TIN TỨC

Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-05-11 02:06:44
mail facebook google pos stwis
1074 lượt xem

PHẠM VĂN HOANH

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh. 

 

Nhà thơ Bích Khê

 

Tỳ Bà

Nàng ơi! Tay đêm đang giăng mềm

Trăng đan qua cành muôn tay êm

Mây nhung pha màu thu trên trời

Sương lam phơi màu thu muôn nơi

 

Vàng sao nằm im trên hoa gầy

Tương tư người xưa thôi qua đây

Ôi! Nàng năm xưa quên lời thề

Hoa vừa đưa hương gây đê mê


Cây đàn yêu đương làm bằng thơ

Cây đàn yêu đương run trong mơ

Hồn về trên môi kêu: em ơi

Thuyền hồn không đi lên chơi vơi


Tôi qua tìm nàng vay du dương

Tôi mang lên lầu lên cung Thương

Tôi không bao giờ thôi yêu nàng

Tình tang tôi nghe như tình lang


Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi

Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi

Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi

Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi


Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu

Sao tôi không màng kêu: em yêu

Trăng nay không nàng như trăng thiu

Đêm nay không nàng như đêm hiu


Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân

Buồn sang cây tùng thăm đông quân

Ô hay buồn vương cây ngô đồng

Vàng rơi! Vàng rơi: Thu mênh mông.

                                            Bích Khê

Trong mỗi chúng ta không ai mà không biết đến nhà thơ Bích Khê, một trong những nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1941). Ông tên thật là Lê Quang Lương, sinh ngày 24 tháng 3 năm 1916 tại quê ngoại Sơn Tịnh, Quảng Ngãi, lớn lên ở quê nội Thu Xà, Nghĩa Hòa, Quảng Ngãi. Ông bị bệnh phổi và mất vào ngày 17 tháng 1 năm 1946 tại Nghĩa Hoà, tỉnh Quảng Ngãi, khi tài năng đang nở rộ. Ông làm thơ từ năm 15 tuổi (1931), theo các thể thơ cổ điển như Đường luật, từ khúc, hát nói… Khoảng năm 1936, Bích Khê chuyển sang Thơ mới. Tập “Tinh huyết” (1939) là tập thơ duy nhất được in khi ông còn sống. Ông ra đi để lại cho cho nền thơ ca Việt Nam nhiều bài thơ hay như “Tiếng đàn mưa”, “Làng em”, “Tranh lõa thể”, “Tỳ bà”… “Tỳ bà” là một những bài thơ có “những câu thơ hay vào bực nhất trong thơ Việt Nam” (Hoài Thanh - Thi nhân Việt Nam). Nhân kỷ niệm 110 năm ngày sinh và 80 năm ngày mất của ông, chúng ta cùng đọc lại bài thơ này.

Theo các nhà nghiên cứu thì bài thơ “Tỳ bà” của Bích Khê mượn tinh thần “Tỳ bà hành” của Bạch Cư Dị, tức là tinh thần giao hòa âm nhạc và cảnh sắc, nhưng thay đổi toàn diện bối cảnh, kiến trúc âm nhạc và kiến trúc hình ảnh, để tạo ra một tác phẩm hiện đại. (Theo Thụy Khuê - Bích Khê (1916-1946), Bích Khê một trăm năm, Nhà xuất bản Hội Nhà văn 2016, tr 709).

Vâng, đọc bài thơ này, ta sẽ thấy rõ điều đó. Ngay từ những câu thơ đầu, Bích Khê đã khẽ buông những thanh âm để mở ra một bức tranh thu vừa hư vừa thực.

Nàng ơi! Tay đêm đang giăng mềm

Trăng đan qua cành muôn tay êm

Mây nhung pha màu thu trên trời

Sương lam phơi màu thu muôn nơi

Câu thơ mở đầu vang lên tha thiết, vừa như lời mời gọi, vừa như một lời chia sẻ. “Nàng” ở đây không chỉ là một con người cụ thể mà còn có thể là cái đẹp, là mùa thu… mà nhân vật trữ tình muốn chiêm ngưỡng. Cách xưng hô ấy tạo nên một không gian trữ tình riêng tư, khiến cảnh vật hiện lên thật đượm tình. “Đêm” vốn vô hình, nhưng qua cảm nhận của nhà thơ lại trở thành hữu hình. Hình ảnh nhân hoá này khiến đêm như một sinh thể dịu dàng, đang buông những dải lụa mềm mại xuống không gian. Trong không gian đó, ánh trăng không tĩnh tại mà “đan qua cành muôn tay êm”, tạo cảm giác như bức tranh thu đang chuyển động dịu nhẹ. Các gam màu “mây nhung”, “sương lam”, “màu thu” được pha trộn, khiến bức tranh thu đầy màu sắc và sống động, gợi lên trong lòng người đọc cảm giác yên bình và thư thái.

Từ bức tranh thu ấy, mạch cảm xúc của Bích Khê không dừng lại ở việc thưởng ngoạn cảnh sắc mà dần chuyển sang miền hoài niệm. Cảnh thu vẫn đó nhưng đã thấm đượm nỗi lòng, trở thành chiếc cầu nối đưa nhà thơ trở về với những kỷ niệm xưa cũ.

Vàng sao nằm im trên hoa gầy

Tương tư người xưa thôi qua đây

Ôi! Nàng năm xưa quên lời thề

Hoa vừa đưa hương gây đê mê

Bằng thủ pháp cắt dán, “sao” và “hoa” vốn thuộc hai không gian khác nhau lại được đặt chồng lên nhau trong trạng thái “nằm im”, “gầy”, khiến cảnh không còn là cảnh thuần túy mà đã trở thành một không gian tâm trạng, nơi nỗi tương tư, tiếc nuối và cả mê đắm hòa quyện. Nhờ thủ pháp này mà khổ thơ mang vẻ đẹp vừa huyền ảo, mơ hồ, vừa thấm đẫm chất nhạc và chất họa, thể hiện rõ bút pháp tượng trưng, siêu thực độc đáo của Bích Khê. Có thể nói rằng Bích Khê rất tài hoa trong việc áp dụng những thủ pháp rất mới của văn học phương Tây để sáng tác thơ trong một tinh thần rất phương Đông. Câu thơ “Tương tư người xưa thôi qua đây” như một lời tự nhủ muốn dứt bỏ nhưng lại không thể dứt. Đến câu “Ôi! Nàng năm xưa quên lời thề” thì cảm xúc bỗng bật lên thành tiếng kêu xót xa. Thán từ “Ôi!” như một nhát cắt vào dòng hồi ức, làm lộ ra vết thương tình yêu chưa lành. Và đến “Hoa vừa đưa hương gây đê mê”, thì hương sắc của hiện tại lại khơi dậy cơn say, nhưng đó không phải là niềm vui mà là sự mê đắm trong nỗi nhớ.

Nỗi nhớ này đã hóa thành âm thanh, thành nhịp rung mơ hồ trong cõi vô thức. “Cây đàn yêu đương làm bằng thơ/ Cây đàn yêu đương run trong mơ”. Hai câu thơ này mở ra một thế giới nội tâm đầy huyền ảo, nơi tình yêu không còn tồn tại như cảm xúc thông thường mà đã hóa thành nghệ thuật và âm thanh. Hình ảnh “Cây đàn yêu đương làm bằng thơ” là một hình ảnh ẩn dụ độc đáo: thơ ca trở thành chất liệu tạo nên nhạc cụ, còn tình yêu chính là giai điệu ngân vang trong đó. Điệp ngữ “cây đàn yêu đương” kết hợp với trạng thái “run trong mơ” gợi lên những rung động mong manh, mơ hồ, nửa thực nửa ảo. Đọc đến câu thơ “Hồn về trên môi kêu: em ơi” ta thấy cảm xúc được đẩy lên thành tiếng gọi tha thiết, như bật ra từ tiềm thức, vừa gần gũi vừa xa vắng. Nhưng ngay sau đó, “Thuyền hồn không đi lên chơi vơi” lại tạo ra một nghịch lí: con thuyền đáng lẽ phải có hướng đi thì lại lơ lửng, mất phương hướng. Đó là tâm trạng bơ vơ, chênh vênh giữa miền ký ức và hiện tại, giữa khát vọng yêu thương và thực tại chia lìa.

Không dừng lại ở nỗi bơ vơ, nhân vật trữ tình bắt đầu hành trình kiếm tìm trong cõi mộng của tình yêu. “Tôi qua tìm nàng vay du dương”. Câu thơ này gợi một hành trình vừa thực vừa ảo: “tìm” không chỉ là gặp gỡ mà còn là vay mượn âm thanh, vay mượn dư vang của tình yêu để nuôi dưỡng tâm hồn. Câu thơ “Tôi mang lên lầu lên cung Thương” đậm màu sắc âm nhạc cổ điển, đưa cảm xúc vào một không gian cao vút, tinh tế. “Cung Thương” không chỉ là bậc âm mà còn là cung bậc tâm trạng buồn, da diết. Câu thơ “Tôi không bao giờ thôi yêu nàng” như một lời thề tuyệt đối, nhưng không nặng nề mà ngân lên trong trạng thái mơ hồ, say đắm. Đặc biệt câu thơ “Tình tang tôi nghe như tình lang” tạo nên một sự hòa điệu giữa âm thanh và cảm xúc, giữa cái nghe và cái yêu, khiến tình yêu trở thành một giai điệu ngân vang trong tâm thức. Có thể đó là đau đớn buồn bã, hoặc là sự thất vọng khi tình yêu không được đáp lại.

Tiếng nhạc yêu đương ấy không dừng lại mà tiếp tục lan sâu vào cõi lòng, nơi tình yêu không chỉ là âm thanh mà đã trở thành một niềm say đắm trọn vẹn, chiếm lĩnh cả tâm hồn lẫn hình hài. “Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi/ Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi”. Điệp ngữ “Yêu nàng bao nhiêu” không nhằm đo đếm mà để nhấn mạnh độ sâu không thể đong đếm của tình yêu, khiến lời thơ vừa tha thiết vừa say đắm, đã gợi lên trong lòng người đọc về cái tình xưa của nhà thơ. Cái tình xưa ấy cứ ám gợi để rồi nhà thơ đi tìm kiếm trong mộng tưởng. Nhưng rồi nhà thơ dần nhận ra điểm quy tụ của mọi khát vọng yêu thương, nơi cái đẹp và hạnh phúc không ở đâu xa mà hiện hữu ngay trong chính người mình yêu. “Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi/ Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi”. Hai câu này thể hiện sự lý tưởng hóa người yêu, đồng thời cho thấy tình yêu đã đạt đến độ thăng hoa, khi cái đẹp tuyệt đối được tìm thấy trong chính con người cụ thể.

Niềm hạnh phúc tưởng như trọn vẹn ấy không kéo dài, mà dần nhường chỗ cho một khoảng lặng cô đơn khi vắng bóng hình “nàng”. “Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu”. Câu thơ này gợi một không gian đẹp, nhẹ, đầy chất mộng, nhưng chính trong cái “phiêu diêu” ấy lại ẩn chứa sự xa vắng, lạc lõng của tâm hồn. Câu hỏi “Sao tôi không màng kêu: em yêu” không phải để hỏi mà là một lời tự vấn, cho thấy cảm xúc đã trở nên tê cứng, không còn thiết tha bộc lộ. Đặc biệt hình ảnh so sánh trong hai câu “Trăng nay không nàng như trăng thiu/ Đêm nay không nàng như đêm hiu” làm nổi bật cảm giác trống vắng, buồn bã của nhân vật trữ tình. Đồng thời, phép so sánh này kết hợp với điệp ngữ “không nàng” còn chuyển hóa ngoại cảnh thành tâm cảnh. Cảnh không còn là cảnh khách quan mà đã nhuốm màu cảm xúc: nỗi cô đơn, nhớ thương lan ra cả không gian, khiến trăng cũng buồn, đêm cũng lạnh. Giờ đây nỗi buồn cũng không còn đứng yên mà bắt đầu chuyển động, len lỏi qua từng cảnh vật, như muốn tìm một nơi trú ngụ. Chính sự lan tỏa ấy đã khiến cảm xúc hóa thành một hành trình, trải dài qua không gian và thời gian, để rồi kết tụ thành một bức tranh thu nhuốm đầy tâm trạng.

Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân

Buồn sang cây tùng thăm đông quân

Ô hay buồn vương cây ngô đồng

Vàng rơi! Vàng rơi: Thu mênh mông.

Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh. Đặc biệt, câu thơ “Ô hay buồn vương cây ngô đồng” vừa như một lời ngạc nhiên, vừa như một tiếng thở dài nhận ra nỗi buồn đã neo đậu. Hai tiếng kêu “Vàng rơi! Vàng rơi:” ở câu cuối tạo nhịp gấp, gợi những chiếc lá thu rơi liên tiếp, đồng thời làm bật lên âm thanh của sự tàn phai. Và rồi Bích Khê đã khép lại bài thơ bằng một không gian rộng lớn “Thu mênh mông” nhưng trống vắng, nơi nỗi buồn đã hòa tan vào cảnh sắc.

Có thể nói bài thơ “Tỳ bà” của Bích Khê không chỉ là một bức tranh giao hòa giữa âm nhạc và thơ ca, mà còn là minh chứng cho sức sáng tạo táo bạo của Thơ mới. Với nghệ thuật cắt dán giàu tính tượng trưng, siêu thực, hệ thống hình ảnh huyền ảo, và đặc biệt là việc sử dụng toàn vần bằng, “Tỳ bà” đã tạo nên một âm hưởng êm dịu, miên man như tiếng đàn tỳ bà ngân dài trong đêm vắng. Chính sự dìu dặt ấy đã khiến nỗi nhớ, nỗi buồn và khát vọng giao cảm trở nên tinh tế, sâu lắng hơn. Vượt lên giới hạn của một thi phẩm mang dấu ấn cá nhân, “Tỳ bà” vẫn giữ nguyên sức hấp dẫn qua thời gian, như một bản đàn không tắt, càng ngân lên càng thấm sâu vào lòng người đọc nhiều thế hệ.                                                                                 

P.V.H

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm