TIN TỨC

Trần Hạ Vi và hành trình nỗi nhớ

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-09-06 17:45:04
mail facebook google pos stwis
80 lượt xem

NGÔ ĐỨC HÀNH

Phiến hạ là tập thơ thứ 3 của Trần Hạ Vi. Là người quan tâm đến đời sống văn học, tác giả và tác phẩm, nên trong những người Việt sống và viết ở hải ngoại, tôi khá quan tâm đến các tác giả như Trương Anh Tú (Đức), Võ Thị Như Mai (Úc) và Trần Hạ Vi (Canada). Vì thế, tôi tìm đọc Phiến hạ.

Tập thơ Phiến hạ của Trần Hạ Vi.

Đọc Trần Hạ Vi từ Lật tung miền ký ức, NXB Hội Nhà văn năm 2017; Vi, NXB Hội Nhà văn năm 2020; Phiến hạ, NXB Hội Nhà văn năm 2024, tôi nhận ra một “chân lý đời sống”: Ký ức có sức sống bền lâu, và không ai có thể viết lại.

Tất cả cảm hứng thi ca đều chỉ là giải mã những giấc mơ”, Hans Sachs (1494 –1576) nhà thơ, nhà viết kịch người Đức đã nói câu này. Đọc Phiến hạ, thấy rõ Trần Hạ Vi là người đang “loay hoay” giải mã những giấc mơ về tình yêu và cuộc đời. Các dữ kiện ngôn ngữ trong thơ chị hình thành các kí hiệu có khả năng biểu nghĩa những lát cắt của tâm hồn.

Lâu lâu em cũng muốn phiêu phê / đa đề hóa hạ vi / hạ vi hóa đa đề / vần điệu chắp cánh bay / lên mây / lên mây”;....”thi ca của em / tình yêu của em / ma túy của em / đa đề / hạ vi”, (Ma túy của em). Tôi xem những câu thơ này là “tuyên ngôn”, lý giải vì sao chị tìm đến thơ, bấu víu vào thơ.

Nhà thơ Trần Hạ Vi.

Trần Hạ Vi tên thật là Nguyễn Yến Ngọc, sinh tại An Giang, Việt Nam. Chị từng có 12 năm học tập ở Úc, từ năm 2015 đến nay sống và làm việc tại Canada. Tên Yến Ngọc vốn đã đẹp, sao chị lấy bút danh văn học là Hạ Vi? Giờ Hạ Vi đã trở thành tên gọi của chị ít người còn nhớ đến tên khai sinh. Hẳn chị mong ước, tâm hồn mình luôn rực rỡ, chói chang và khát khao như mùa hè chăng? Điều này cũng có lý nếu để ý đến “vân chữ” trong thơ Trần Hạ Vi. Vân chữ khắc họa nên bản thể, cất lên tiếng nói giới nữ trong thơ. Tập thơ mang tên Phiến hạ - phép tu từ ẩn dụ.

Ta đi tìm ta trong nỗi nhớ / Có màu gì trong gió hay hoang vu / Bồ công anh thả dài chùm cánh trắng phù du / Nghe luân hồi cuộc dâng trong ngập tràn huyết quản”, (Ta đi tìm ta).

Ngôn ngữ của chị có tính đối thoại, tính trình diễn, tính xã hội. Đó là ngôn ngữ của đời sống hôm nay, đầy thân xác, nhưng cao thượng, đáo để, gay cấn, riêng tư. Thơ ấy không đến từ hiểu biết mà đến từ nghi ngờ, tra vấn”, (Nguyễn Đức Tùng). Phiến hạ tạo nên dư ba, được nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu văn học “cất tiếng”, trong đó có những nhà nghiên cứu có tên tuổi như Mai Văn Phấn, nhưng tôi để ý nhận định trên của nhà văn Nguyễn Đức Tùng, hiện sống và viết ở Canada.

Vậy nhà thơ Trần Hạ Vi đã truy vấn như thế nào?

Như đã nói, Phần I của Phiến hạ là 54 bài, đó là 54 lần “tiểu phẫu” ước mơ, khát khao về tình yêu của “nhân vật trữ tình” mang tên Hạ Vi. Trong 54 bài có 9 bài có “chữ” tình trong tên thi phẩm, như: Luận án tình yêu, Tình nhân ơi, Tình ca Nova Scotia, Thơ tình chiều thứ 7, Ảo mê tình, Bài thơ và tình yêu, Đa tình tự cổ, Tình yêu tháng Mười, Khúc hát tình yêu chữ. Các từ khác như yêu, nụ hôn...còn gặp ở nhiều bài thơ khác. Làm phép “thống kê” mini như thế, để thấy rằng, tình yêu với nhiều cung bậc vẽ nên “bản đồ” khao khát của Hạ Vi.

Thường khi viết không ai tuyên bố về giới của mình, nhưng ngôn ngữ, nhịp điệu, ẩn dụ... trong thơ tự nói lên tính giới. Thơ nữ viết về tình yêu của giới nữ, chắc chắn tinh tế hơn thơ giới nam “sắm vai” giới nữ thành nhân vật “em” trong tác phẩm. Thơ, không phải thể loại nào khác, dũng cảm phanh phui tâm hồn, không chấp nhận giả dối như cách nói của nhà văn, nhà thơ Trịnh Bích Ngân. “Thơ đến từ đâu / nếu không phải từ chúng ta?”, (Hạ thương).

Tình yêu là một giá trị trong đời sống con người. Đời người là sự phức cảm, bởi hạnh phúc thì bò như ốc như sên, chỉ nỗi buồn đến thì như điên như dại. Nói thế, để thấy rằng, từ cổ chí kim, đều có thơ trữ tình về tình yêu đôi lứa. Và, dù cho thi ca đi từ truyền thống, vận luật đến hiện đại, hậu hiện đại (kể cả tân hình thức), thể loại nào, thi pháp nào cũng có thơ tình. Trần Hạ Vi viết về tình yêu với cách lập ngôn riêng, mang phong cách của chị.

Trong 54 bài thơ tình của Trần Hạ Vi, tôi để ý đến Luận án tình yêuSở hữu. “Em có thể viết một luận án tiến sĩ / về cuộc đời anh”, (Luận án tình yêu). Người bác sỹ phẫu thuật bệnh nhân có thể bằng dao (bây giờ thêm mổ nội soi) và khâu vết mổ bằng chỉ sinh hoạt; nhưng với Trần Hạ Vi, chị tuyên bố: “Em mổ xẻ anh không cần dao / chỉ dùng mắt / bằng những gì anh viết / bằng những gì anh đọc”.

“.../ Em sẽ viết một luận án tiến sĩ / văn chương / về cuộc đời anh /.../ và khâu liền những vết thương của anh / bằng tình yêu / và / con chữ”, (Luận án tình yêu).

Đã yêu, con người luôn có ý thức chiếm đoạt, ý thức sở hữu. Trong tình yêu chắc gì đã sở hữu được tình yêu đầy đủ, cả thể xác lẫn tâm hồn? “Anh sở hữu một ngôi nhà / Thật ra chỉ là bên trong / Không thể cấm mọi người nhìn ngó / Hình ảnh bị Google earth thu nhỏ / Và gõ cửa thi thoảng / mưa gió”, (Sở hữu).

Rõ ràng hiện sinh khác trừu tượng. Có lẽ vì điều này, chính vì sự bất lực sở hữu cảm xúc, sở hữu tâm hồn mà các nhà thơ sẽ còn viết mãi về tình yêu. Những giọt nước mắt đêm của người đàn bà yêu mãi mãi vẫn không hết rơi như một ẩn số.

Đêm đêm anh vẫn nằm mơ / Trong giấc mơ có một con đường nhỏ / Trên con đường có một chú thỏ / Cuối con đường có một ngôi nhà / Trong đó có một người đàn bà / Của anh / và không phải của anh”, (Sở hữu)

Trong bài thơ “Định nghĩa em” tặng nhà thơ Trần Hạ Vi, tôi có viết: “Người Việt ở đâu cũng vì đất nước / Canada cách nửa vòng trái đất / nhưng trái tim luôn hướng về Tổ quốc / đập nhịp buồn – vui”. Mặc dù sống ở Nova Scotia, Canada, nơi có múi giờ Atlantic (UTC-4 / ADT), chậm hơn Việt Nam 11 giờ mùa đông và 10 giờ mùa hè nhưng trái tim nhà thơ Trần Hạ Vi vẫn “đập nhịp” Việt Nam, canh cánh quê hương. Dòng máu chị thuộc về Việt Nam.

Phiến hạ có bài thơ “Em và Sài Gòn”, “Vườn quê”, hai tiếng Việt Nam vang lên trong bài “Đồng phục thơ”, hình ảnh rơm rạ nhuộm vàng trong “Thanh xuân”... và trong không gian thơ Trần Hạ Vi không thiếu màu sắc, vùi vị, cánh dồng, hoa cỏ...miền châu thổ sông Cửu Long, nơi chị sinh ra và lớn lên.

"Có lẽ rồi / Em sẽ sang thành phố chữ T…"- đây là 2 câu thơ cuối của bài thơ "Em và thành phố chữ V" của Trần Hạ Vi. Đây là một bài thơ tình, lãng mạn nằm trong Phiến hạ. "Em đi lạc giữa thành phố anh / Thành phố chữ V / Như chữ cái đầu tên em / Như chữ cái đầu tên đất nước / Như chữ cái đầu tên ngôn ngữ của chúng ta / của bài thơ này", tác giả bước vào miền mơ tưởng.

Tên chị là Vi, trong cấu tạo âm tiết có phụ âm “V”, Tổ quốc của chị là Việt Nam, “V” là ký tự đầu tiên trong chữ Victory, nghĩa là “chiến thắng”. Hẳn chị không đặt tên thi phẩm ngẫu nhiên?

Trong 7 khổ thơ, toát lên thông điệp nguồn cội. Chị yêu dòng sông chở nặng phù sa ở vùng châu thổ Đồng bằng sông Cửu Long. Ở đó có "Đất trời của chúng ta / Tình yêu của chúng ta / Mưa, nắng của chúng ta", phì nhiêu, phồn thực. Bài thơ “Em và thành phố chữ V” mang đến khóa cảm thẩm mỹ cho người đọc, làm bừng thức cảm xúc đa chiều.

Trần Hạ Vi là “công dân toàn cầu”, giỏi tiếng Anh, nhưng tác phẩm của chị viết bằng tiếng Việt, trong sinh hoạt gia đình chị vẫn dạy con về tiếng Việt. Điều ấy cho thấy chị trân trọng nguồn cội, tâm hồn thơ chị thuộc về ký ức.

 “Cõng mùa” (phần II) của Phiến hạ là 9 bài thơ, tất cả đều lục bát và lục bát biến thể (bài Thanh xuân). Việc lục bát chiếm 11% trong tổng số 81 bài thơ thi pháp hiện đại và hậu hiện đại cho thấy tiếng vọng nguồn cội từ tâm thức. Lục bát là thể thơ truyền thống Việt Nam. Việc một nhà thơ hải ngoại sử dụng thi pháp lục bát nói lên điều gì?

“.../ Thương con câu hát à ơi / Con ươm tuổi trẻ mẹ rơi tuổi già / Thương con buộc tóc treo xà / Mẹ chong đèn đợi bảng khoa danh thành”, (Thương con)

 “Vi và thế giới” (phần III) gồm 18 bài, chủ đề về cuộc đời, nhân sinh. Đây là phần của những bài thơ tự sự về con người, những cuộc chiến phi truyền thống như Đại dịch Covid-19, đến xung đột giữa các quốc gia vì lợi ích địa chính trị, tôn giáo, dân tộc.

Vẫn đấy một Trần Hạ Vi, dẫu ra với thế giới, nhưng tâm hồn thuộc về Đất Mẹ. “Ta đi tìm ta trong ngàn trùng kẻ lạ / Gương mặt nào ta phân hóa điêu linh / Ta đi tìm ta giữa muôn triệu sinh linh / Tiếng gào thét phá vỡ toang lồng ngực”, (Ta đi tìm ta). Đi xa để hiểu gần, sống xa quê mới hiểu về cố quốc.

Chị có những bài thơ như “Viết”, “Bài thơ hoa mai”, “Bài thơ về cuộc chiến”, “Kẻ tử thương trước nhất”, “Thế giới đi qua hồi diệt vong”... chở đầy khát vọng về hòa bình, yên lành, lắng sâu nỗi niềm nhân thế. Người làm thơ thường khó yên ổn về tâm hồn. “Bao nhiêu. món nợ / nhân gian. dụm dành...”, (Nợ), “món nợ” của Trần Hạ Vi phải chăng lè món nợ về cái đẹp, về sự bác ái, sẻ chia?

Trần Hạ Vi là người thành đạt về học vấn, hiện là tiến sĩ ngành Tài chính, hiện là giảng viên tại Đại học Saint Francis Xavier (StFX), thuộc Nova Scotia, Canada. Dẫu vậy, hồn thơ Trần Hạ Vi vẫn là hồn thơ quê nhà “Con thèm một tiếng ầu ơ / Trời trưa nắng võng ngẩn ngơ sau vườn”, (Thèm).

Lời ru à ơi, mảnh vườn quê, và những biểu tượng quê kiểng, cũ càng trong không gian nghệ thuật Trần Hạ Vi trở thành những “sứ giả” văn hóa trong môi trường hội nhập quốc tế. Ở đâu còn tiếng à ơi, ở đó hiện diện Tổ quốc.

Hà Nội, ngày 22/7/2026
N.Đ.H

Bài viết liên quan

Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm