), theo các thể thơ cổ điển như Đường luật, từ khúc, hát nói… Khoảng năm 1936, Bích Khê chuyển sang Thơ mới. Tập “Tinh huyết” (1939) là tập thơ duy nhất được in khi ông còn sống. Ông ra đi để lại cho cho nền thơ ca Việt Nam nhiều bài thơ hay như “Tiếng đàn mưa”, “Làng em”, “Tranh lõa thể”, “Tỳ bà”… “Tỳ bà” là một những bài thơ có “những câu thơ hay vào bực nhất trong thơ Việt Nam” (Hoài Thanh - Thi nhân Việt Nam). Nhân kỷ niệm 110 năm ngày sinh và 80 năm ngày mất của ông, chúng ta cùng đọc lại bài thơ này.

Theo các nhà nghiên cứu thì bài thơ “Tỳ bà” của Bích Khê mượn tinh thần “Tỳ bà hành” của Bạch Cư Dị, tức là tinh thần giao hòa âm nhạc và cảnh sắc, nhưng thay đổi toàn diện bối cảnh, kiến trúc âm nhạc và kiến trúc hình ảnh, để tạo ra một tác phẩm hiện đại. (Theo Thụy Khuê - Bích Khê (1916-1946), Bích Khê một trăm năm, Nhà xuất bản Hội Nhà văn 2016, tr 709).

Vâng, đọc bài thơ này, ta sẽ thấy rõ điều đó. Ngay từ những câu thơ đầu, Bích Khê đã khẽ buông những thanh âm để mở ra một bức tranh thu vừa hư vừa thực.

Nàng ơi! Tay đêm đang giăng mềm

Trăng đan qua cành muôn tay êm

Mây nhung pha màu thu trên trời

Sương lam phơi màu thu muôn nơi

Câu thơ mở đầu vang lên tha thiết, vừa như lời mời gọi, vừa như một lời chia sẻ. “Nàng” ở đây không chỉ là một con người cụ thể mà còn có thể là cái đẹp, là mùa thu… mà nhân vật trữ tình muốn chiêm ngưỡng. Cách xưng hô ấy tạo nên một không gian trữ tình riêng tư, khiến cảnh vật hiện lên thật đượm tình. “Đêm” vốn vô hình, nhưng qua cảm nhận của nhà thơ lại trở thành hữu hình. Hình ảnh nhân hoá này khiến đêm như một sinh thể dịu dàng, đang buông những dải lụa mềm mại xuống không gian. Trong không gian đó, ánh trăng không tĩnh tại mà “đan qua cành muôn tay êm”, tạo cảm giác như bức tranh thu đang chuyển động dịu nhẹ. Các gam màu “mây nhung”, “sương lam”, “màu thu” được pha trộn, khiến bức tranh thu đầy màu sắc và sống động, gợi lên trong lòng người đọc cảm giác yên bình và thư thái.

Từ bức tranh thu ấy, mạch cảm xúc của Bích Khê không dừng lại ở việc thưởng ngoạn cảnh sắc mà dần chuyển sang miền hoài niệm. Cảnh thu vẫn đó nhưng đã thấm đượm nỗi lòng, trở thành chiếc cầu nối đưa nhà thơ trở về với những kỷ niệm xưa cũ.

Vàng sao nằm im trên hoa gầy

Tương tư người xưa thôi qua đây

Ôi! Nàng năm xưa quên lời thề

Hoa vừa đưa hương gây đê mê

Bằng thủ pháp cắt dán, “sao” và “hoa” vốn thuộc hai không gian khác nhau lại được đặt chồng lên nhau trong trạng thái “nằm im”, “gầy”, khiến cảnh không còn là cảnh thuần túy mà đã trở thành một không gian tâm trạng, nơi nỗi tương tư, tiếc nuối và cả mê đắm hòa quyện. Nhờ thủ pháp này mà khổ thơ mang vẻ đẹp vừa huyền ảo, mơ hồ, vừa thấm đẫm chất nhạc và chất họa, thể hiện rõ bút pháp tượng trưng, siêu thực độc đáo của Bích Khê. Có thể nói rằng Bích Khê rất tài hoa trong việc áp dụng những thủ pháp rất mới của văn học phương Tây để sáng tác thơ trong một tinh thần rất phương Đông. Câu thơ “Tương tư người xưa thôi qua đây” như một lời tự nhủ muốn dứt bỏ nhưng lại không thể dứt. Đến câu “Ôi! Nàng năm xưa quên lời thề” thì cảm xúc bỗng bật lên thành tiếng kêu xót xa. Thán từ “Ôi!” như một nhát cắt vào dòng hồi ức, làm lộ ra vết thương tình yêu chưa lành. Và đến “Hoa vừa đưa hương gây đê mê”, thì hương sắc của hiện tại lại khơi dậy cơn say, nhưng đó không phải là niềm vui mà là sự mê đắm trong nỗi nhớ.

Nỗi nhớ này đã hóa thành âm thanh, thành nhịp rung mơ hồ trong cõi vô thức. “Cây đàn yêu đương làm bằng thơ/ Cây đàn yêu đương run trong mơ”. Hai câu thơ này mở ra một thế giới nội tâm đầy huyền ảo, nơi tình yêu không còn tồn tại như cảm xúc thông thường mà đã hóa thành nghệ thuật và âm thanh. Hình ảnh “Cây đàn yêu đương làm bằng thơ” là một hình ảnh ẩn dụ độc đáo: thơ ca trở thành chất liệu tạo nên nhạc cụ, còn tình yêu chính là giai điệu ngân vang trong đó. Điệp ngữ “cây đàn yêu đương” kết hợp với trạng thái “run trong mơ” gợi lên những rung động mong manh, mơ hồ, nửa thực nửa ảo. Đọc đến câu thơ “Hồn về trên môi kêu: em ơi” ta thấy cảm xúc được đẩy lên thành tiếng gọi tha thiết, như bật ra từ tiềm thức, vừa gần gũi vừa xa vắng. Nhưng ngay sau đó, “Thuyền hồn không đi lên chơi vơi” lại tạo ra một nghịch lí: con thuyền đáng lẽ phải có hướng đi thì lại lơ lửng, mất phương hướng. Đó là tâm trạng bơ vơ, chênh vênh giữa miền ký ức và hiện tại, giữa khát vọng yêu thương và thực tại chia lìa.

Không dừng lại ở nỗi bơ vơ, nhân vật trữ tình bắt đầu hành trình kiếm tìm trong cõi mộng của tình yêu. “Tôi qua tìm nàng vay du dương”. Câu thơ này gợi một hành trình vừa thực vừa ảo: “tìm” không chỉ là gặp gỡ mà còn là vay mượn âm thanh, vay mượn dư vang của tình yêu để nuôi dưỡng tâm hồn. Câu thơ “Tôi mang lên lầu lên cung Thương” đậm màu sắc âm nhạc cổ điển, đưa cảm xúc vào một không gian cao vút, tinh tế. “Cung Thương” không chỉ là bậc âm mà còn là cung bậc tâm trạng buồn, da diết. Câu thơ “Tôi không bao giờ thôi yêu nàng” như một lời thề tuyệt đối, nhưng không nặng nề mà ngân lên trong trạng thái mơ hồ, say đắm. Đặc biệt câu thơ “Tình tang tôi nghe như tình lang” tạo nên một sự hòa điệu giữa âm thanh và cảm xúc, giữa cái nghe và cái yêu, khiến tình yêu trở thành một giai điệu ngân vang trong tâm thức. Có thể đó là đau đớn buồn bã, hoặc là sự thất vọng khi tình yêu không được đáp lại.

Tiếng nhạc yêu đương ấy không dừng lại mà tiếp tục lan sâu vào cõi lòng, nơi tình yêu không chỉ là âm thanh mà đã trở thành một niềm say đắm trọn vẹn, chiếm lĩnh cả tâm hồn lẫn hình hài. “Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi/ Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi”. Điệp ngữ “Yêu nàng bao nhiêu” không nhằm đo đếm mà để nhấn mạnh độ sâu không thể đong đếm của tình yêu, khiến lời thơ vừa tha thiết vừa say đắm, đã gợi lên trong lòng người đọc về cái tình xưa của nhà thơ. Cái tình xưa ấy cứ ám gợi để rồi nhà thơ đi tìm kiếm trong mộng tưởng. Nhưng rồi nhà thơ dần nhận ra điểm quy tụ của mọi khát vọng yêu thương, nơi cái đẹp và hạnh phúc không ở đâu xa mà hiện hữu ngay trong chính người mình yêu. “Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi/ Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi”. Hai câu này thể hiện sự lý tưởng hóa người yêu, đồng thời cho thấy tình yêu đã đạt đến độ thăng hoa, khi cái đẹp tuyệt đối được tìm thấy trong chính con người cụ thể.

Niềm hạnh phúc tưởng như trọn vẹn ấy không kéo dài, mà dần nhường chỗ cho một khoảng lặng cô đơn khi vắng bóng hình “nàng”. “Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu”. Câu thơ này gợi một không gian đẹp, nhẹ, đầy chất mộng, nhưng chính trong cái “phiêu diêu” ấy lại ẩn chứa sự xa vắng, lạc lõng của tâm hồn. Câu hỏi “Sao tôi không màng kêu: em yêu” không phải để hỏi mà là một lời tự vấn, cho thấy cảm xúc đã trở nên tê cứng, không còn thiết tha bộc lộ. Đặc biệt hình ảnh so sánh trong hai câu “Trăng nay không nàng như trăng thiu/ Đêm nay không nàng như đêm hiu” làm nổi bật cảm giác trống vắng, buồn bã của nhân vật trữ tình. Đồng thời, phép so sánh này kết hợp với điệp ngữ “không nàng” còn chuyển hóa ngoại cảnh thành tâm cảnh. Cảnh không còn là cảnh khách quan mà đã nhuốm màu cảm xúc: nỗi cô đơn, nhớ thương lan ra cả không gian, khiến trăng cũng buồn, đêm cũng lạnh. Giờ đây nỗi buồn cũng không còn đứng yên mà bắt đầu chuyển động, len lỏi qua từng cảnh vật, như muốn tìm một nơi trú ngụ. Chính sự lan tỏa ấy đã khiến cảm xúc hóa thành một hành trình, trải dài qua không gian và thời gian, để rồi kết tụ thành một bức tranh thu nhuốm đầy tâm trạng.

Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân

Buồn sang cây tùng thăm đông quân

Ô hay buồn vương cây ngô đồng

Vàng rơi! Vàng rơi: Thu mênh mông.

Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh. Đặc biệt, câu thơ “Ô hay buồn vương cây ngô đồng” vừa như một lời ngạc nhiên, vừa như một tiếng thở dài nhận ra nỗi buồn đã neo đậu. Hai tiếng kêu “Vàng rơi! Vàng rơi:” ở câu cuối tạo nhịp gấp, gợi những chiếc lá thu rơi liên tiếp, đồng thời làm bật lên âm thanh của sự tàn phai. Và rồi Bích Khê đã khép lại bài thơ bằng một không gian rộng lớn “Thu mênh mông” nhưng trống vắng, nơi nỗi buồn đã hòa tan vào cảnh sắc.

Có thể nói bài thơ “Tỳ bà” của Bích Khê không chỉ là một bức tranh giao hòa giữa âm nhạc và thơ ca, mà còn là minh chứng cho sức sáng tạo táo bạo của Thơ mới. Với nghệ thuật cắt dán giàu tính tượng trưng, siêu thực, hệ thống hình ảnh huyền ảo, và đặc biệt là việc sử dụng toàn vần bằng, “Tỳ bà” đã tạo nên một âm hưởng êm dịu, miên man như tiếng đàn tỳ bà ngân dài trong đêm vắng. Chính sự dìu dặt ấy đã khiến nỗi nhớ, nỗi buồn và khát vọng giao cảm trở nên tinh tế, sâu lắng hơn. Vượt lên giới hạn của một thi phẩm mang dấu ấn cá nhân, “Tỳ bà” vẫn giữ nguyên sức hấp dẫn qua thời gian, như một bản đàn không tắt, càng ngân lên càng thấm sâu vào lòng người đọc nhiều thế hệ.                                                                                 

P.V.H

Bài viết liên quan

Xem thêm
Sức sáng tạo của văn chương
Đời thừa là một trong những tác phẩm xuất sắc và tiêu biểu của Nam Cao về để tài người trí thức tiểu tư sản trước Cách mạng tháng Tám. Đó là câu chuyện về sự giằng xé đến bị kịch của một nhà văn giàu khát vọng nhưng đồng thời cũng là một tuyên ngôn nghệ thuật có giá trị. Qua nhân vật Hộ - nhân vật nhà văn trong tác phẩm – Nam Cao đã gởi gắm những suy tư và những quan niệm sâu sắc của mình về nghề văn và sứ mạng của người cầm bút chân chính. Ông viết “Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp được những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những gì chưa có”.
Xem thêm
Văn hóa Việt trong tâm thức những người con xa xứ qua tuyển thơ “Về cùng nước Việt của ta”
Ngày 7/11/2026, tại Đại sứ quán Việt Nam ở Liên bang Nga, tuyển thơ “Về cùng nước Việt của ta” của 10 tác giả thuộc Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam tại Liên bang Nga sẽ chính thức ra mắt.
Xem thêm
​Nhân vật văn học của Đặng Hoàng Thám, những thông điệp sâu sắc
Với hai mươi ba truyện ngắn, cùng đa dạng nhân vật ở mọi ngành nghề, tầng lớp, “Lửa và trái tim” đã thuyết phục người đọc về tính khách quan cho sự phản ánh đời sống-xã hội và cả tâm tư con người bằng sự khéo léo và linh hoạt của điểm nhìn ở ngôi kể thứ ba. Từ “Trăng phía sau đình”, “Về từ cõi khác”, “Mua văn bán chữ”, “Trên đồi cỏ tranh” hay “Mưa trái mùa”... mỗi câu chuyện là một lát cắt sinh động của đời sống, nơi mỗi người đều có số phận và lý tưởng của riêng mình. Và điều đáng nói, họ đều hướng về cộng đồng, hướng về sự phát triển bản thân trên nền tảng của đạo đức và sự cống hiến, điểm mà tôi trân trọng ở ngòi bút này.
Xem thêm
Tìm về lời rạ rơm – Bến trú ngụ của những bão giông đời người
Bài thơ khép lại trong một dư âm ngân vang, ngọt ngào và kết tinh thành một triết lý sống sâu sắc: “Bồng bềnh cánh võng thơ ngây / Ngân nga lời mẹ tháng ngày con vin”. Hình ảnh “cánh võng bồng bềnh” và tiếng “ngân nga” của lời ru đưa con người trở về trọn vẹn với những năm tháng tuổi thơ êm đềm. Đặc biệt, từ “vin” được xem là một nhãn tự, một nốt nhấn xuất sắc của toàn bài. Con không chỉ vin vào tay mẹ, vin vào vành võng để tập đi trong quá khứ, mà ở hiện tại và tương lai, con đang “vin” vào lời mẹ, vin vào những giá trị đạo đức, vào cái nôi văn hóa quê hương để đứng vững trước những cạm bẫy, sóng gió của cuộc đời.Thể thơ lục bát ở hai câu cuối này đạt đến độ chín muồi của cảm xúc, uyển chuyển như một dòng sữa mát lành tưới mát tâm hồn người đọc.
Xem thêm
Thơ Lê Quang Vui – Sự giăng mắc giữa đời và đạo
hời thế giới phẳng, giữa thời đại tiêu dùng, con người đang chạy theo việc đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ và sở hữu những giá trị vật chất, thơ đang bị xem như thứ xa xỉ chỉ dành cho những người có tâm hồn mộng mơ và thi vị. Đối với công việc làm thơ, một số người làm thơ chỉ để tìm kiếm chút danh lợi hoặc để mua vui cho chính bản thân mình. Thế nhưng, trên thi đàn thơ Việt Nam đương đại vẫn còn những nhà thơ xem công việc sáng tạo thơ như một thiên chức mang vẻ đẹp thuần khiết và thiêng liêng. Ở đây, tôi muốn nói đến nhà thơ Lê Quang Vui, hội viên Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Đồng Tháp, một người đeo đuổi công việc sáng tác thơ đã hơn 40 năm. Nhà thơ Lê Quang Vui được một số văn nghệ sĩ đánh giá rằng ông đang giữ kỷ lục về số lượng tác phẩm với hơn 15.000 bài thơ đã sáng tác và 15 tập thơ đã xuất bản.
Xem thêm
Nhà thơ Vương Trọng – Cá tính thơ trong con người xứ Nghệ
Đối với cánh văn chương 7x chúng tôi ở Văn nghệ Quân đội, nhà thơ Vương Trọng không chỉ rất gần gũi mà ông còn là tấm gương về sáng tác, công tác và các ứng xử trong cuộc sống đời thường. Ông là điển hình cho phẩm chất của người xứ Nghệ: mạnh mẽ, kiên cường, có chính kiến rõ ràng và rất quyết liệt trong bảo vệ chính kiến đó, nhất quán từ lời nói đến hành động, rất biết nặng nhẹ trong đời sống và càng biết thật giả trong văn chương. Được tiếp nối các ông trong khu vực công tác và sáng tác ở Văn nghệ Quân đội là may mắn với chúng tôi. Chúng tôi luôn kính trọng thế hệ nhà văn chống Mỹ trong đó có Vương Trọng và lấy làm tấm gương để soi chiếu chính mình. Càng đọc các bài thơ đã thuộc làu từ tấm bé, nhiều khi còn quên mất tên tác giả Vương Trọng chúng tôi càng hiểu rằng, giá trị trước hết và lâu bền của thơ ca chính là thơ ca luôn trực tiếp phục vụ đời sống con người, ở những khúc quanh bước ngoặt, ở những thân phận thua thiệt đã hằn lên từ nghìn năm lịch sử đến hôm nay. Những câu chuyện như thế khi vào thơ Vương Trọng đã được đẩy lên ở một tầng mức thẳm sâu, đớn đau tột cùng mà cũng tận cùng vẻ đẹp của sự hi sinh của con người Việt Nam đã đi vào thơ ca sử sách.
Xem thêm
Bích Thu - Người đồng hành cùng tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Bích Thu là một trong rất ít những nhà phê bình văn học nữ hiện còn miệt mài với những trang viết về văn chương Việt cho đến ngày nay. Thơ và văn xuôi là hai thể loại mà chị theo dõi và luôn đồng hành cho đến những thập niên đầu của thế kỷ XXI để nhận diện thi pháp tác phẩm và tác giả tiêu biểu, sau đó là tổng kết, chỉ ra diện mạo, đặc điểm chung cho cả phong trào qua các giai đoạn, nhất là giai đoạn từ Đổi mới đến nay.
Xem thêm
Thơ Lê Văn Sự - Tiếng thơ của vùng ký ức
Lê Văn Sự, nguyên là giáo viên dạy toán, nhưng tâm hồn thơ dào dạt, làm nên những vẻ đẹp “phi logic” của ngôn ngữ thơ. Không “đại ngôn”, nhưng phải nói rằng, anh là một nhà thơ “toàn tòng”. Cho đến nay, Lê Văn Sự đã xuất bản 11 tập thơ, trong số 12 tác phẩm đã công bố của anh. Anh là tiếng thơ cất lên từ làng bước ra xa lộ, nâng niu, đắm đuối ký ức.
Xem thêm
Thơ Trương Trọng Nghĩa từ góc nhìn phê bình sinh thái
Hành trình sáng tạo tuy chưa dài và còn nhiều dự cảm, nhưng Trương Trọng Nghĩa đã tự khẳng định tâm thế và tâm cảm của mình để hình thành chất thơ và thi pháp cá nhân. Thơ anh nặng sâu tình người, tình quê hương, xứ sở. Và trong quá trình đô thị hóa của xã hội Việt Nam thời hiện đại, nó giúp nhà thơ và giúp người đọc tìm về nguồn cội để được sống lại trong không - thời gian sinh thái thiên nhiên và sinh thái nhân văn trong sáng, thanh bình cho mỗi phận người và mỗi kinh nghiệm quan hệ người
Xem thêm
Trương Nam Hương – Thi sĩ tuổi Mèo với những câu thơ đẹp như nỗi buồn
Thơ Trương Nam Hương tài hoa mà đằm thắm, đau đáu với mẹ cha, quê nhà và những ân tình không thể nguôi quên. Nhân sinh nhật lần thứ 63 của nhà thơ (23/10/1963 – 23/10/2026), Văn chương TP.HCM trân trọng giới thiệu bài viết của Lê Huy Hòa như một món quà thân tình gửi đến anh – người thi sĩ vẫn bền bỉ gìn giữ những miền xanh trong trẻo của tâm hồn.
Xem thêm
Ấm áp những nụ cười trong tập thơ “Có phải cô là nắng” của Phan Thanh Tâm
Có phải Cô là nắng là tác phẩm thứ 9 và Tuyển tập thơ thứ 2 viết cho thiếu nhi của Nhà văn Phan Thanh Tâm. Tập thơ có 50 bài thơ đề cập đến nhiều chủ đề với cái nhìn dễ thương của trẻ thơ.
Xem thêm
Thơ ca và những tấm lòng đồng điệu trong buổi ra mắt sách của Phan Thanh Tâm
Bởi suy cho cùng, những hạt nắng đẹp nhất trong thơ thiếu nhi chính là những hạt nắng được gieo vào tâm hồn trẻ nhỏ.
Xem thêm
Tôi gọi Hoa của nước là hoa chữ trường ca
Tôi gọi Hoa của nước của nữ nhà văn Trầm Hương là “Hoa chữ trường ca”. Đây không phải sự tung hô tùy hứng, càng không phải lời khen dành cho tác phẩm của nhà văn đương đại tại TP.HCM. Hoa của nước đẹp nhưng không phải do tô điểm thành nên!
Xem thêm
Từ biểu tượng trong thơ đến việc tìm hiểu đặc trưng của thơ cổ điển, siêu thực
Khi tìm hiểu đặc trưng của các trào lưu (phong cách, trường phái) văn học, có thể bắt đầu từ các khái niệm gần gũi như hình tượng, biểu tượng... Bài viết này dùng các khái niệm này để lần lượt mở cánh cửa đi vào thế giới thơ cổ điển và thơ siêu thực.
Xem thêm
Ký ức trần thuật trong tiểu thuyết Trước bình minh của Trần Thị Hảo
Tiểu thuyết Trước bình minh của Trần Thị Hảo mở ra một thế giới ký ức, nơi những biến động của lịch sử, chiến tranh và đời sống hậu chiến được soi chiếu qua số phận một con người.
Xem thêm
Con khiếu rất linh
Nguyễn Linh Khiếu đã làm cho chính sử, một thứ đại lịch sử/đại tự sự, vỡ ra thành nhiều lịch sử, nhiều tiểu tự sự. Như dòng sông Hồng được tiếp nước từ các chi lưu lại chia nước cho các phân lưu để tạo thành một mạng lưới thủy văn. Mỗi dòng sông con đều bắt đầu câu chuyện của riêng nó. Một lịch sử đời thường với những cảm quan phồn sinh sâu sắc, đồng thời là một tư duy phản biện lịch sử...
Xem thêm
Người sống với văn chương cùng thời
PGS-TS Hồ Thế Hà đọc Thi pháp truyện ngắn hiện đại của Bùi Việt Thắng, Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 2020
Xem thêm
Đời vẫn xanh, tình vẫn xanh và thơ…
Bài đăng tạp chí Sông Hương, tháng 9/2026
Xem thêm
Đi qua “nham thạch”, đón mùi “lụa hương”
Có những bài thơ, vừa đọc qua, đã cảm thấy độ nóng bỏng như lửa, nhưng ngẫm kỹ, lại thấy bên trong ấy, chứa đầy một thế giới rất mềm mại, dịu êm. Cũng có những bài thơ chỉ thoảng qua như một mùi hương, tưởng nhẹ tênh mà lại đủ sức níu lấy cả một miền ký ức.
Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm