TIN TỨC

Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-04-15 18:18:02
mail facebook google pos stwis
118 lượt xem

TRẦN MẠNH HẢO

Tôi thích bài thơ “Chị” của nhà thơ Đinh Nho Tuấn:

Hoa xoan

Tí tắc nở

Chị tôi

Lý lắc rơi

Hoa xoan màu tím

Chị tôi màu gì?

 

Chị tôi màu bụi tre nghẹt thở

Chị tôi màu tiếng đói bụng cuốc hè

Chẳng có đường lông ngỗng cho chị đi về

Chị đi theo khóm cà

Chị đi theo tiếng tắc kè trong vườn tối

Chị đi theo tiếng con trẻ ê a trên khoảnh sân nhà

 

Duyên tình chơi trò trà trộn

Lấy chồng thương dép giày vẹt mòn

Thương lò xo yên xe bung lên bung xuống

Đêm đêm nằm nghe tiếng cuốc kêu bỏ vợ

Đêm đêm nằm nghe lũ gà mái chồn chân khiếp chồng

Chị treo mùa đông trước hiên nhà

Ai vào cũng cóng

Chị lí lắc rơi

Nào đâu tiếng động.

(Rút trong tập “Díu dan với núi sông” của Đinh Nho Tuấn)
 

Minh họa: AI.

Mỗi người có cách tạo ra thơ hay bằng lối riêng của mình. Mỗi bài thơ hay có cách hay riêng của nó. Thơ hay, đôi khi như người đàn bà đẹp. Mỗi cô, mỗi bà có cách đẹp của riêng mình. Có cô gái nhìn thoáng rất xinh, nhưng nhìn lâu không còn đẹp nữa. Có cô nhìn thoáng không gây ấn tượng gì, nhưng gây ám ảnh vì duyên ngầm; hình như có cái đẹp hình thức và có cái đẹp tự tâm, tại tâm?

Trong lịch sử văn học Việt Nam và thế giới, rất ít bài thơ hay toàn bích cả nội dung lẫn hình thức.

Bài thơ “Chị” của nhà thơ Đinh Nho Tuấn dẫn trên với tôi hay, vì nó làm tôi cảm động và tràn đầy mến thương của một người chưa từng có chị ruột, của một thời nghèo nàn về vật chất và buồn đau về tinh thần.

Nhà thơ Đinh Nho Tuấn sinh ra ở quê hương Hà Tĩnh năm 1966 (cũng là quê hương thi ca của các thiên tài thơ: Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Huy Tự, Huy Cận, Xuân Diệu); khi ấy tôi - người viết bài này - đã đi B vào chiến trường Nam Bộ. Phải nói, những năm ấy cho tới năm 1986 miền Bắc san sẻ lương thực cho các chiến trường nên đói khổ vô cùng. Nguyễn Trọng Tạo bảo tôi, mình đói quá nên mới xin đi bộ đội để may ra có một bữa cơm no. Tôi có thể cá với mọi người, ai chưa có một tuổi thơ cơ cực, người đó khó có thể thành nhà thơ!

Đinh Nho Tuấn, dù con một nhà báo nổi tiếng ở Hà Tĩnh, nhưng chắc anh cũng có tuổi thơ đói rét như tuổi thơ của thế hệ chúng tôi, nên mới có thể làm tôi cảm động khi anh viết bài thơ “Chị”:

“Hoa xoan tí tắc nở

Chị tôi

Lí lắc rơi”

 

Tôi xin ngẫu hứng một tẹo lục bát : “Chị tôi là chị tôi ơi / Như hoa, chị lí lắc rơi một mình”. “Lí lắc rơi”, chị vừa rơi vừa điệu: “điệu rơi điệu rụng”…Thơ phải chăng cũng học cách rơi của hoa xoan tim tím, học cách rơi của chị: vừa rơi vừa đẹp, vừa rơi vừa làm duyên, lí la lí lắc. Cuộc đời chị nói cho cùng là một cuộc rơi. Lông gà, lông chim rơi lên, hoa xoan và chị cùng rơi…xuống thơ Đinh Nho Tuấn.

“ Chị tôi màu bụi tre nghẹt thở

Chị tôi màu tiếng đói bụng cuốc hè

Chẳng có đường lông ngỗng cho chị về

Chị đi theo khóm cà

Chị đi theo tiếng tắc kè trong vườn tối …”

Những câu thơ rơm rớm tình chị em, rơm rớm tình thương mến tả thực. Thơ tìm thực trong siêu và tìm siêu trong thực.

“Chị tôi màu bụi tre nghẹt thở”: câu thơ nửa thực nửa hư. Ai biết chỉ dùm tôi với: “màu bụi tre nghẹt thở” là màu gì vậy? A ha ha, thơ mà nói toẹt ra bụi tre màu xanh ông nhá, thì ai còn cần tới nhà thơ nữa. Nhưng bụi tre khi im gió, nó đứng yên một dáng RŨ mà không có RƯỢI (mát rượi, mát rười rượi), im như chết, như bụi tre cũng nghẹt thở rồi, nhường tí ti dưỡng khí cho câu thơ thở đấy. “Chị tôi màu bụi tre nghẹt thở” là một câu thơ tả thực mà rất siêu thực vậy!

“Chị tôi màu tiếng đói bụng cuốc hè” câu thơ này cũng tả thực một cách rất siêu. “Màu tiếng đói bụng cuốc hè” là màu gì ông Tuấn? Chừng như câu này viết theo phương pháp “đáy đĩa” của Nguyễn Xuân Xanh xưa“ Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà”. Đây là một câu thơ rất hay của nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh xưa đã bị nền giáo dục thực dụng suốt 60 năm chê là câu thơ dở vì vô nghĩa. Oan cho thi sĩ Nguyễn Xuân Xanh quá. Đây là một câu thơ tả thực rất hay: trái cây bốn mùa bày trên chiếc đĩa nhịp núi sông: mùa nào trái ấy.

“Chị tôi màu tiếng đói bụng cuốc hè” của Đinh Nho Tuấn nếu diễn thực ra thì nó là màu đen: “Màu tiếng đói bụng cuốc hè”. Cuốc ơi, mày kêu đêm làm gì nhiều thế, mày đánh thức chị tao dậy trong đêm bao lần, dậy lần nào cũng đói, nhìn trần nhà lần nào cũng đen. Chao ôi là đời chị, như hoa xoan rụng vào đêm tiếng cuốc, đói quá thức dậy chỉ thấy màu đêm đen như đang nuốt sống chị tôi.

Hãy đọc tiếp bài thơ “Chị” của Đinh Nho Tuấn :

Lấy chồng thương giày dép vẹt mòn

Thương lò xo yên xe bung lên bung xuống

Đêm đêm nằm nghe tiếng cuốc kêu bỏ vợ

Đêm đêm nằm nghe lũ gà mái chồn chân khiếp chồng.

Bốn câu thơ tả thực tuyệt hay viết về số phận hẩm hiu buồn đau của người chị. Người chồng này hình như cũng không hơn gì“Giày dép vẹt mòn”, không hơn gì “Lò xo yên xe bung lên bung xuống”. Chao ôi là “Tiếng cuốc kêu bỏ vợ”. Vợ cuối cùng nào khác giày dép vẹt mòn mà đêm đêm hẩm hiu nghe tiếng cuốc kêu bỏ vợ. Bỏ thì bỏ, sợ gì, khi đời chị không còn chỗ nào để rơi xuống nữa. Nằm đêm không thương mình, chị chỉ thương bầy gà mái đêm trong chuồng chồn chân khiếp chồng thôi. ..

Thương thay những bà chị xưa như con gà mái chồn chân khiếp chồng trong chuồng đời chật hẹp. Và thương thay những hồn thơ vừa viết vừa run, khiếp đời mà không dám kêu lên mình khiếp, lại làm như ta đây cả đời không có ai ăn hiếp (bắt nạt) vậy!

T.M.H.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm