TIN TỨC

Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-04-15 18:18:02
mail facebook google pos stwis
927 lượt xem

TRẦN MẠNH HẢO

Tôi thích bài thơ “Chị” của nhà thơ Đinh Nho Tuấn:

Hoa xoan

Tí tắc nở

Chị tôi

Lý lắc rơi

Hoa xoan màu tím

Chị tôi màu gì?

 

Chị tôi màu bụi tre nghẹt thở

Chị tôi màu tiếng đói bụng cuốc hè

Chẳng có đường lông ngỗng cho chị đi về

Chị đi theo khóm cà

Chị đi theo tiếng tắc kè trong vườn tối

Chị đi theo tiếng con trẻ ê a trên khoảnh sân nhà

 

Duyên tình chơi trò trà trộn

Lấy chồng thương dép giày vẹt mòn

Thương lò xo yên xe bung lên bung xuống

Đêm đêm nằm nghe tiếng cuốc kêu bỏ vợ

Đêm đêm nằm nghe lũ gà mái chồn chân khiếp chồng

Chị treo mùa đông trước hiên nhà

Ai vào cũng cóng

Chị lí lắc rơi

Nào đâu tiếng động.

(Rút trong tập “Díu dan với núi sông” của Đinh Nho Tuấn)
 

Minh họa: AI.

Mỗi người có cách tạo ra thơ hay bằng lối riêng của mình. Mỗi bài thơ hay có cách hay riêng của nó. Thơ hay, đôi khi như người đàn bà đẹp. Mỗi cô, mỗi bà có cách đẹp của riêng mình. Có cô gái nhìn thoáng rất xinh, nhưng nhìn lâu không còn đẹp nữa. Có cô nhìn thoáng không gây ấn tượng gì, nhưng gây ám ảnh vì duyên ngầm; hình như có cái đẹp hình thức và có cái đẹp tự tâm, tại tâm?

Trong lịch sử văn học Việt Nam và thế giới, rất ít bài thơ hay toàn bích cả nội dung lẫn hình thức.

Bài thơ “Chị” của nhà thơ Đinh Nho Tuấn dẫn trên với tôi hay, vì nó làm tôi cảm động và tràn đầy mến thương của một người chưa từng có chị ruột, của một thời nghèo nàn về vật chất và buồn đau về tinh thần.

Nhà thơ Đinh Nho Tuấn sinh ra ở quê hương Hà Tĩnh năm 1966 (cũng là quê hương thi ca của các thiên tài thơ: Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Huy Tự, Huy Cận, Xuân Diệu); khi ấy tôi - người viết bài này - đã đi B vào chiến trường Nam Bộ. Phải nói, những năm ấy cho tới năm 1986 miền Bắc san sẻ lương thực cho các chiến trường nên đói khổ vô cùng. Nguyễn Trọng Tạo bảo tôi, mình đói quá nên mới xin đi bộ đội để may ra có một bữa cơm no. Tôi có thể cá với mọi người, ai chưa có một tuổi thơ cơ cực, người đó khó có thể thành nhà thơ!

Đinh Nho Tuấn, dù con một nhà báo nổi tiếng ở Hà Tĩnh, nhưng chắc anh cũng có tuổi thơ đói rét như tuổi thơ của thế hệ chúng tôi, nên mới có thể làm tôi cảm động khi anh viết bài thơ “Chị”:

“Hoa xoan tí tắc nở

Chị tôi

Lí lắc rơi”

 

Tôi xin ngẫu hứng một tẹo lục bát : “Chị tôi là chị tôi ơi / Như hoa, chị lí lắc rơi một mình”. “Lí lắc rơi”, chị vừa rơi vừa điệu: “điệu rơi điệu rụng”…Thơ phải chăng cũng học cách rơi của hoa xoan tim tím, học cách rơi của chị: vừa rơi vừa đẹp, vừa rơi vừa làm duyên, lí la lí lắc. Cuộc đời chị nói cho cùng là một cuộc rơi. Lông gà, lông chim rơi lên, hoa xoan và chị cùng rơi…xuống thơ Đinh Nho Tuấn.

“ Chị tôi màu bụi tre nghẹt thở

Chị tôi màu tiếng đói bụng cuốc hè

Chẳng có đường lông ngỗng cho chị về

Chị đi theo khóm cà

Chị đi theo tiếng tắc kè trong vườn tối …”

Những câu thơ rơm rớm tình chị em, rơm rớm tình thương mến tả thực. Thơ tìm thực trong siêu và tìm siêu trong thực.

“Chị tôi màu bụi tre nghẹt thở”: câu thơ nửa thực nửa hư. Ai biết chỉ dùm tôi với: “màu bụi tre nghẹt thở” là màu gì vậy? A ha ha, thơ mà nói toẹt ra bụi tre màu xanh ông nhá, thì ai còn cần tới nhà thơ nữa. Nhưng bụi tre khi im gió, nó đứng yên một dáng RŨ mà không có RƯỢI (mát rượi, mát rười rượi), im như chết, như bụi tre cũng nghẹt thở rồi, nhường tí ti dưỡng khí cho câu thơ thở đấy. “Chị tôi màu bụi tre nghẹt thở” là một câu thơ tả thực mà rất siêu thực vậy!

“Chị tôi màu tiếng đói bụng cuốc hè” câu thơ này cũng tả thực một cách rất siêu. “Màu tiếng đói bụng cuốc hè” là màu gì ông Tuấn? Chừng như câu này viết theo phương pháp “đáy đĩa” của Nguyễn Xuân Xanh xưa“ Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà”. Đây là một câu thơ rất hay của nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh xưa đã bị nền giáo dục thực dụng suốt 60 năm chê là câu thơ dở vì vô nghĩa. Oan cho thi sĩ Nguyễn Xuân Xanh quá. Đây là một câu thơ tả thực rất hay: trái cây bốn mùa bày trên chiếc đĩa nhịp núi sông: mùa nào trái ấy.

“Chị tôi màu tiếng đói bụng cuốc hè” của Đinh Nho Tuấn nếu diễn thực ra thì nó là màu đen: “Màu tiếng đói bụng cuốc hè”. Cuốc ơi, mày kêu đêm làm gì nhiều thế, mày đánh thức chị tao dậy trong đêm bao lần, dậy lần nào cũng đói, nhìn trần nhà lần nào cũng đen. Chao ôi là đời chị, như hoa xoan rụng vào đêm tiếng cuốc, đói quá thức dậy chỉ thấy màu đêm đen như đang nuốt sống chị tôi.

Hãy đọc tiếp bài thơ “Chị” của Đinh Nho Tuấn :

Lấy chồng thương giày dép vẹt mòn

Thương lò xo yên xe bung lên bung xuống

Đêm đêm nằm nghe tiếng cuốc kêu bỏ vợ

Đêm đêm nằm nghe lũ gà mái chồn chân khiếp chồng.

Bốn câu thơ tả thực tuyệt hay viết về số phận hẩm hiu buồn đau của người chị. Người chồng này hình như cũng không hơn gì“Giày dép vẹt mòn”, không hơn gì “Lò xo yên xe bung lên bung xuống”. Chao ôi là “Tiếng cuốc kêu bỏ vợ”. Vợ cuối cùng nào khác giày dép vẹt mòn mà đêm đêm hẩm hiu nghe tiếng cuốc kêu bỏ vợ. Bỏ thì bỏ, sợ gì, khi đời chị không còn chỗ nào để rơi xuống nữa. Nằm đêm không thương mình, chị chỉ thương bầy gà mái đêm trong chuồng chồn chân khiếp chồng thôi. ..

Thương thay những bà chị xưa như con gà mái chồn chân khiếp chồng trong chuồng đời chật hẹp. Và thương thay những hồn thơ vừa viết vừa run, khiếp đời mà không dám kêu lên mình khiếp, lại làm như ta đây cả đời không có ai ăn hiếp (bắt nạt) vậy!

T.M.H.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm