- Lý luận - Phê bình
- Trần Hạ Vi và hành trình nỗi nhớ
Trần Hạ Vi và hành trình nỗi nhớ
NGÔ ĐỨC HÀNH
Phiến hạ là tập thơ thứ 3 của Trần Hạ Vi. Là người quan tâm đến đời sống văn học, tác giả và tác phẩm, nên trong những người Việt sống và viết ở hải ngoại, tôi khá quan tâm đến các tác giả như Trương Anh Tú (Đức), Võ Thị Như Mai (Úc) và Trần Hạ Vi (Canada). Vì thế, tôi tìm đọc Phiến hạ.
.jpg)
Tập thơ Phiến hạ của Trần Hạ Vi.
Đọc Trần Hạ Vi từ Lật tung miền ký ức, NXB Hội Nhà văn năm 2017; Vi, NXB Hội Nhà văn năm 2020; Phiến hạ, NXB Hội Nhà văn năm 2024, tôi nhận ra một “chân lý đời sống”: Ký ức có sức sống bền lâu, và không ai có thể viết lại.
“Tất cả cảm hứng thi ca đều chỉ là giải mã những giấc mơ”, Hans Sachs (1494 –1576) nhà thơ, nhà viết kịch người Đức đã nói câu này. Đọc Phiến hạ, thấy rõ Trần Hạ Vi là người đang “loay hoay” giải mã những giấc mơ về tình yêu và cuộc đời. Các dữ kiện ngôn ngữ trong thơ chị hình thành các kí hiệu có khả năng biểu nghĩa những lát cắt của tâm hồn.
“Lâu lâu em cũng muốn phiêu phê / đa đề hóa hạ vi / hạ vi hóa đa đề / vần điệu chắp cánh bay / lên mây / lên mây”;....”thi ca của em / tình yêu của em / ma túy của em / đa đề / hạ vi”, (Ma túy của em). Tôi xem những câu thơ này là “tuyên ngôn”, lý giải vì sao chị tìm đến thơ, bấu víu vào thơ.
.jpg)
Nhà thơ Trần Hạ Vi.
Trần Hạ Vi tên thật là Nguyễn Yến Ngọc, sinh tại An Giang, Việt Nam. Chị từng có 12 năm học tập ở Úc, từ năm 2015 đến nay sống và làm việc tại Canada. Tên Yến Ngọc vốn đã đẹp, sao chị lấy bút danh văn học là Hạ Vi? Giờ Hạ Vi đã trở thành tên gọi của chị ít người còn nhớ đến tên khai sinh. Hẳn chị mong ước, tâm hồn mình luôn rực rỡ, chói chang và khát khao như mùa hè chăng? Điều này cũng có lý nếu để ý đến “vân chữ” trong thơ Trần Hạ Vi. Vân chữ khắc họa nên bản thể, cất lên tiếng nói giới nữ trong thơ. Tập thơ mang tên Phiến hạ - phép tu từ ẩn dụ.
“Ta đi tìm ta trong nỗi nhớ / Có màu gì trong gió hay hoang vu / Bồ công anh thả dài chùm cánh trắng phù du / Nghe luân hồi cuộc dâng trong ngập tràn huyết quản”, (Ta đi tìm ta).
“Ngôn ngữ của chị có tính đối thoại, tính trình diễn, tính xã hội. Đó là ngôn ngữ của đời sống hôm nay, đầy thân xác, nhưng cao thượng, đáo để, gay cấn, riêng tư. Thơ ấy không đến từ hiểu biết mà đến từ nghi ngờ, tra vấn”, (Nguyễn Đức Tùng). Phiến hạ tạo nên dư ba, được nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu văn học “cất tiếng”, trong đó có những nhà nghiên cứu có tên tuổi như Mai Văn Phấn, nhưng tôi để ý nhận định trên của nhà văn Nguyễn Đức Tùng, hiện sống và viết ở Canada.
Vậy nhà thơ Trần Hạ Vi đã truy vấn như thế nào?
Như đã nói, Phần I của Phiến hạ là 54 bài, đó là 54 lần “tiểu phẫu” ước mơ, khát khao về tình yêu của “nhân vật trữ tình” mang tên Hạ Vi. Trong 54 bài có 9 bài có “chữ” tình trong tên thi phẩm, như: Luận án tình yêu, Tình nhân ơi, Tình ca Nova Scotia, Thơ tình chiều thứ 7, Ảo mê tình, Bài thơ và tình yêu, Đa tình tự cổ, Tình yêu tháng Mười, Khúc hát tình yêu chữ. Các từ khác như yêu, nụ hôn...còn gặp ở nhiều bài thơ khác. Làm phép “thống kê” mini như thế, để thấy rằng, tình yêu với nhiều cung bậc vẽ nên “bản đồ” khao khát của Hạ Vi.
Thường khi viết không ai tuyên bố về giới của mình, nhưng ngôn ngữ, nhịp điệu, ẩn dụ... trong thơ tự nói lên tính giới. Thơ nữ viết về tình yêu của giới nữ, chắc chắn tinh tế hơn thơ giới nam “sắm vai” giới nữ thành nhân vật “em” trong tác phẩm. Thơ, không phải thể loại nào khác, dũng cảm phanh phui tâm hồn, không chấp nhận giả dối như cách nói của nhà văn, nhà thơ Trịnh Bích Ngân. “Thơ đến từ đâu / nếu không phải từ chúng ta?”, (Hạ thương).
Tình yêu là một giá trị trong đời sống con người. Đời người là sự phức cảm, bởi hạnh phúc thì bò như ốc như sên, chỉ nỗi buồn đến thì như điên như dại. Nói thế, để thấy rằng, từ cổ chí kim, đều có thơ trữ tình về tình yêu đôi lứa. Và, dù cho thi ca đi từ truyền thống, vận luật đến hiện đại, hậu hiện đại (kể cả tân hình thức), thể loại nào, thi pháp nào cũng có thơ tình. Trần Hạ Vi viết về tình yêu với cách lập ngôn riêng, mang phong cách của chị.
Trong 54 bài thơ tình của Trần Hạ Vi, tôi để ý đến Luận án tình yêu và Sở hữu. “Em có thể viết một luận án tiến sĩ / về cuộc đời anh”, (Luận án tình yêu). Người bác sỹ phẫu thuật bệnh nhân có thể bằng dao (bây giờ thêm mổ nội soi) và khâu vết mổ bằng chỉ sinh hoạt; nhưng với Trần Hạ Vi, chị tuyên bố: “Em mổ xẻ anh không cần dao / chỉ dùng mắt / bằng những gì anh viết / bằng những gì anh đọc”.
“.../ Em sẽ viết một luận án tiến sĩ / văn chương / về cuộc đời anh /.../ và khâu liền những vết thương của anh / bằng tình yêu / và / con chữ”, (Luận án tình yêu).
Đã yêu, con người luôn có ý thức chiếm đoạt, ý thức sở hữu. Trong tình yêu chắc gì đã sở hữu được tình yêu đầy đủ, cả thể xác lẫn tâm hồn? “Anh sở hữu một ngôi nhà / Thật ra chỉ là bên trong / Không thể cấm mọi người nhìn ngó / Hình ảnh bị Google earth thu nhỏ / Và gõ cửa thi thoảng / mưa gió”, (Sở hữu).
Rõ ràng hiện sinh khác trừu tượng. Có lẽ vì điều này, chính vì sự bất lực sở hữu cảm xúc, sở hữu tâm hồn mà các nhà thơ sẽ còn viết mãi về tình yêu. Những giọt nước mắt đêm của người đàn bà yêu mãi mãi vẫn không hết rơi như một ẩn số.
“Đêm đêm anh vẫn nằm mơ / Trong giấc mơ có một con đường nhỏ / Trên con đường có một chú thỏ / Cuối con đường có một ngôi nhà / Trong đó có một người đàn bà / Của anh / và không phải của anh”, (Sở hữu)
Trong bài thơ “Định nghĩa em” tặng nhà thơ Trần Hạ Vi, tôi có viết: “Người Việt ở đâu cũng vì đất nước / Canada cách nửa vòng trái đất / nhưng trái tim luôn hướng về Tổ quốc / đập nhịp buồn – vui”. Mặc dù sống ở Nova Scotia, Canada, nơi có múi giờ Atlantic (UTC-4 / ADT), chậm hơn Việt Nam 11 giờ mùa đông và 10 giờ mùa hè nhưng trái tim nhà thơ Trần Hạ Vi vẫn “đập nhịp” Việt Nam, canh cánh quê hương. Dòng máu chị thuộc về Việt Nam.
Ở Phiến hạ có bài thơ “Em và Sài Gòn”, “Vườn quê”, hai tiếng Việt Nam vang lên trong bài “Đồng phục thơ”, hình ảnh rơm rạ nhuộm vàng trong “Thanh xuân”... và trong không gian thơ Trần Hạ Vi không thiếu màu sắc, vùi vị, cánh dồng, hoa cỏ...miền châu thổ sông Cửu Long, nơi chị sinh ra và lớn lên.
"Có lẽ rồi / Em sẽ sang thành phố chữ T…"- đây là 2 câu thơ cuối của bài thơ "Em và thành phố chữ V" của Trần Hạ Vi. Đây là một bài thơ tình, lãng mạn nằm trong Phiến hạ. "Em đi lạc giữa thành phố anh / Thành phố chữ V / Như chữ cái đầu tên em / Như chữ cái đầu tên đất nước / Như chữ cái đầu tên ngôn ngữ của chúng ta / của bài thơ này", tác giả bước vào miền mơ tưởng.
Tên chị là Vi, trong cấu tạo âm tiết có phụ âm “V”, Tổ quốc của chị là Việt Nam, “V” là ký tự đầu tiên trong chữ Victory, nghĩa là “chiến thắng”. Hẳn chị không đặt tên thi phẩm ngẫu nhiên?
Trong 7 khổ thơ, toát lên thông điệp nguồn cội. Chị yêu dòng sông chở nặng phù sa ở vùng châu thổ Đồng bằng sông Cửu Long. Ở đó có "Đất trời của chúng ta / Tình yêu của chúng ta / Mưa, nắng của chúng ta", phì nhiêu, phồn thực. Bài thơ “Em và thành phố chữ V” mang đến khóa cảm thẩm mỹ cho người đọc, làm bừng thức cảm xúc đa chiều.
Trần Hạ Vi là “công dân toàn cầu”, giỏi tiếng Anh, nhưng tác phẩm của chị viết bằng tiếng Việt, trong sinh hoạt gia đình chị vẫn dạy con về tiếng Việt. Điều ấy cho thấy chị trân trọng nguồn cội, tâm hồn thơ chị thuộc về ký ức.
“Cõng mùa” (phần II) của Phiến hạ là 9 bài thơ, tất cả đều lục bát và lục bát biến thể (bài Thanh xuân). Việc lục bát chiếm 11% trong tổng số 81 bài thơ thi pháp hiện đại và hậu hiện đại cho thấy tiếng vọng nguồn cội từ tâm thức. Lục bát là thể thơ truyền thống Việt Nam. Việc một nhà thơ hải ngoại sử dụng thi pháp lục bát nói lên điều gì?
“.../ Thương con câu hát à ơi / Con ươm tuổi trẻ mẹ rơi tuổi già / Thương con buộc tóc treo xà / Mẹ chong đèn đợi bảng khoa danh thành”, (Thương con)
“Vi và thế giới” (phần III) gồm 18 bài, chủ đề về cuộc đời, nhân sinh. Đây là phần của những bài thơ tự sự về con người, những cuộc chiến phi truyền thống như Đại dịch Covid-19, đến xung đột giữa các quốc gia vì lợi ích địa chính trị, tôn giáo, dân tộc.
Vẫn đấy một Trần Hạ Vi, dẫu ra với thế giới, nhưng tâm hồn thuộc về Đất Mẹ. “Ta đi tìm ta trong ngàn trùng kẻ lạ / Gương mặt nào ta phân hóa điêu linh / Ta đi tìm ta giữa muôn triệu sinh linh / Tiếng gào thét phá vỡ toang lồng ngực”, (Ta đi tìm ta). Đi xa để hiểu gần, sống xa quê mới hiểu về cố quốc.
Chị có những bài thơ như “Viết”, “Bài thơ hoa mai”, “Bài thơ về cuộc chiến”, “Kẻ tử thương trước nhất”, “Thế giới đi qua hồi diệt vong”... chở đầy khát vọng về hòa bình, yên lành, lắng sâu nỗi niềm nhân thế. Người làm thơ thường khó yên ổn về tâm hồn. “Bao nhiêu. món nợ / nhân gian. dụm dành...”, (Nợ), “món nợ” của Trần Hạ Vi phải chăng lè món nợ về cái đẹp, về sự bác ái, sẻ chia?
Trần Hạ Vi là người thành đạt về học vấn, hiện là tiến sĩ ngành Tài chính, hiện là giảng viên tại Đại học Saint Francis Xavier (StFX), thuộc Nova Scotia, Canada. Dẫu vậy, hồn thơ Trần Hạ Vi vẫn là hồn thơ quê nhà “Con thèm một tiếng ầu ơ / Trời trưa nắng võng ngẩn ngơ sau vườn”, (Thèm).
Lời ru à ơi, mảnh vườn quê, và những biểu tượng quê kiểng, cũ càng trong không gian nghệ thuật Trần Hạ Vi trở thành những “sứ giả” văn hóa trong môi trường hội nhập quốc tế. Ở đâu còn tiếng à ơi, ở đó hiện diện Tổ quốc.
Hà Nội, ngày 22/7/2026
N.Đ.H