TIN TỨC

Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-04-15 18:18:02
mail facebook google pos stwis
843 lượt xem

TRẦN MẠNH HẢO

Tôi thích bài thơ “Chị” của nhà thơ Đinh Nho Tuấn:

Hoa xoan

Tí tắc nở

Chị tôi

Lý lắc rơi

Hoa xoan màu tím

Chị tôi màu gì?

 

Chị tôi màu bụi tre nghẹt thở

Chị tôi màu tiếng đói bụng cuốc hè

Chẳng có đường lông ngỗng cho chị đi về

Chị đi theo khóm cà

Chị đi theo tiếng tắc kè trong vườn tối

Chị đi theo tiếng con trẻ ê a trên khoảnh sân nhà

 

Duyên tình chơi trò trà trộn

Lấy chồng thương dép giày vẹt mòn

Thương lò xo yên xe bung lên bung xuống

Đêm đêm nằm nghe tiếng cuốc kêu bỏ vợ

Đêm đêm nằm nghe lũ gà mái chồn chân khiếp chồng

Chị treo mùa đông trước hiên nhà

Ai vào cũng cóng

Chị lí lắc rơi

Nào đâu tiếng động.

(Rút trong tập “Díu dan với núi sông” của Đinh Nho Tuấn)
 

Minh họa: AI.

Mỗi người có cách tạo ra thơ hay bằng lối riêng của mình. Mỗi bài thơ hay có cách hay riêng của nó. Thơ hay, đôi khi như người đàn bà đẹp. Mỗi cô, mỗi bà có cách đẹp của riêng mình. Có cô gái nhìn thoáng rất xinh, nhưng nhìn lâu không còn đẹp nữa. Có cô nhìn thoáng không gây ấn tượng gì, nhưng gây ám ảnh vì duyên ngầm; hình như có cái đẹp hình thức và có cái đẹp tự tâm, tại tâm?

Trong lịch sử văn học Việt Nam và thế giới, rất ít bài thơ hay toàn bích cả nội dung lẫn hình thức.

Bài thơ “Chị” của nhà thơ Đinh Nho Tuấn dẫn trên với tôi hay, vì nó làm tôi cảm động và tràn đầy mến thương của một người chưa từng có chị ruột, của một thời nghèo nàn về vật chất và buồn đau về tinh thần.

Nhà thơ Đinh Nho Tuấn sinh ra ở quê hương Hà Tĩnh năm 1966 (cũng là quê hương thi ca của các thiên tài thơ: Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Huy Tự, Huy Cận, Xuân Diệu); khi ấy tôi - người viết bài này - đã đi B vào chiến trường Nam Bộ. Phải nói, những năm ấy cho tới năm 1986 miền Bắc san sẻ lương thực cho các chiến trường nên đói khổ vô cùng. Nguyễn Trọng Tạo bảo tôi, mình đói quá nên mới xin đi bộ đội để may ra có một bữa cơm no. Tôi có thể cá với mọi người, ai chưa có một tuổi thơ cơ cực, người đó khó có thể thành nhà thơ!

Đinh Nho Tuấn, dù con một nhà báo nổi tiếng ở Hà Tĩnh, nhưng chắc anh cũng có tuổi thơ đói rét như tuổi thơ của thế hệ chúng tôi, nên mới có thể làm tôi cảm động khi anh viết bài thơ “Chị”:

“Hoa xoan tí tắc nở

Chị tôi

Lí lắc rơi”

 

Tôi xin ngẫu hứng một tẹo lục bát : “Chị tôi là chị tôi ơi / Như hoa, chị lí lắc rơi một mình”. “Lí lắc rơi”, chị vừa rơi vừa điệu: “điệu rơi điệu rụng”…Thơ phải chăng cũng học cách rơi của hoa xoan tim tím, học cách rơi của chị: vừa rơi vừa đẹp, vừa rơi vừa làm duyên, lí la lí lắc. Cuộc đời chị nói cho cùng là một cuộc rơi. Lông gà, lông chim rơi lên, hoa xoan và chị cùng rơi…xuống thơ Đinh Nho Tuấn.

“ Chị tôi màu bụi tre nghẹt thở

Chị tôi màu tiếng đói bụng cuốc hè

Chẳng có đường lông ngỗng cho chị về

Chị đi theo khóm cà

Chị đi theo tiếng tắc kè trong vườn tối …”

Những câu thơ rơm rớm tình chị em, rơm rớm tình thương mến tả thực. Thơ tìm thực trong siêu và tìm siêu trong thực.

“Chị tôi màu bụi tre nghẹt thở”: câu thơ nửa thực nửa hư. Ai biết chỉ dùm tôi với: “màu bụi tre nghẹt thở” là màu gì vậy? A ha ha, thơ mà nói toẹt ra bụi tre màu xanh ông nhá, thì ai còn cần tới nhà thơ nữa. Nhưng bụi tre khi im gió, nó đứng yên một dáng RŨ mà không có RƯỢI (mát rượi, mát rười rượi), im như chết, như bụi tre cũng nghẹt thở rồi, nhường tí ti dưỡng khí cho câu thơ thở đấy. “Chị tôi màu bụi tre nghẹt thở” là một câu thơ tả thực mà rất siêu thực vậy!

“Chị tôi màu tiếng đói bụng cuốc hè” câu thơ này cũng tả thực một cách rất siêu. “Màu tiếng đói bụng cuốc hè” là màu gì ông Tuấn? Chừng như câu này viết theo phương pháp “đáy đĩa” của Nguyễn Xuân Xanh xưa“ Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà”. Đây là một câu thơ rất hay của nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh xưa đã bị nền giáo dục thực dụng suốt 60 năm chê là câu thơ dở vì vô nghĩa. Oan cho thi sĩ Nguyễn Xuân Xanh quá. Đây là một câu thơ tả thực rất hay: trái cây bốn mùa bày trên chiếc đĩa nhịp núi sông: mùa nào trái ấy.

“Chị tôi màu tiếng đói bụng cuốc hè” của Đinh Nho Tuấn nếu diễn thực ra thì nó là màu đen: “Màu tiếng đói bụng cuốc hè”. Cuốc ơi, mày kêu đêm làm gì nhiều thế, mày đánh thức chị tao dậy trong đêm bao lần, dậy lần nào cũng đói, nhìn trần nhà lần nào cũng đen. Chao ôi là đời chị, như hoa xoan rụng vào đêm tiếng cuốc, đói quá thức dậy chỉ thấy màu đêm đen như đang nuốt sống chị tôi.

Hãy đọc tiếp bài thơ “Chị” của Đinh Nho Tuấn :

Lấy chồng thương giày dép vẹt mòn

Thương lò xo yên xe bung lên bung xuống

Đêm đêm nằm nghe tiếng cuốc kêu bỏ vợ

Đêm đêm nằm nghe lũ gà mái chồn chân khiếp chồng.

Bốn câu thơ tả thực tuyệt hay viết về số phận hẩm hiu buồn đau của người chị. Người chồng này hình như cũng không hơn gì“Giày dép vẹt mòn”, không hơn gì “Lò xo yên xe bung lên bung xuống”. Chao ôi là “Tiếng cuốc kêu bỏ vợ”. Vợ cuối cùng nào khác giày dép vẹt mòn mà đêm đêm hẩm hiu nghe tiếng cuốc kêu bỏ vợ. Bỏ thì bỏ, sợ gì, khi đời chị không còn chỗ nào để rơi xuống nữa. Nằm đêm không thương mình, chị chỉ thương bầy gà mái đêm trong chuồng chồn chân khiếp chồng thôi. ..

Thương thay những bà chị xưa như con gà mái chồn chân khiếp chồng trong chuồng đời chật hẹp. Và thương thay những hồn thơ vừa viết vừa run, khiếp đời mà không dám kêu lên mình khiếp, lại làm như ta đây cả đời không có ai ăn hiếp (bắt nạt) vậy!

T.M.H.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm